Bản án số 1284/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1284/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1284/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1284/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà P kiện bà L về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1284/2026/DS-PT Bản án số 1284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1284/2026/DS-PT Bản án số 1284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————
Bản án số: 1284/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Ông Trần Nam Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/9/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1414/2026/TLPT-DS
ngày 22 tháng 7 năm 2026 về việc:“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 366/2026/DS-ST ngày 27/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm số 1532/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 7 năm 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1959; địa chỉ: số A đường N,
phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Kim L, sinh năm 1978; địa chỉ: số A, ấp N, xã N,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1948; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(vắng mặt)
2. Văn phòng C; Địa chỉ: số I, đường L, phường N, thành phố Cần Thơ.
(vắng mặt)
2
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn trình bày: Trước đây do chỗ quen biết với ông Nguyễn Văn S nên
ông S đã mượn ông giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền của ông L,
ông đồng ý và đứng tên hợp đồng vay. Ngày 24/01/2022, ông có ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số CB 481562 cho ông Nguyễn Kim L để vay
số tiền 250.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng vay, ông Nguyễn Văn S là người
nhận toàn bộ số tiền 250.000.000 đồng. Ông chỉ giúp đỡ trên phương diện tình
nghĩa, hoàn toàn không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông L,
phần đất này ông vẫn đang quản lý và sử dụng (đang cho ông Nguyễn Hữu N thuê
trồng cây trên đất). Ông có liên hệ với ông L để chuộc lại đất theo biên bản cam
kết của ông L ký trước đây thì ông L không đồng ý. Ông khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết những vấn đề sau:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1110,
tờ bản đồ số 5, diện tích 1.164m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc ấp T, xã
T, thành phố Cần Thơ giữa ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Kim L được lập
ngày 24/01/2022 tại Văn phòng C;
Buộc ông Nguyễn Kim L trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CB 481562, số vào sổ CH 02887 do UBND huyện P cấp ngày 17/9/2015.
Bị đơn ông Nguyễn Kim L trình bày: Ngày 24/01/2022, ông và ông Nguyễn
Văn P có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 277,
quyển số 01/2022/TP-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Theo thỏa thuận trong hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì ông nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của ông P đối với thửa đất số 1110, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại
ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ với giá 250.000.000 đồng. Sau khi hai bên ký hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông đã giao đủ tiền cho ông P. Khi
hai bên giao nhận tiền thì không có lập giấy tờ hay biên nhận nhưng có ông
Nguyễn Văn S cùng chứng kiến. Sau khi ông giao tiền đầy đủ cho ông P thì ông
P đã giao đất cho ông canh tác và giao bản chính chứng giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông để ông đi làm thủ tục cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Đến ngày 15/11/2024, ông được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện P (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng
nhận: CN 1144. Giữa ông và ông P, ông S không có việc vay tiền như nội dung
khởi kiện của ông P. Hiện tại ông vẫn đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3
Nay không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P vì giao dịch
giữa ông và ông P là chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải là vay tiền
như lời trình bày của ông P. Trường hợp ông P muốn nhận chuyển nhượng lại
thửa đất này thì ông đồng ý chuyển nhượng lại cho ông P với số tiền 500.000.000
đồng.
Do không hòa giải thương lượng được nên vụ án được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 366/2026/DSST ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 3 – Cần Thơ đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên
bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022 giữa
ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Kim L, số công chứng 277, quyển số 01/2022
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: số tiền 1.000.000 đồng, ông Nguyễn
Văn P phải chịu (đã nộp xong).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng
cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tuyên
xử nguyên đơn ông Nguyễn Văn P đã kháng cáo bản án trên
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ông yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
1110, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.164m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc ấp
T, xã T, thành phố Cần Thơ giữa ông và ông Nguyễn Kim L được lập ngày
24/01/2022 tại Văn phòng C;
Buộc ông Nguyễn Kim L trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CB 481562, số vào sổ CH 02887 do UBND huyện P cấp ngày 17/9/2015.
Phía ông Nguyễn Kim L và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan
vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết,
thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về nội dung: Ngày 24/01/2022, ông P và ông L ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1110, tờ bản đồ số 5, diện tích theo
Giấy chứng nhận là 1.664m², giá chuyển nhượng 250.000.000 đồng, tại Văn
phòng C. Quá trình giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm, ông P thừa nhận là người
4
trực tiếp ký hợp đồng, sau đó đã giao đất và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông L; hiện ông L và gia đình đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất.
Ông P cho rằng hợp đồng chuyển nhượng chỉ nhằm bảo đảm cho khoản
tiền 250.000.000 đồng ông S vay của ông L, ông S là người trực tiếp nhận tiền và
đã trả lãi được 03 tháng. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của ông P và ông S, không
có tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa ông P và ông L có thỏa thuận việc chuyển
nhượng chỉ là hình thức nhằm che giấu giao dịch vay hoặc bảo đảm cho khoản
vay của ông S; cũng không có chứng cứ thể hiện ông L có nghĩa vụ trả lại đất cho
ông P khi khoản tiền 250.000.000 đồng được thanh toán.
Theo quy định tại Điều 117 và khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015,
giao dịch dân sự chỉ bị tuyên bố vô hiệu do giả tạo khi các bên xác lập giao dịch
đó nhằm che giấu một giao dịch khác. Trên thực tế, ông P đã tự nguyện ký hợp
đồng, chủ động bàn giao đất và Giấy chứng nhận cho ông L. Việc số tiền chuyển
nhượng 250.000.000 đồng do ông S trực tiếp nhận chỉ là quan hệ nội bộ riêng biệt
giữa ông S, ông P và ông L, không đủ căn cứ để chứng minh hợp đồng chuyển
nhượng giữa ông P và ông L là giao dịch giả tạo.
Tại cấp sơ thẩm, Tòa án đã tạo điều kiện và yêu cầu ông P bổ sung các tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho việc vay mượn tiền, đóng lãi hoặc thỏa thuận che
giấu giao dịch vay; tuy nhiên ông P không cung cấp được. Trong quá trình kháng
cáo, ông P cũng không bổ sung được tài liệu hay chứng cứ mới nào làm thay đổi
bản chất nội dung vụ án. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022 vô hiệu do giả tạo
theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với số tiền 250.000.000 đồng do ông S nhận: Trường hợp ông S xác
định đây là khoản nợ vay và phát sinh tranh chấp với ông L, ông S hoàn toàn có
quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Việc Tòa án cấp sơ thẩm hướng dẫn
đương sự tách nội dung này thành một vụ kiện độc lập khi các bên có yêu cầu là
hoàn toàn phù hợp và có căn cứ pháp lý.
Đối với yêu cầu buộc ông L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất: Do hợp đồng chuyển nhượng không bị vô hiệu và ông L đã được cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới hợp pháp, yêu
cầu này của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308
BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P, giữ
nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện:
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” vụ kiện thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự. Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Kháng cáo của nguyên đơn là trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn yêu cầu
tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022
với bị đơn ông Nguyễn Kim L. Phía bị đơn không đồng ý cho rằng đã chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn hoàn tất, nghĩa vụ thanh toán đã xong
nên không đồng ý hủy hợp đồng.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 24/01/2022 ông P và
ông L có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1110,
tờ bản đồ số 5, diện tích 1.664m
2
, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố
Cần Thơ (cũ), giá chuyển nhượng 250.000.000 đồng. Đồng thời, ông S là người
nhận toàn bộ số tiền trên và có ký tên vào tờ cam kết thể hiện nội dung ông S nhận
số tiền 250.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký
ngày 24/01/2022 tại Văn phòng C (cả ông P và ông S đều xác thừa nhận sự kiện
này).
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 08/5/2026, ông P thừa nhận thửa đất 1110, tờ
bản đồ số 5, ông đã bàn giao đất cho ông L, hiện tại ông L đang quản lý, sử dụng,
cụ thể ông L đang cho người cháu của mình trồng chuối ở trên đất.
Xét thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng vào năm 2022, đất của ông P
đang cho ông N thuê có thời hạn đến năm 2027, lúc này ông P và ông L có thỏa
thuận sẽ tiến hành chuyển nhượng nên ông khởi kiện ông N về việc bồi thường
thiệt hại.
Tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền (cũ) ra Quyết định
công nhận thỏa thuận số 13/2024/QĐST-DS ngày 04/4/2024 về việc ông P có
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Hữu N và bà Võ Thị P1 số tiền
150.000.000 đồng, ông P1 đã thi hành án xong và đã nhận lại đất sau đó ông P1
đã bàn giao thửa đất này cho ông L trực tiếp quản lý, canh tác cho đến nay. Ông
P1 cho rằng đã bàn giao cho ông L nhưng ông L không ký hợp đồng chuyển
nhượng với ông.
Xét lời trình bày của ông P1 là không phù hợp với các chứng cứ có trong
hồ sơ. Hiện tại, ông L là người đang canh tác đất. Còn việc ông P1 cho rằng ông
lấy lại quyền sử dụng đất từ ông N để chuyển nhượng cho ông L thì ông P1 không
6
cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc có một thỏa
thuận khác sau khi các ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/01/2022. Ông
L cũng cho rằng giữa ông và ông P1 chỉ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 24/01/2022 tại Văn phòng C để chuyển nhượng thửa đất 1110 với
giá 250.000.000 đồng ngoài ra không có thỏa thuận nào khác, đất hiện tại ông L
đang quản lý sử dụng.
Nguyên đơn không cung cấp chứng cứ về việc có thỏa thuận vay tiền và
đóng lãi cho bị đơn, nguyên đơn không yêu cầu định giá thị trường để xác định
giá trị đất tranh chấp nhằm chứng minh cho việc ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nhằm mục đích che giấu hợp đồng vay tiền nên không có căn
cứ chấp nhận.
Từ những chứng cứ nêu trên cho thấy, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng,
ông P1 đã nhận đủ số tiền 250.000.000 đồng và đã bàn giao quyền sử dụng đất
cho ông L canh tác, thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp
pháp cho ông L. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Đối với yêu cầu buộc ông L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất: Do hợp đồng chuyển nhượng không bị vô hiệu và ông L đã được cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới hợp pháp, yêu
cầu này của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của ông P1: Ông P1 kháng cáo nhưng không cung cấp
thêm chứng cứ gì mới. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ.
[4] Đối với việc ông Nguyễn Văn S nhận số tiền 250.000.000 đồng từ việc
chuyển nhượng thửa đất 1110 giữa ông P1 và ông L tách ra giải quyết thành vụ
kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn P phải chịu số
tiền 1.000.000 đồng đã nộp xong.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
được chấp nhận nên phải chịu án phí. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi
thuộc trường hợp được miễn án phí.
[7]Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi nên được
miễn.
[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét
xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 188, Điều 192, Điều
227, Điều 228 Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 129, Điều 131, Điều 500, Điều 501 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm
2015;
Điều 203 Luật đất đai 2013;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn P.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu
tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/01/2022
giữa ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Kim L, số công chứng 277, quyển số
01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: số tiền 1.000.000 đồng, ông
Nguyễn Văn P phải chịu (đã nộp xong).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án
phí.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi nên được
miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 3 – Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 3- Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Nguyễn Văn Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1284/2026/DS-PT Bản án số 1284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1284/2026/DS-PT Bản án số 1284/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất