Bản án số 286/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 286/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 286/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 286/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 286/2026/DS-PT Bản án số 286/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 286/2026/DS-PT Bản án số 286/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 286/2026/DS-PT.
Ngày: 10/9/2026.
V/v tranh chấp về thừa kế tài
sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Minh Phượng.
Ông Nguyễn Văn Thọ.
Ông Cao Văn Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Đoàn Thị Cẩm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025
về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5
– Đà Nẵng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2025/QĐXXPT-DS ngày
03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Bà Huỳnh Thị Th, sinh năm 1973; Địa chỉ: khối phố P, phường B, thành phố
Đà Nẵng.
Đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị Th: ông Trần Nhật L, sinh năm 1993;
Địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
2/ Bà Huỳnh Thị Ch, sinh năm 1969 (chết năm 2021).
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Huỳnh Thị Ch:
+ Ông Trần Văn B, sinh năm 1962;
+ Ông Trần Nhật L, sinh năm 1993;
+ Bà Trần Hoàng Nhật Hu, sinh năm 2001;
Cùng địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn B và bà Trần Hoàng Nhật Hu: ông
Trần Nhật L, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn N, phường H, thành
phố Đà Nẵng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1/ Ông Huỳnh Công D, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà
Nẵng.
2/ Bà Huỳnh Thị V, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số 45 H, phường T, thành phố Đà
Nẵng.
Đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị V: ông Huỳnh Anh T1, sinh năm 1994;
địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
3/ Ông Nguyễn T2, sinh năm 1972; Địa chỉ: khối phố H, phường B, thành phố Đà
Nẵng.
4/ Bà Trần Thị Hà E, sinh năm 1967;
5/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973;
6/ Ông Huỳnh Anh T1; sinh năm 1994;
7/ Bà Ca Thị Phương L; sinh năm 1994;
8/ Ông Trần Văn B, sinh năm 1962;
9/ Ông Trần Nhật L, sinh năm 1993;
10/ Bà Trần Hoàng Nhật Hu, sinh năm 2001;
Cùng địa chỉ: thôn N, xã T, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn B và bà Trần Hoàng Nhật Hu: ông
Trần Nhật L, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn N, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Người kháng cáo: ông Huỳnh Văn C, ông Huỳnh Công D, bà Huỳnh Thị V.
(Tất cả các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng cụ Huỳnh Ch1, sinh năm 1923 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị
H1, sinh năm 1935 (chết năm 2010) sinh được 06 người con, một người đã chết khi
chưa có vợ con, còn lại 05 người con, gồm: ông Huỳnh Công D, bà Huỳnh Thị V, ông
Huỳnh Văn C, bà Huỳnh Thị Ch (chết năm 2021) và bà Huỳnh Thị Th. cha mẹ của cụ
Huỳnh Ch1 và cụ Nguyễn Thị H1 đều đã chết trước cụ Ch1 và cụ H1.
Di sản của cụ Ch1 và cụ H1 để lại gồm 01 ngôi nhà xây lợp ngói gắn liền với
quyền sử dụng đất tại thửa đất số 217 và thửa đất số 217.1, diện tích đất lần lượt là
1248m
2
và 1328m
2
, loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, thuộc tờ bản đồ số 01 tại xã T,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
2008. Cụ Huỳnh Ch1 và cụ Nguyễn Thị H1 chết không để lại di chúc.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cha mẹ là ông Huỳnh Ch1
và bà Nguyễn Thị H1 để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 217 và thửa đất số
217.1, tờ bản đồ số 01 tại xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Vị trí đất bà Huỳnh Thị Th yêu cầu chia là phần đất có ký hiệu
phần đất ký hiệu S2, diện tích 209,2m
2
theo Sơ đồ trích đo kèm theo Biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ.
Đối với phần đất có ký hiệu S1, có diện tích 169m
2
khi còn sống cụ Ch1 và cụ H1
đã cho vợ chồng con gái là Huỳnh Thị Ch và ông Trần Văn B xây dựng nhà ở trên đất
tranh chấp. Do đó người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C yêu cầu được chia phần
3
đất ký hiệu S1, có diện tích 169m2 . Bà Th, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Ch
không yêu cầu chia nhà của ông bà ngoại để lại. Phần đất còn lại lẽ ra mẹ tôi và dì Th
được hưởng nhưng thống nhất giao cho ông Huỳnh Công D, Bà Th bà Ch không yêu
cầu thối trả phần giá trị chênh lệch.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Văn C trình bày:
Cha mẹ ông là cụ Huỳnh Ch1 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị H1 (chết năm
2010) để lại gồm nhà, đất tại thửa đất số 217 và thửa đất số 217.1, tờ bản đồ số 01 tại
xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng). Cha mẹ
ông sinh được 06 người con gồm: anh lớn là Huỳnh Văn Nh (đã chết trước cha mẹ tôi,
khi chưa có vợ, con), Huỳnh Công D, Huỳnh Thị V, Huỳnh Văn C, Huỳnh Thị Ch và
Huỳnh Thị Th. Ông bà nội, ngoại đều đã chết trước cha, mẹ ông. Cha mẹ ông chết không
có để lại di chúc.
Nay bà Huỳnh Thị Ch và Huỳnh Thị Th yêu cầu chia di sản thừa kế là đất đai của
cha mẹ nói trên thì ông thống nhất chia cho Huỳnh Thị Ch (nay đã chết) có chồng là
Trần Văn B, con là Trần Nhật L và Trần Hoàng Nhật Hu được nhận phần đất S1 có
diện tích 169m
2
trên đó có nhà ở của vợ chồng bà Ch (vị trí theo sơ đồ đo vẽ của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Tam Kỳ) vì khi mẹ ông còn sống cũng đã
đồng ý cho vợ chồng bà Ch làm nhà ở từ trước năm 1995. Ông đề nghị được nhận phần
đất gắn liền với ngôi nhà mà vợ chồng ông đã xây dựng từ năm 1995 vì đó là nơi ở duy
nhất của gia đình ông.
Ông C không đồng ý đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Th về việc được chia phần
đất có ký hiệu S2 có diện tích đất 209,2m
2
trên đó có nhà của vợ chồng ông cơi nới thêm
và hiện cho vợ chồng con trai là Huỳnh Anh T1 đang ở. Ông chỉ đồng ý chia đất cho bà
Huỳnh Thị Th phần diện tích đất có ký hiệu S5 giáp mương thủy lợi và trụ điện cao thế
còn phần đất S2 có nhà do ông cơi nới đề nghị Tòa án chia cho bà V.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Công D trình bày:
Về hàng thừa kế và di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế của cha mẹ: ông thống
nhất như trình bày của nguyên đơn và bị đơn.
Nay bà Huỳnh Thị Ch (đã chết) và Huỳnh Thị Th yêu cầu chia di sản thừa kế là
đất đai của cha mẹ nói trên thì ông thống nhất chia cho Huỳnh Thị Ch (đã chết) có chồng
là Trần Văn B, con là Trần Nhật L và Trần Hoàng Nhật Hu được nhận phần đất S1 có
diện tích đất 169m
2
trên đó có nhà ở của vợ chồng Ch, B thuộc thửa đất số 217 vì khi
mẹ ông còn sống cũng đã đồng ý cho vợ chồng Ch, B làm nhà ở từ năm 1993.
Đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Th yêu cầu được chia phần diện tích đất
209,2m
2
ở vị trí S2 trên đó có nhà ông Huỳnh Văn C xây dựng cơi nới thêm và hiện do
vợ chồng con trai của C là Huỳnh Anh T1 đang ở thuộc thửa đất số 217 và thửa đất số
217.1, tờ bản đồ số 01 tại xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của cha mẹ thì ông là
không đồng ý chia cho Bà Th. Ông chỉ đồng ý chia cho bà Huỳnh Thị Th phần diện tích
đất S5 giáp mương thủy lợi và trụ điện cao thế. Trên phần diện tích đất này có 01 cái
quán tạm sườn sắt lợp tôn của ông xây dựng, ông sẽ tự tháo dỡ để giao đất lại cho Bà Th
nếu Bà Th đồng ý nhận phần đất này.
Đối với ngôi nhà xây nhỏ mà bà Huỳnh Thị Th sử dụng khi mẹ ông còn sống có
nguồn gốc là nhà của ông xây dựng cho mẹ bà Nguyễn Thị H1 sử dụng làm nơi tráng
bánh tráng để bán (có mượn 01 bên tường nhà của em Huỳnh Văn C kế bên). Khi mẹ
4
già yếu không tráng bánh được nữa thì nhà bỏ không nên bà Huỳnh Thị Th về sửa lại
để ở, thời gian sau thì Th làm nhà nơi khác và chuyển đi. Hiện nay nhà xuống cấp hư
hỏng, chỉ còn lại mấy bức tường không sử dụng được nữa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị V trình bày tại bản tự
khai:
Bà thống nhất về thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế và di sản thừa kế của cha
mẹ để lại. Trên mảnh đất số 217 do bà Nguyễn Thị H1 đứng tên đã có 4 căn nhà gồm
nhà do Huỳnh Thị Ch hiện tại đang ở, nhà của cha mẹ hiện ông Huỳnh Công D đang
ở và thờ phượng ông bà, căn nhà bà Huỳnh Thị Th đang sử dụng đã đóng cửa để đi
làm nhà nơi khác (đã hư hỏng) và căn nhà Huỳnh Văn C đang sử dụng từ trước đến
nay. Ngoài ra trên phần đất có ký hiệu S2 ông C đã cơi nới một căn phòng và sử dụng
diện tích xung quanh khoảng 400m² để trồng cây lâu năm (từ sau về trước giáp trục
đường P). Bà mong muốn được nhận toàn bộ phần đất này. Bà Huỳnh Thị V chỉ đồng
ý chia cho bà Huỳnh Thị Th phần diện tích đất trống giáp mương thủy lợi và trụ điện
cao thế (phần đất có ký hiệu S5).
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2025/DS-ST ngày
26-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng) đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 609, Điều 610, Điều 612, Điều 613, Điều 617, Điều 618, Điều 650, Điều 651,
Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30-12-2016 quy định về mức miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Th và bà Huỳnh
Thị Ch (người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Ch là ông Trần Văn B ông Trần Nhật L
và bà Trần Hoàng Nhật Hu) về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Huỳnh Ch1 và
cụ Nguyễn Thị H1 theo pháp luật, gồm có thửa đất số 217 và 217.1, tờ bản đồ số 01
tại thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AN 9663A1 và số AN 9663A2 do Ủy ban nhân dân thành phố Tam Kỳ cấp cùng
ngày 31/12/2008 cho hộ bà Nguyễn Thị H1. Di sản được phân chia như sau:
- Ông Trần Văn B, ông Trần Nhật L và bà Trần Hoàng Nhật Hu (là chồng, con
của bà Huỳnh Thị Ch) nhận quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu S1, diện tích 169m
2
,
trị giá 679.431.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn
đồng). Trong đó có 38,1m
2
đất cây lâu năm nằm trong chỉ giới đường T, 40m
2
đất ở và
90,9m
2
đất cây lâu năm. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 của ông B, bà Ch.
- Ông Huỳnh Công D nhận quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu S3, diện tích
1095,5m
2
, trị giá 2.197.964.500 đồng (Hai tỷ một trăm chín mươi bảy triệu chín trăm
sáu mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Trong đó có: 54m
2
đất cây lâu năm nằm trong
chỉ giới đường T, 40m
2
đất ở và 1.001,5m
2
đất cây lâu năm. Trên đất có ngôi nhà xây
cấp 4 lợp ngói của cụ Ch và cụ H1 để lại và căn phòng sử dụng để ở của ông D;
- Ông Huỳnh Văn C nhận quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu S4, diện tích
631,7m
2
, trị giá 1.437.796.300 đồng (Một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm chín
mươi sáu nghìn ba trăm đồng). Trong đó có 52m
2
đất cây lâu năm nằm trong chỉ giới
đường T, 40m
2
đất ở và 539,7m
2
đất cây lâu năm. Trên đất có ngôi nhà xây cấp 4 cũ
5
của vợ chồng ông Huỳnh Văn C và bà Trần Thị Hà E.
- Bà Huỳnh Thị Th nhận quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu S2, diện tích
209,2m
2
, trị giá 745.318.800 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm mười tám
nghìn tám trăm đồng). Trong đó có 41,5m
2
đất cây lâu năm nằm trong chỉ giới đường
T, 40m
2
đất ở và 127,7m
2
đất cây lâu năm;
Giao cho bà Huỳnh Thị Th nhận và sở hữu số tài sản gắn liền với phần đất ký
hiệu S2, gồm: ngôi nhà cấp 4 kết cấu tường xây, nền gạch men, lợp tôn (gồm: nhà
trước diện tích 27,3m
2
, nhà sau diện tích 16,5m
2
); mái che lợp tôn, xà gồ sắt phía trước
nhà diện tích 29,15m
2
; mái che lợp tôn, xà gồ sắt giáp đường T diện tích 17,85m
2
; sân
xi măng diện tích 97,13m
2
và hàng rào xây gạch + lưới B40 dài 15,1m; 01 cây lộc
vừng, 01 cây mai, 01 cây mít, một cây ổi, 05 cây cau nhỏ mới trồng. Tổng trị giá nhà
ở, vật kiến trúc và cây trồng gắn liền với đất là 190.637.140 đồng (Một trăm chín mươi
triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi đồng).
Công nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị Th thối trả cho ông Huỳnh Văn C
giá trị nhà ở, vật kiến trúc và cây trồng gắn liền với phần đất ký hiệu S2 là 190.637.140
đồng (Một trăm chín mươi triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi đồng).
- Bà Huỳnh Thị V nhận quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu S5, diện tích
380,7m
2
, trị giá 1.026.407.300 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm
lẻ bảy nghìn ba trăm đồng). Trong đó có 62,7m
2
đất cây lâu năm nằm trong chỉ giới
đường T, 40m
2
đất ở và 278m
2
đất cây lâu năm, trên đất có quán tạm kết cấu trụ sắt,
xà gồ sắt, nền xi măng, mái lợp tôn, diện tích 46,5m
2
của ông Huỳnh Công D.
Buộc ông Huỳnh Công D phải tháo dỡ quán tạm trên diện tích đất S5 giao cho
bà Huỳnh Thị V.
(có sơ đồ vị trí, tọa độ diện tích đất kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Huỳnh Văn C, người liên quan là ông Huỳnh
Công D và bà Huỳnh Thị V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn
phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng
các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc
chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định
của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 310
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh
Văn C, người liên quan là ông Huỳnh Công D và bà Huỳnh Thị V, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 26-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng
cáo giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
2. Xét kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn C, người liên quan là ông Huỳnh
Công D và bà Huỳnh Thị V thì thấy:
2.1/ Về thủ tục tố tụng: Việc kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn C, người liên
quan là ông Huỳnh Công D và bà Huỳnh Thị V được thụ lý đúng điều kiện, thủ tục và
thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên kháng cáo là hợp
pháp.
2.2/ Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế đối với di
sản của cụ Huỳnh Ch1 và cụ bà Nguyễn Thị H1 thì thấy:
Cụ Huỳnh Ch1 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị H1 (chết năm 2010) sinh được
05 người con gồm: ông Huỳnh Công D, bà Huỳnh Thị V, ông Huỳnh Văn C, bà Huỳnh
Thị Ch (chết năm 2021) và bà Huỳnh Thị Th. Cha mẹ của cụ Ch cụ H1 đều chết trước
hai cụ. Cụ Ch cụ H1 chết không để lại di chúc. Do đó di sản của cụ Ch cụ H1 được chia
thừa kế theo pháp luật.
Các bên đương sự đều thừa nhận di sản của cụ Ch và cụ H1 để lại gồm 01 ngôi
nhà xây lợp ngói gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 217 và thửa đất số
217.1, diện tích đất lần lượt là 1248m
2
và 1328m
2
, loại đất ở và đất trồng cây lâu năm,
thuộc tờ bản đồ số 01 tại xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Nguyên thửa đất 217 và thửa đất số 217.1 được tách
ra từ thửa đất số 217, tờ bản đồ số 1, diện tích 2576 m
2
đã được Ủy ban nhân dân thị
xã Tam Kỳ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ hồ Nguyến Thị H1 ngày
16/7/1997. Đối với diện tích đất tăng thêm chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, các đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa
kế của cụ Ch và cụ H1 để lại cho những người thuộc hàng thừa kế bằng quyền sử dụng
đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C, bà V, ông D đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc phân chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại, tuy nhiên các ông bà
không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về việc giao cho bà Huỳnh Thị Th
nhận và sở hữu tài sản gắn liền với phần đất ký hiệu S2, gồm: ngôi nhà cấp 4 kết cấu
tường xây, nền gạch men, lợp tôn; mái che và cây cối gắn liền trên đất. Đối với phần
di sản được chia cho bà Ch, ông C, ông D các đương sự thống nhất không ai có ý kiến
gì.
- Xét việc tách thửa để chia bằng quyền sử dụng đất thì thấy:
Tại Công văn số 1276 ngày 20/8/2026 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XI đã cung cấp thông tin về điều kiện tách thửa “Việc tách thửa đất phải đảm
bảo các điều kiện và diện tích, kích thước tối thiểu khi tách thửa theo quy định tại Điều
5 và 6 Quyết định số 75/2026/QĐ UBND ngày 30/5/2026 của UBND thành phố Đà
Nẵng về Ban hành Quy định về một số nội dung thuộc lĩnh vực đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng”. Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày
7
19/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (có hiệu lực tại thời điểm xét xử sơ
thẩm) để phân chia di sản là quyền sử dụng đất. Tuy nhiên hiện nay Quyết định số
28/QĐ-UBND ngày 19/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã bị thay thế
bởi Quyết định số 75/2026/QĐ UBND ngày 30/5/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng.
Các bên tranh chấp chia thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 217 và
thửa đất số 217.1, diện tích đất lần lượt là 1248m
2
và 1328m
2
, loại đất ở và đất trồng
cây lâu năm, thuộc tờ bản đồ số 01 tại phường H, thành phố Đà Nẵng (xã T, thành phố
T tỉnh Quảng Nam cũ) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Hai
thửa đất này được tách ra từ thửa đất số 217, tờ bản đồ số 1, diện tích 2576 m
2
đã được
Ủy ban nhân dân thị xã Tam Kỳ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ
Nguyến Thị H1 ngày 16/7/1997. Khi tách thửa năm 2008, trên thửa đất 217 ngoài căn
nhà của cụ H1 cụ Ch còn có 01 căn nhà của ông C xây dựng từ trước năm 2000; việc
tách thửa ảnh hưởng đến ngôi nhà của ông C (ngôi nhà nằm trên hai thửa đất 217 và
217.1) nhưng chưa có ý kiến của ông C về việc tự nguyện tháo dỡ phần nhà bị ảnh hưởng
bởi việc tách thửa. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C không đồng ý tháo dỡ ngôi nhà vì đó
là nơi sinh sống duy nhất của gia đình ông. Ngoài ra cấp sơ thẩm đã phân chia thừa kế
bằng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 217 và thửa đất số 217.1 trong khi hai
thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng biệt dẫn đến có
phần đất được phân chia cho một người thừa kế nằm trên hai thửa đất là chưa đảm bảo
về điều kiện tách thửa. Do đó cần thiết phải xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp năm 2008 cho hộ bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 217 và
thửa đất số 217.1, diện tích đất lần lượt là 1248m
2
và 1328m
2
, loại đất ở và đất trồng
cây lâu năm, thuộc tờ bản đồ số 01 tại xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là
phường H, thành phố Đà Nẵng) và xem xét về hạn mức đất ở, điều kiện tách thửa theo
Quyết định số 75/2026/QĐ UBND ngày 30/5/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng để
có căn cứ phân chia di sản thừa kế bằng quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của các đương sự.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử kết luận: có tình tiết mới phát sinh tại
phiên tòa phúc thẩm chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc
thẩm không thực hiện bổ sung được, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 310
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo bị đơn
ông Huỳnh Văn C, người liên quan là ông Huỳnh Công D và bà Huỳnh Thị V, hủy
toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 70/2025/DS-ST ngày 26-5-2025 của Tòa án nhân
dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà
Nẵng); chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 –
Đà Nẵng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo của ông Huỳnh Văn C, ông Huỳnh Văn
Dũng và bà Huỳnh Thị V được chấp nhận nên ông C, ông D và bà V không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan là ông Huỳnh Văn Dũng và bà Huỳnh Thị V, hủy bản án dân sự sơ thẩm số:
8
70/2025/DS-ST ngày 26-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng). Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân
khu vực 5 – Đà Nẵng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn C, ông Huỳnh Văn D và bà Huỳnh
Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn lại cho ông C số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002027 ngày
12/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND KV 5 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS KV 5 - Đà Nẵng;
- Thi hành án DS TP Đà Nẵng
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Võ Thị Minh Phượng
TM.
HỘI
ĐỒNG
XÉT
XỬ
PHÚC
THẨM
THẨM
PHÁN
- CHỦ
TỌA
PHIÊN
TÒA
Võ
Thị
Minh
Phượng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Minh Phượng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Võ Thị Minh Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 286/2026/DS-PT Bản án số 286/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 286/2026/DS-PT Bản án số 286/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất