Bản án số 130/2019/HSST ngày 18/09/2019 của TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 130/2019/HSST

Tên Bản án: Bản án số 130/2019/HSST ngày 18/09/2019 của TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Lạt (TAND tỉnh Lâm Đồng)
Số hiệu: 130/2019/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG
*******
Bản án số: 130/2019/HSST
Ngày : 18/9/2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông MAI PHÚ
2/. Ông PHẠM VĂN TUYÊN
- Thư phiên tòa: Ông TRẦN THANH TÀI - Thư Tòa án nhân dân thành phố Đà
Lạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà NGUYỄN THỊ NGUYỆT - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 18 tháng 9 m 2019. Tại Tr sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt,
Lâm Đồng, xét xử thẩm, công khai vụ án hình sự thụ số 117/2019/HSST ngày 21 tháng
8 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/QĐ-HSST ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối
với các bị cáo:
1/ Họ tên: PHẠM VĂN A. Sinh ngày 24 tháng 5 năm 1994. Nơi sinh: Yên Bái.
Nơi ĐKNKTT: Thôn C, K, huyện Y, Yên Bái. Ch : Không nơi nhất định. Nghề
nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Con ông: Phạm Văn Tính, sinh năm 1970; Con
bà: Thị Huệ, sinh m 1971. Hiện tại: Thôn C, K, huyện Y, Yên Bái. Bị cáo chưa
vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 115/2010 ngày 23/12/2010 của
Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, Nghệ An xử phạt 09 tháng về tội “Trộm cắp tài
sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/9/2011. Bị bắt ngày 28/4/2019. Hiện đang bị tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.
2/ Họ tên: ĐẶNG VĂN H. Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1992. Nơi sinh: Nội.
Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã T, huyện X Thành phố Nội. Chỗ ở: 71 C6 - Đường X, Phường
T, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng (nhà trọ). Nghề nghiệp: Sửa xe máy. Trình độ học vấn: Lớp
12/12. Con ông: Đặng Văn Cam, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị Huề, sinh năm 1973.
Vợ: Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1994, 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016.
Hiện tại: 71 C6 - Đường X, Phường T, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự:
Không. Bị bắt ngày 29/4/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.
Người bị hại:
1/ Anh Đào Công H, sinh năm 1998. Hkhẩu thường trú tại: Thôn 12, Lộc Thành,
huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Vắng mặt.
2/ Anh Trần Kim L, sinh năm 2003. Hkhẩu thường trú tại: Thôn Quảng Hiệp,
Quảng Lập, huyện Đơn Dương, Lâm Đồng. Vắng mặt.
3/ Anh Minh D, sinh năm 1995. Hộ khẩu thường trú tại: 2/14 - Thái Phiên, Phường
12, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. mặt.
4/ Anh Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1996. Hộ khẩu thường trú tại: 54 - Đa Phú,
Phường 7, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.
2
5/ Anh Hoàng Đình H2, sinh năm 1997. Hkhẩu thường trú tại: Tổ B, Phường
M, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.
6/ Chị Trần Thị Ngọc B, sinh năm 2000. Hộ khẩu thường trú tại: Tổ A, Phường MH,
thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.
7/ Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996. Hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, H, huyện
Lâm Hà, Lâm Đồng. mặt.
8/ Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1977. Hộ khẩu thường trú tại: B7 đường D, Phường
MM, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Vắng mặt.
9/ Anh Trần Thanh D, sinh năm 2000. Hộ khẩu thường trú tại: 18D đường T,
Phường C, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Vắng mặt.
10/ Chị Đào Thị Thanh T2, sinh năm 1998. Hkhẩu thường trú tại: 173 thôn A, A,
huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1976. Hkhẩu thường trú tại: đường Q, Phường N, thành
phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Phạm Văn A đã đến bãi xe ở Siêu thị Big C, khu vực Quảng trường
Lâm Viên, Phường 10, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, trộm cắp những xe để tại đây
nhưng không người trông coi rồi đem về phòng trọ đường Nguyễn Đình Quân, Phường
5, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng cất giấu. Sau đó An mtrang Biker Đà Lạt, dùng nick name
“Mon Việt” đăng hình ảnh của xe vừa trộm cắp, sau đó liên hệ với Nick name “Tự hoàn
thiện” của Đặng Văn H một số đối tượng khác để rao bán xe lấy tiền tiêu xài. Mặc biết
xe do Phạm Văn A phạm tội mà có nhưng ham lợi, Đặng Văn H đã 06 lần mua lại xe từ
An để bán lại cho người khác với giá cao hơn để thu lợi bất chính. Cụ thể, trong thời gian từ
tháng 02/2019 đến tháng 4/2019, Phạm Văn A đã thực hiện 10 vụ Trộm cắp xe máy, trên địa
bàn thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 19 giờ ngày 19/02/2019, Phạm Văn A đi xe máy đến Công viên
Yersin để xe tại đây, sau đó An đi bộ đến bãi giữ xe của Siêu thị Big C đường Hồ Tùng
Mậu, Phường 3, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, phát hiện 01 xe tô hiệu HonDa Dream,
biển kiểm soát 49FB-5596 của anh Đào Công H để tại đây, không người trông coi nên đã
lấy trộm chiếc xe này, đem xuống Công viên Yersin đấu nối dây điện rồi khởi động xe, chạy
về phòng trọ đường Nguyễn Đình Quân cất giấu. Sau đó An tháo biển số xe vứt đi rồi lên
mạng thỏa thuận bán xe cho Đặng Văn H với giá 1.000.000 đồng tại cổng Nghĩa trang liệt
sỹ thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Sau khi mua xe của An,H đã bán lại cho một thanh niên
(không rõ lai lịch, địa chỉ) ở Ngã 5 Đại học Đà Lạt với giá 1.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt kết luận: Tài sản trên trị giá 2.400.000 đồng. Quá trình điều tra, quan điều tra không
thu hồi được xe, anh Đào Công H yêu cầu bồi thường 3.000.000 đồng.
Vụ thứ 2: Với thủ đoạn tương tự như vụ trước, vào khoảng 19 giờ 30 ngày 09/3/2019,
Phạm Văn A ra bãi để xe của Siêu thị Big C Đà Lạt, trộm cắp 01 xe mô tô hiệu HonDa Dream
biển kiểm soát 51K1-057.44 của anh Trần Kim L, mang về nhà trọ, tháo biển số xe vứt đi
bán cho Đặng Văn H với giá 2.000.000 đồng tại Vườn hoa thành phố Đà Lạt. Sau khi mua xe
của An, Đặng Văn H đã bán lại chiếc xe này cho một thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại
Ngã 5 Đại học Đà Lạt với giá 2.500.000 đồng.
3
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành
phố Đà Lạt kết luận: Tài sản của anh Trần Kim L bị chiếm đoạt trgiá 9.450.000 đồng. Quá
trình điều tra quan điều tra không thu hồi được xe, anh Trần Kim L yêu cầu bồi thường
13.500.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 19 giờ ngày 13/3/2019, với thủ đoạn tương tự như trên, Phạm Văn
A lấy trộm được 01 xe hiệu HonDa AirBlade biển kiểm soát 49B1-568.42 của anh
Minh D tại Bãi để xe của Siêu thị BigC Đà Lạt. Sau đó An đổi chiếc xe này cho một thanh
niên (không họ tên, địa chỉ) Thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng để lấy 01 xe
hiệu Yamaha Sirius, đầy đủ giấy tờ xe 3.000.000 đồng. Sau đó An bán chiếc xe
Yamaha Sirius này cho Đặng Văn H được 6.000.000 đồng tại cổng Nghĩa trang liệt thành
phố Đà Lạt, m Đồng,H đã bán lại xe cho một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) Cây
xăng Phù Đổng Thiên Vương, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng với giá 7.000.000 đồng.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của anh Lê Minh D bị chiếm đoạt trị giá 28.050.000 đồng.
Quá trình điều tra quan điều tra không thu được xe, anh Dương yêu cầu bồi thường
20.000.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 19 giờ ngày 17/3/2019, An lấy trộm được 01 xe hiệu HonDa
Future Neo biển kiểm soát 49B1-226.25 của anh Nguyễn Quốc H1 để tại Bãi để xe của Siêu
thị BigC Đà Lạt. Sau đó An lên mạng rao bán đã bán được xe cho một thanh niên (không
rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 3.200.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành
phố Đà Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của anh Nguyễn Quốc H1 bị chiếm đoạt trị giá
7.500.000 đồng. Quá trình điều tra quan điều tra không thu giđược xe, anh Huy yêu cầu
bồi thường 15.000.000 đồng.
Vụ thứ 5: Khoảng 19 giờ ngày 08/4/2019, An lấy trộm được 01 xe mô tô hiệu Yamaha
Sirius biển kiểm soát 49N2-6030 của anh Hoàng Đình H2 để tại Bãi để xe của Siêu thị BigC
Đà Lạt. Sau đó An đã bán chiếc xe này cho Đặng Văn H tại cổng Nghĩa trang liệt sĩ thành phố
Đà Lạt, Lâm Đồng với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua xe của An, Đặng Văn H đã bán lại
cho một thanh niên (không họ tên, địa chỉ) tại Ngã ba Đại học Đà Lạt với giá 3.000.000
đồng.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của anh Hoàng Đình H2 bị chiếm đoạt trị giá 5.000.000
đồng, anh Hoàng Đình H2 yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng.
Vụ thứ 6: Khoảng 19 giờ ngày 21/4/2019, An lấy trộm được 01 xe hiệu HonDa
Wave biển kiểm soát 49B1-760.89 của chị Trần Thị Ngọc B tại Bãi đxe của Siêu thị BigC
Đà Lạt. Sau đó An đã bán chiếc xe này cho Đặng Văn H tại cổng Nghĩa trang liệt sĩ thành phố
Đà Lạt, Lâm Đồng với giá 2.200.000 đồng. Sau khi mua xe của An, Đặng Văn H đã bán lại
cho một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) ở thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng được
3.000.000 đồng.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt kết luận: Tài sản của chị Trần Thị Ngọc B bị chiếm đoạt trị giá 16.000.000 đồng, chị Bình
yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng.
Vụ thứ 7: Khoảng 20 giờ ngày 21/4/2019, Phạm Văn A lấy trộm được 01 chiếc xe
hiệu HonDa Future, biển kiểm soát 49M7-4550 của anh Nguyễn Thanh T tại Bãi để xe của
Siêu thị BigC Đà Lạt. Sau đó An đã bán chiếc xe này cho Đặng Văn H tại Cổng Nghĩa trang
liệt thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng giá 3.200.000 đồng. Sau khi mua xe của An,H đã bán lại
cho một thanh niên (không họ tên, địa chỉ) tại thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng với giá
4.000.000 đồng.
4
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành
phố Đà Lạt, Lâm Đồng kết luận: Trị giá tài sản của anh Nguyễn Thanh T bị chiếm đoạt
10.800.000 đồng. Quá trình điều tra chỉ thu giữ được 01 biển số xe 49 M7-4550, không thu
giữ được xe, anh Tú yêu cầu bồi thường 30.000.000 đồng.
Vụ thứ 8: Khoảng 20 giờ 30 ngày 21/4 2019 Phạm Văn A lấy trộm được 01 xe
hiệu HonDa Wave biển kiểm soát 49P3-4446 của anh Phạm Văn T1 tại Bãi để xe của Siêu thị
BigC Đà Lạt. Sau đó An bán chiếc xe này cho Đặng Văn H tại cổng Nghĩa trang liệt thành
phố Đà Lạt, Lâm Đồng với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua xe Đặng Văn H đã lấy biển số xe
49M7-4550 gắn vào chiếc xe này để sử dụng làm phương tiện đi lại.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của anh Phạm Văn T1 bị chiếm đoạt trị giá 9.000.000
đồng.Quá trình điều tra quan điều tra đã thu giữ xe cùng biển số xe 49P3-4446 trả lại
cho anh Tuyền, anh Phạm Văn T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Vụ thứ 9: Khoảng 19 giờ ngày 26/4/2019, Phạm Văn A lấy trộm 01 xe hiệu
HonDa Wave Blade biển kiểm soát 49 B1-741.97 của anh Trần Thanh D tại Bãi đxe của
Siêu thị BigC Đà Lạt. Sau đó An tháo biển số vứt đi và bán lại cho chị Nguyễn Thị Liên ở gần
phòng trọ với An giá 4.000.000 đồng.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của anh Trần Thanh D bị chiếm đoạt trị giá 19.800.000 đồng.
Quá trình điều tra quan điều tra đã thu giữ xe trả lại cho anh Trần Thanh D, anh Danh
không yêu cầu bồi thường thêm. Chị Nguyễn Thị Liên người mua xe đã giao nộp xe cho
quan điều tra để trả lại cho người bị hại. Chị Liên yêu cầu bị cáo phải bồi thường
4.000.000 đồng.
Vụ thứ 10: Khoảng 19 giờ 30 ngày 28/4/2019, An tiếp tục ra Bãi để xe của Siêu thị
BigC Đà Lạt, lấy trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 49E1-569.64 của
chị Đào Thị Thanh T2 dắt xe xuống Công viên Yersin gần đó thì bị người dân lực
lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà
Lạt, Lâm Đồng kết luận: Tài sản của chị Đào Thị Thanh T2 bị chiếm đoạt trị giá 12.920.000
đồng. Quá trình điều tra quan điều tra đã trả xe lại cho chị Thanh Thúy, chị Thúy không
yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, các bị cáo còn khai nhận đã thực hiện 04 vụ trộm
cắp và tiêu thxe khác trên địa bàn thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, gồm 04 chiếc xe
tô, Phạm Văn A trộm cắp tại Bãi để xe của Siêu thị BigC Đà Lạt bán cho Đặng Văn H,
nhưng cả 04 xe này đến nay vẫn chưa xác định được người bị hại nên Viện kiểm sát chưa truy
tố đối với các bị cáo, Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng đang tiếp tục xác minh để làm rõ
và sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo người bị hại không ai thắc mắc,
khiếu nại gì đối với các Kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.
Tại Cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 19/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Lạt truy tố Phạm Văn A về tội “Trộm cắp tài sảntheo điểm b, c khoản 2 điều 173 Bộ luật
hình sự m 2015 truy tố Đặng Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
” theo khoản 1 điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn A khai nhận từ ngày 19/02/2019 đến ngày 28/4/2019,
tại Bãi để xe của Siêu thị BigC Đà Lạt, bị cáo đã hành vi trộm cắp tài sản 10 xe
với tổng trị giá 120.920.000 đồng của 10 người bị hại tại địa bàn thành phố Đà Lạt, m
Đồng với mục đích để bán lấy tiền sử dụng nhân. Bị cáo Đặng Văn H khai từ ngày
20/02/2019, sau khi đọc tin nhắn bán xe mô tô của Phạm Văn A đăng trên mạng xã hội, bị cáo
liên lạc với Phạm Văn A sau đó trực tiếp gặp An quen An,H đã mua 06 chiếc xe
5
không giấy tờ, biển số do An bán, mặc bị cáoH biết các xe này do Phạm Văn A
phạm tội , sau khi mua,H đã bán cho người khác cả 06 chiếc xe trên với giá cao hơn giá
đã mua để thu lợi bất chính 4.600.000 đồng (theo con số bị cáo khai). Các bị cáo tha nhận đã
thực hiện việc phạm tội với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu
đúng, cả hai bị cáo đều không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận
tội tranh luận như sau: Tại phiên tòa c bị cáo Phạm Văn A Đặng Văn H đã khai nhận
hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại,
không nội dung thay đổi, hành vi của bị cáo Phạm Văn A 10 lần trộm cắp tài sản xe
mô tô của 10 người bị hại đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, với trị giá tài
sản chiếm đoạt 120.920.000 đồng; Hành vi của bị cáo Đặng Văn H mặc dù biết xe mô tô
do An bán xe do An phạm tội nhưng bị cáo vẫn tiêu thụ 06 xe với trị giá tài sản
52.600.000 đồng để thu lợi bất chính đã đcác yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội . Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo
trạng đã truy tố đối với cả hai bị cáo đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 1 điều 173; điểm s
khoản 1, khoản 2 điều 51 điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự m 2015 đối với Phạm
Văn A; Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 323; điểm s khoản 1điều 51 điểm g khoản 1 điều
52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đặng Văn H. Xphạt bị cáo Phạm Văn A từ 04
đến 05 m ; xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 15 đến 18 tháng . Phần bồi thường: Quá trình
điều tra quan điều tra đã thu giữ một phần tài sản đã trả lại cho người bị mất. Đến nay
những người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét
để giải quyết. Riêng những người bị hại chưa nhận lại được tài sản do quá trình điều tra không
thu giữ được tài sản người quyền lợi liên quan đến vụ án yêu cầu bồi thường, cần
xem xét để chấp nhận, buộc bị cáo Phạm Văn A phải bồi thường theo qui định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án, các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm: 01 xe mô tô
hiệu HonDa Wave Blade; 01 xe mô tô hiệu HonDa Wave biển kiểm soát 49 P3-4446 và 01 xe
hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 49E1-56964, quan điều tra đã Quyết định xử
: Trả lại cho người bị hại nên không xem xét để giải quyết tiếp; phần vật chứng còn lại đ
nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử lý theo qui định của pháp luật.
Các bcáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ
xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra,
xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố, quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, m Đồng Kiểm sát viên đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bo
người bị hại đều không ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn AĐặng Văn H:
Bcáo Phạm Văn A người đã trưởng thành, đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất
việc lợi dụng người bị hại để xe vào ban đêm Bãi để xe công cộng nhưng không
người trông coi, không khóa xe, đã lén lút để chiếm đoạt tài sản người bị hại rồi tẩu thoát là
hành vi trái pháp luật, xâm hại trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp
luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
6
Hành vi của bị cáo Đặng Văn Hngười nhu cầu mua xe mô tô cũ nên qua tin
nhắn trên mạng,H đã quen An nhận lời An để mua xe, mặc bị cáo biết rõ nguồn gốc xe
do Phạm Văn A phạm tội có, sau khi muaH đã bán lại với giá cao hơn để thu lãi. Hành
vi của bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội, trái pháp luật góp phần giúp An
thực hiện trót lọt mục đích của việc chiếm đoạt tài sản của người khác gây mất trật tự an
toàn xã hội ở địa phương nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thu lợi bất chính.
Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị
cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại phù hợp với các tài liệu
chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. đủ căn cứ kết luận bị cáo
Phạm Văn A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Ti phạm đối với bị cáo An được qui định tại
điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. đủ căn cứ kết luận bị cáo Đặng Văn H đã phạm tội
“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội có”, tội phạm đối với bị cáoH được qui định tại
điều 323 Bộ luật hình sự m 2015 như Cáo trạng truy tố kết luận của Kiểm sát viên ti
phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Phạm Văn A thực hiện liên tục 10 vụ trộm cắp tài sản trong một
thời gian ngắn, lấy thu nhập từ việc phạm tội làm nguồn sống chính, mang tính chất chuyên
nghiệp chiếm đoạt i sản trị giá 120.920.000 đồng, là tài sản có giá trị lớn đã vi phạm vào
các tình tiết định khung tăng nặng theo qui định tại điểm b, c khoản 2 điều 173 nên bị cáo
Phạm Văn A phải bị xét xử theo qui định tại c điểm b, c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự
năm 2015. Hành vi của bị cáo Đặng Văn H không vi phạm vào tình tiết định khung tăng nặng
nào theo qui định tại điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo Đặng Văn H chỉ bị xét xử
theo khoản 1 điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét bị cáo Đặng Văn H khi thực hiện việc phạm tội đã thu lợi bất chính một khoản
tiền, cần áp dụng hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 điều 323 Bộ luật hình sự, phạt
tiền đối với bị cáoH để tước đoạt khoản thu lợi bất chính này sung quỹ Nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Phạm VănH thực hiện 10 lần phạm tội liên tiếp và bị cáo Đặng Văn H thực hiện
06 lần phạm tội liên tiếp trong một thời gian ngắn, vi phạm vào tình tiết qui định tại điểm g
khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 là phạm tội nhiều lần.
Sau khi bị phát hiện, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn
khai báo, tài sản đã được thu hồi một phần. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra quan điều tra đã thu giữ một phần tài sản trả lại cho người bị
hại : Anh Phạm Văn T1, anh Trần Thanh D và chị Đào Thị Thanh T2. Đến nay những người
bị hại này đều không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm nên không xem xét để giải
quyết phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo trong bản án này. Những người bị hại còn
lại người quyền lợi liên quan đến vụ án chưa được bồi thường, trong đó người yêu
cầu mức cao hơn mức giá trị do Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố xác
định, cần buộc bị cáo Phạm Văn A phải bồi thường theo giá trị xác định của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà lạt, Lâm Đồng xác định là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Các loại vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có:
+ Một xe hiệu HonDa Wave; 01 xe hiệu HonDa Wave Blade 01 xe
mô tô hiệu Yamaha Sirius, quan điều tra đã quyết định xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ
sở hữu : Các anh Phạm Văn T1, Trần Thanh D và chị Đào Thị Thanh T2 nên không xem xét
để xử lý tiếp trong bản án này.
7
+ Một bóp da màu nâu; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe cùng mang tên
Đặng Văn H, là tài sản riêng và giấy tờ tùy thân của bị cáo Đặng Văn H.
Một bóp da màu nâu; 01 Chứng minh nhân dân; 01 Giấy phép lái xe cùng mang
tên Phạm Văn A, là tài sản riêng và giấy tờ tùy thân của bị cáo Phạm Văn A.
Các giấy tờ và tài sản trên cần trả lại cho các bị cáo.
+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn A số tiền 10.200.000 đồng tiền mặt trả lại cho bị
cáo Đặng Văn H số tiền 6.700.000 đồng tiền mặt, tài sản riêng của các bị cáo nhưng cần
tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
+ Giao lại cho Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng để tiếp tục xác minh xử
theo thẩm quyền: 01 xe kiểu HonDa Wave, màu đỏ-đen; Một biển số xe 49S8-1707; 01
xe hiệu HonDa Dream, kèm theo 01 Giấy đăng xe biển số 158.86K4, mang
tên Hoàng Quốc Luận (ở 186 - Hiệu, Hải Phòng, do quá trình điều tra không xác định
được chủ sở hữu; 01 Giấy phép lái xe mang n Phạm Văn Xinh; 01 Giấy đăng ký xe
biển số 59K1-620.91, mang tên Trần Lê Phong, sinh năm 1992 ở 162 - Bến Phú Lâm, Quận 6,
Thành phố Hồ Chí Minh 01 biển số xe 49N9-1135, do trong quá trình điều tra chưa xác
định được chủ sở hữu là của ai cụ thể hoặc do xe không thu hồi được.
+ Một bộ áo nhựa xe HonDa Wave, màu đen); 01 xe hiệu Yamaha Exciter,
kèm theo 01 Giấy đăng xe biển số 20C1-288.93 mang tên Đức Luận (ở Kim
Sơn, Định Hóa, Thái Nguyên); 01 bộ máy xe 2 bánh số máy ZS150FMG-222B03753 là tài
sản của bị cáo Phạm Văn A đã sử dụng vào việc đi trộm cắp tài sản tài sản do các bị cáo
trộm cắp mua bán bất hợp pháp nhưng không xác định được chủ sở hữu; 01 điện
thoại di động hiệu Samsung S7EDGE, vỏ màu xanh 01 điện thoại di động hiệu Nokia, vỏ
màu đen-trắng, những dụng cụ dùng liên lạc giữa An H đmua bán xe, cần tịch thu để
sung quỹ Nhà nước.
Về án phí:
Buộc các bcáo phải nộp án phí hình sự thẩm; Bị cáo Phạm Văn A phải nộp án phí
dân sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] . Tuyên bố bị cáo Phạm Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Đặng Văn H
phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[2] . Áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật
hình sự năm 2015, xphạt bị cáo: Phạm Văn A 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tính từ ngày
28/4/2019.
[3] . Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 323; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình snăm
2015, xử phạt bị cáo: Đặng Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
29/4/2019. Phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn H: 10.000.000 (Mười triệu) đồng
[4] . Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
4.1 - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Một xe hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm
soát 20C1-288.93, smáy G304E045288, số khung 0610FY042687 (kèm Một Giấy đăng
xe 20C1-288.93 mang tên Đức Luận, địa chỉ: Kim Sơn, Định Hóa, Thái Nguyên); Một
điện thoại di động hiệu Nokia, vỏ màu đen-trắng (đã qua sử dụng); Một điện thoại di động
hiệu Samsung SW7 EDGE, vỏ màu xanh (đã qua sử dụng, mặt kính vết nứt); Một bộ áo
nhựa xe HonDa Wave, màu đen01 máy xe 2 bánh, có số máy ZS150FMG-222B03753.
4.2 - Giao lại cho Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng: Một xe kiểu HonDa
Wave, màu đỏ-đen, số máy 52FMH 020050, số khung 8XY20050; Một biển số xe
49S8-1707; Một xe hiệu HonDa Dream màu nâu, gắn biển số 158.86 K4, số máy
8
CT10001068767, số khung CT100E1068767 (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng xe
mang tên Hoàng Quốc Luận, địa chỉ: 186 - Tô Hiệu, Hải Phòng); Một biển số xe 49N9-1135
01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn Xinh (địa chỉ: Bến Phú Lâm, Quận 6, Thành phố
Hồ Chí Minh); 01 Giấy đăng xe biển số 52K1-620.91 mang tên Trần Phong, địa chỉ:
162 - Bến Phú m, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục xác minh chủ sở hữu xử
lý theo thẩm quyền.
4.3 - Trả lại cho bị cáo Đặng Văn H: Một bóp da màu nâu; một Căn cước công dân
01 Giấy phép lái xe cùng mang tên Đặng n H. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn A: Một bóp
da màu nâu; 01 Chứng minh nhân dân và 01 Giấy phép lái xe cùng mang tên Phạm Văn A.
Trả lại cho bị cáo Đặng Văn H 6.700.000 (Sáu triệu bảy trăm ngàn) đồng tiền
mặt trả lại cho bị o Phạm Văn A 10.200.000 (Mười triệu hai trăm ngàn) đồng tiền mặt,
nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày
20/8/2019 giữa Công an thành phố Đà Lạt Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
Các Biên lai thu tiền số 0001285 và 0001286 ngày 20/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Đà Lạt).
[5] . Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự các điều 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015,
buộc bị cáo Phạm Văn A phải bồi thường cho:
+ Anh Đào Công H 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm ngàn) đồng;
+ Anh Trần Kim L 9.450.000 (Chín triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng;
+ Anh Lê Minh D 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng;
+ Anh Nguyễn Quốc H1 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm ngàn) đồng;
+ Anh Hoàng Đình H2 5.000.000 (Năm triệu) đồng;
+ Chị Trần Thị Ngọc B 16.000.000 (Mười sáu triệu) đồng;
+ Anh Nguyễn Thanh T 10.800.000 (Mười triệu tám trăm ngàn) đồng;
+ Chị Nguyễn Thị L 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
Tổng cộng là 83.150.000 (Tám mươi ba triệu một trăm năm mươi ngàn) đồng.
Căn cứ điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, kể từ ngày người được bồi thường đơn
yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo Phạm
Văn A còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên stiền bồi thường chưa được thi hành án theo
mức lãi suất qui định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các
điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện
theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6] . Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa
án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự thẩm. Bị cáo Phạm Văn A phải
nộp 4.157.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] . Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo người bị hại mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Người bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
9
Nơi nhận:
- Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
- Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND thành phố Đà Lạt;
- Công an thành phố Đà Lạt;
- Thi hành án thành phố Đà Lạt;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Bộ phận theo dõi THA phạt tù;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Trình
Tải về
Bản án số 130/2019/HSST Bản án số 130/2019/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất