Bản án số 13/2022/HS-ST ngày 24/01/2022 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 13/2022/HS-ST ngày 24/01/2022 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hưng Hà (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 13/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/01/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày 24-01-2022.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nơi
2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa
- Thư phiên toà: Phạm Th Mai - T T án nhân dân huyện H, tỉnh
Ti Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị n - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái
Bình, xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 01/2022/TLST-HS ngày
11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08
/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Hà Văn T, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: thôn T, K, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp:Lao động tự
do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Văn T Bùi Thị S ều đã chết); có vThị H
02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1996; nhân thân: Năm 1986
đi bộ đội đến năm 1988 xuất ngũ trở về địa phương lao động tự do; tiền án, tiền sự:
Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú” tngày
29/10/2021 đến nay (có mặt).
Bị hại: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1998 (đã chết)
Địa chỉ: Thôn Q, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Những người đại diện hợp pháp cho bị hại:
1 - Ông Vũ Minh Đ, sinh năm 1975 (là bố đẻ chị Hiền)
2 - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974 (là mẹ đẻ chị Hiền)
Đều trú tại: Thôn T, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình.
3 - Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991 (là chồng chị Hiền)
Trú tại: Thôn Q, M, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Ông Đ, bà N ủy quyền cho anh H)
2
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Cháu Nguyễn Khánh H1, sinh năm 2017 (là con chị Hiền)
Người đại diện theo pháp luật của cháu H1 anh Nguyễn Ngọc H (Bcủa cháu
H1) “vắng mặt”.
Người làm chứng:
1. Chị Hà Thị Th, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Trú tại: thôn L, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2. Chị Hoàng Thị Th, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình.
3. Chị Hoàng Thị Thanh Th, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn B, xã K, huyện H, tỉnh Thái nh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/10/2021 Văn T, sinh năm 1966, cư trú tại
thôn T, K, huyện H; giấy phép lái xe mô hạng A1 điều khiển xe
nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển kiểm soát 17B4 - 086.61 đi trên
đường liên hướng tTh đi xã K. Khi đi đến đoạn đường (rộng 05m, không
có vạch kẻ đường phân chia chiều, làn đường) thuộc địa phận Thôn B, xã K, huyện
H. Trời tối, đường không điện sáng nên T bật đèn chiếu sáng điều khiển xe
mô tô đi phần giữa đường, không đi về phía bên phải đường theo chiều đi của mình
sngã. Khi phát hiện thấy phía trước (cách khoảng 30 mét) ánh đèn xe đạp
điện của chị Thị Thu H, sinh năm 1998, trú tại Thôn Q, M, huyện H điều
khiển đi ngược chiều. Lúc này, T điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 30km/h
cách xe của chị H khoảng 10m, T bấm còi, phanh chân, bóp phanh tay nhưng
vẫn điều khiển xe đi giữa đường. Do Văn T không giảm tốc đđể thể
dừng lại một cách an toàn điều khiển xe đi về bên phải theo chiều đi của mình
nên phần đầu phía trước bên trái xe mô Văn T điều khiển va chạm với phần
đầu xe đạp điện do chị H điều khiển làm hai xe đổ xuống đường. Hậu quả: chị H
bị cáo T đều bị thương phải đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Hưng Hà, huyện
H, sau đó chuyển bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cấp cứu và điều trị. Sau đó, chị
H chuyển đến bệnh viện Bạch Mai, Nội điều trị, đến 23 giờ 45 phút ngày
07/10/2021 chị H được đưa về chết tại nhà. Văn T điều trị tại Bệnh viện đa
khoa Thái Bình đến ngày 19/10/2021 được xuất viện. Các phương tiện tham gia
giao thông bị hư hỏng.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 241/KLGĐTT-PC09 ngày
11/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sCông an tỉnh Thái Bình kết luận nguyên
3
nhân chết của chị Vũ Thị Thu H: Đa chấn thương vùng đầu và toàn thân do tai nạn
giao thông làm vỡ phức tạp xương sọ vùng trán trái, dập não; xẹp nhãn cầu bên
trái; vỡ xương gò má bên trái; gãy xương hàm trên và hàm dưới bên trái; vỡ xương
cánh mũi hai bên; gãy xương cổ tay bên trái, gãy xương đùi bên trái. Nạn nhân
Vũ Thị Thu H chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.
Bản cáo trạng số 09/CT- VKSHH ngày 10-01-2022 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện H truy tố bcáo Hà n T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự
(viết tắt BLHS).
Tại phiên a bị o T khai nhận toàn bhành vi phm tội của bcáo như nội
dung bản o trạng.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề
nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xử bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS: Phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm
, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày
tuyên án thẩm. Giao bị cáo cho UNND K giám sát giáo dục trong thời gian
bị cáo chấp hành án.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đen đỏ,
biển kiểm soát 17B4 - 086.61, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe
mang tên Thị Hòa, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc tai nạn dân sự.
Quá trình điều tra xác định tài sản hợp pháp của Thị Hòa, sinh năm 1968,
trú thôn T, K, huyện H, tỉnh Thái Bình (là vợ bị cáo T); 01 xe đạp điện,
sơn màu đen đỏ tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991,
trú tại Thôn Q, M, huyện H, tỉnh Thái Bình (là chồng nạn nhân Hiền). Ngày
06/12/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra ng an huyện H, tỉnh Thái Bình đã trả lại
những tài sản trên cho bà H và anh H theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Văn T
đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Đại diện bị
hại đã nhận số tiền trên không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường bất cứ khoản
tiền nào khác.
Bo T không tranh luận , đề nghị HĐXX giảm nhnh phạt và bị cáo xin
được cải tạo ti địa pơng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
4
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra
viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị
cáo tại quan điều tra phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám
nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường (Bút lục từ số 58 đến
số 72); biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản
ảnh phương tiện (Bút lục từ số 73 đến số 98); Bản kết luận giám định pháp y về tử
thi số 241/KLGĐTT-PC09 ngày 11/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh Thái Bình (Bút lục từ s 100 đến số 101); lời khai của những người làm
chứng: chị Thị Th, chị Hoàng Thị Th, chHoàng Thị Thanh Th (bút lục từ số
420 đến số 421; từ số 426 đến số 429; từ số 434 đến số 437); lời khai của người đại
diện hợp pháp cho bị hại: anh Nguyễn Ngọc H (bút lục từ số 408 đến số 411). Như
vậy có đủ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/10/2021, tại đoạn đường
liên thuộc địa phận Thôn B, K, huyện H, tỉnh Thái Bình; Văn T giấy
phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định, có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave RS, màu đen đỏ, biển kiểm soát 17B4 - 086.61 đi hướng Th đi
K, huyện H, tỉnh Thái Bình. Do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an
toàn, không điều khiển xe đi về bên phải theo chiều đi của mình nên phần đầu phía
trước bên trái xe Văn T điều khiển va chạm với phần đầu xe đạp điện do
chị Thị Thu H điều khiển đi ngược chiều, làm chị Hiền chết. Hành vi của
Văn T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường
bộ; khoản 8 Điều 5 Thông số 31/2019/TT - BGT ngày 29/8/2019 của Bộ trưởng
Bộ giao thông vận tải gây tai nạn làm chết một người. Hành vi nêu trên của bị cáo
đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện
H truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cụ thể:
Điều 9 - Luật Giao thông đường bộ: Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi
đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường
bộ.
……
Điều 12 – Luật Giao thông đường bộ: Tốc độ và khoảng cách giữa các xe
5
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy
định về tốc độ xe chạy trên đường phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe
chạy liền trước xe của mình; nơi biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải
giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.
2. …….
Điều 5 – Thông tư 31: Các trường hợp phải giảm tốc độ
1….
8. Tránh xe chạy ngược chiều,….
Điều 260 - Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải
tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) ….
5. Người phạm tội còn thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 m.”
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bcáo nguy hiểm, đã
điều khiển xe môtô vi phạm quy tắc giao thông đường bđược quy định trong
Luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, đồng thời xâm
phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an
tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình snào theo quy định tại điều 52 BLHS, trong quá trình điều tra cũng như tại
phiên a bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình bo đã tự nguyện khắc phục hậu
quả bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo thời gian tham
gia quân đội nhân dân Việt Nam đại diện hợp pháp của bị hại đơn đề nghị
xin miễn truy cứu trách nhiệm hình scho bị o; bị cáo phạm tội do một phần
lỗi của bị hại (không điều khiển xe đi về bên phải theo chiều đi của mình), nên bị
cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhquy định tại đim b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 BLHS. Từ c nhận xét trên, Hội đồng xét x, xét thấy chỉ cần áp dụng
hình phạt nhưng cho bcáo hưởng án treo và n định thời gian thử thách nhất
định, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo trú để giám sát, giáo
dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị o i riêng và phòng ngừa chung
cho hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
6
[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584,
585, 591 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường giữa gia đình bị cáo
T với đại diện hợp pháp của bị hại là anh H, bị cáo bồi thường tất cả các khoản chi
phí cho gia đình bị hại là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Đại
diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thường bất cứ
khoản tiền nào khác. (Bị cáo đã bồi thường xong).
[5] Về xử vật chứng: 01 xe nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đen
đỏ, biển kiểm soát 17B4 - 086.61, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng xe
mang tên Thị H, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc tai nạn dân sự.
Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Hà Thị H, sinh năm 1968, cư
trú thôn T, K, huyện H, tỉnh Thái Bình (là vợ bị cáo T); 01 xe đạp điện, sơn
màu đen đỏ là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991, cư trú tại
Thôn Q, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (là chồng nạn nhân H. Ngày 06/12/2021,
cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã trả lại những tài sản
trên cho bà H và anh H theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Từ nhận xét trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
2. Áp dng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điu
50; Điều 65 của Bluật Hình sự. Xử phạt bị cáo T 01 năm 06 tháng nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo T cho UBND K, huyện H, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo trú
để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Trường hợp bị cáo thay
đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được ởng án treo cố tình vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584,
585, 591 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường giữa gia đình bị cáo
T với đại diện hợp pháp của bị hại là anh H, bị cáo bồi thường tất ccác khoản chi
phí cho gia đình bị hại là: 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Đại
diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thường bất cứ
khoản tiền nào khác. (Bị cáo đã bồi thường xong).
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình s khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
7
Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí
hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo T quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; ông Đ, N anh H quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
-VKSND tỉnh Thái Bình;
- VKSND huyện H; (đã ký)
- Chi cục THADS huyện H;
- Công an huyện H;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
- UBND xã K;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Nhàn
Tải về
Bản án số 13/2022/HS-ST Bản án số 13/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất