Bản án số 110/2023/KDTM-PT ngày 17/10/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2023/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 110/2023/KDTM-PT ngày 17/10/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 110/2023/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/10/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 110/2023/KDTM-PT
Ngày: 17 - 10 - 2023
V/v: “Tranh chấp quyền sở hữu trí
tuệ”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm pn - Ch ta phn tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán: Ông Mai Xuân Thành
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Thư phiên a: Trần Thị Kim Yến - Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm ng khai vụ án kinh doanh
thương mại thụ số: 55/2023/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc
“Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 01/2023/KDTM-ST ngày
20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2087/2023/-PT
ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: N (CH); địa chỉ: Thụy Sỹ.
Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mai Duy L, sinh năm
1985 (có mặt)
Địa chỉ: Tầng x9, Tòa nhà Văn phòng x789, số x147 H, phường N, quận
C, Thành phố Hà Nội.
Ông L ủy quyền lại cho:
1/Ông Bạch Hoàng G1, sinh năm 1990 (có mặt)
2/Và/ hoặc bà Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng x9, Tòa nhà Văn phòng x789, số x147 H,
phường N, quận C, Thành phố Hà Nội.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật
Xuân L1 - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (có mặt).
2
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (nay Công ty Cổ phần) Dược
phẩm Đ1;
Địa chỉ: M7A, đường D17, Khu công nghiệp M, phường T, thị B,
tỉnh Bình Dương.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn:
1/Ông Vũ Tuấn L2, sinh năm 1991 (có mặt)
2/Và/hoặc bà Từ Thị Hồng H3, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Đ - Tầng x5, tháp A B
Tòa nhà I, số 203 N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội.
Ngƣời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nhâm Mạnh
H3 - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (có mặt).
- Ngƣời kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần dược phẩm Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/12/2015, đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày
18/12/2015, đơn đề nghị bổ sung, sửa đổi đơn khởi kiện ngày 06/01/2016, trong
quá trình hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, ngƣời đại theo ủy quyền của nguyên
đơn trình bày:
Nguyên đơn chủ s hu Bằng độc quyn sáng chế s 5529, bo h cho,
bao gồm nhưng không giới hn hot cht Vildagliptin. Với cách chủ s
hữu văn bằng sáng chế đang hiệu lực, nguyên đơn đầy đủ các quyền được
quy định tại các Điều 123.1; 125.1 Lut S hu ttu 2005, sửa đổi b sung
năm 2009 như: Độc quyn s dng và quyền ngăn cấm người khác s dng sáng
chế đang được bo h.
Bng sáng chế bo h cho hot chất Vildagliptin cũng đã được cp cho
nguyên đơn tại rt nhiu quc gia trên thế gii, bao gm các quc gia như Nht
Bn, Liên minh châu Âu Hoa K (các văn bng JP3681110, EP1137635B1
US6166063). Các văn bằng này các văn bng sáng chế tương đương vi
Bằng độc quyn sáng chế 5529 được bo h ti Vit Nam.
Theo Điều 126.1 Luật Sở hữu trí tuệ, mọi hành vi sử dụng hoạt chất
Vildagliptin đang được bảo hộ theo sáng chế của Novartis không được phép
của Novartis, bao gồm nhưng không giới hạn bởi hành vi sản xuất, kinh doanh
sản phẩm chứa hoạt chất Vildagliptin cũng như nhập khẩu hoạt chất Vildagliptin
đều là hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế.
Đầu năm 2015, nguyên đơn đã phát hiện bị đơn đang sản xuất và kinh
doanh sản phẩm thuốc Vigorito chứa hoạt chất vildagliptin. Sản phẩm thuốc
Vigorito số đăng ký VD-21482-14, cấp theo Quyết định s437/QĐ-QLD
ngày 12 tháng 08 năm 2014 bởi Cục Quản lý dược Việt Nam cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn (nay Công ty Cổ phần) Dược phẩm Đ1 (gọi tắt là Công ty Đ1
hay Công ty DAVI PHARM). Thanh Tra Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam
đã Kết luận thanh tra số 323/KL-TTra ngày 06/7/2015 Quyết định số
3
12/QĐ-TTra ngày 11/01/2016 về việc giải quyết khiếu nại đối với Kết luận
thanh tra số 323/KL-Ttra kết luận hành vi bị đơn xâm phạm Bằng độc quyn
sáng chế s 5529 của nguyên đơn khi sản xuất kinh doanh sản phẩm thuốc
Vigorito.
Cục Sở hữu trí tuệ với cách quan quản lý Nhà nước về sở hữu t
tuệ, trong n bản số 5514/SHTT-TTKN đề ngày 25/6/2015 bởi Cục trưởng
Cục Sở hữu trí tuệ cũng đã kết luận rằng dược phẩm Vigorito chứa hoạt chất
Vildagliptin với hàm lượng 50mg do Công ty Đ1 sản xuất, chứa yếu tố xâm
phạm hoạt chất Vildagliptin, sản phẩm thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế được
xác định theo Bằng độc quyền sáng chế số 5529, cấp ngày 15/03/2006, cho chủ
bằng N (CH)”.
Trong quá trình giải quyết lại vụ án, giám định viên độc lập ông
Huy A được Tòa án trưng cầu giám định cũng đã ra kết luận giám định khẳng
định sản phẩm thuốc Vigorito 50mg (do Công ty Đ1 sản xuất) yếu tố xâm
phạm quyền đối với sáng chế đang được bảo hộ tại Bằng độc quyền sáng chế số
5529 của Novartis.
Bị đơn đã tham gia gói thầu thuốc theo tên generic 2015 để cung cấp sản
phẩm thuốc Vigorito vi phạm cho các sở y tế công lập tại Thành phố Hồ C
Minh mặc quan Thanh tra Bộ Khoa học Công nghệ đã yêu cầu bị đơn
dừng các hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm thuốc Vigorito. Theo
Quyết định số 3464/QĐ-SYT của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn cung
cấp 190.000 viên thuốc Vigorito chứa hoạt chất Vildagliptin với giá 7.600
đồng/viên trong năm 2016 cho địa phương này. Bên cạnh đó, bị đơn có thể cũng
đã phối hợp với một doanh nghiệp khác tham gia gói thầu thuốc tại Sở Y tế tỉnh
Thanh a. quan này cũng đã phê chuẩn Gói thầu 1, Nhóm 3, theo đó,
51.000 viên thuốc Vigorito của bị đơn sẽ được cung cấp cho các sy tế của
tỉnh Thanh Hóa trong năm 2016. Việc bị đơn chào hàng, tham gia gói thầu
chuẩn bị cung cấp dược phẩm mang nhãn hiệu Vigorito theo gói thầu đã trúng
không những vi phạm Kết luận thanh tra số 323/KL-TTra ngày 06/7/2015,
Quyết định giải quyết khiếu nại số 12/QĐ-TTra còn tiếp tục cấu thành hành
vi xâm phạm Bằng độc quyn sáng chế s 5529 theo quy định tại Điều 126.1
Luật Sở hữu trí tuệ.
Do bị đơn sản xuất thời gian dài và phân phối sản phẩm rất nhiều địa
phương khác nhau nên đến nay nguyên đơn chưa thể thống hết số lượng sản
phẩm Vigorito bị đơn đã sản xuất phân phối cũng như các thông tin, tài liệu
khác phục vụ cho việc tính toán một phần mức thiệt hại nguyên đơn phải
gánh chịu. vậy căn cứ vào Điều 205.1(c) Luật Sở hữu trí tuệ, nguyên đơn đề
nghị Tòa án buộc bị đơn bồi thường mức thiệt hại ban đầu 500.000.000 đồng
đối với những thiệt hại mà nguyên đơn phải gánh chịu phát sinh từ việc xâm
phạm quyền trong thời gian có hiệu lực của Bằng đc quyn sáng chế s 5529.
Do hành vi xâm phạm quyền của bị đơn, nguyên đơn đã phải bỏ ra
300.000.000 đồng để thuê luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
trong vụ án này. Theo quy định tại Điều 205.3, Luật Sở hữu trí tuệ về căn cứ xác
4
định mức bồi thường thiệt hại, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản
chi phí hợp 300.000.000 đồng mà nguyên đơn đã phải bỏ ra để thuê Luật
sư.
Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế thực hiện bởi bị đơn không
những trực tiếp gây thiệt hại lớn về vật chất cho nguyên đơn còn ảnh hưởng
đến uy tín và danh tiếng của nguyên đơn với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của
Bằng độc quyn sáng chế s 5529. Do đó, theo quy định tại Điều 202.2 Luật Sở
hữu trí tuệ, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải xin lỗi công khai nguyên đơn trên
các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể đăng lời xin lỗi công khai trên
Tạp chí Dược và Mỹ phẩm, Tạp chí Sức khỏe và Đời sống và trên ba số báo liên
tiếp của báo Thanh niên về hành vi xâm phạm quyền.
Toàn bộ các sản phẩm thuốc Vigorito được sản xuất bởi bị đơn đều được
quan chức năng kết luận xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyn sáng
chế s 5529. Những sản phẩm này không đáp ứng các điều kiện để phân phối
trên thị trường với mục đích phi thương mại theo quy định tại Điều 30.1 của
Nghị định 105/2006/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định
119/2010/NĐ-CP. Như vậy, căn cứ theo Điều 202.5 của Luật Sở hữu trí tuệ
các Điều 29.1 31 Nghị định 105/2006/NĐ-CP nguyên đơn đề nghị Tòa án
buộc bị đơn phải tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc Vigorito còn tồn kho các
nguyên liệu, vật liệu các phương tiện chính được sử dụng để sản xuất, kinh
doanh sản phẩm xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 5529.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện “Chấm
dứt các hành vi nhập khẩu, sản xuất, khai thác công dụng, lưu thông, buôn bán,
vận chuyển, quảng cáo, chào hàng tàng trữ để lưu thông các sản phẩm xâm
phạm Bằng độc quyền sáng chế 5529” thành “Tuyên bị đơn hành vi vi phạm
bằng độc quyền sáng chế 5529 của nguyên đơn trong thời gian văn bằng có hiệu
lực (trước ngày 09/12/2019) xin rút c yêu cầu xin lỗi trên tạp chí Dược
Mỹ Phẩm, rút yêu cầu tiêu hủy sản phẩm vi phạm rút yêu cầu rút số đăng ký
lưu hành thuốc của bị đơn, giữ nguyên các yêu cầu còn lại.
Ngƣời đại diện theo y quyền bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn (nay
là Công ty Cổ phần) dƣợc phẩm Đ1 trình bày: Bị đơn không đồng ý với các yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi các lý do sau:
Đơn khởi kiện cho rằng Công ty Đ1 đã vi phạm quyền shữu trí tuệ liên
quan đến Bằng độc quyn sáng chế s 5529 khi sản xuất thuốc Vigorito chứa
hoạt chất Vildagliptin, tuy vậy trước khi quyết định đăng lưu hành và sản
xuất sản phẩm thuốc Vigorito, Công ty Đ1 đã tiến hành công tác tra cứu thông
tin sáng chế trên sở dữ liệu sáng chế được công bố bởi Cục Sở hữu trí tuệ
các quan liên quan. Tuy nhiên, kết quả tra cứu lại không tìm thấy bất kỳ
thông tin nào liên quan cho thấy hợp chất Vildagliptin dạng tinh thể đã được bảo
hộ dưới hình thức sáng chế/giải pháp hữu ích (viết tắt SC/GPHI).
Sau đó, đại diện của Công ty Đ1 đã tiến hành nộp đơn yêu cầu cung cấp
thông tin SC/GPHI số CCTT1 - 2015 - 00014 ngày 17/4/2015 về hoạt chất
5
Vildagliptin tại Cục Sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó ngày 23/4/2015 Cục Sở hữu trí
tuệ đã ra Văn bản số 3309/SHTT/TT thể hiện không tìm thấy thông tin liên
quan đến việc hoạt chất Vildagliptin đã được cấp bằng độc quyền SC/GPHI.
Công ty Đ1 đã tiến hành các thủ tục luật định để sản xuất lưu hành
thuốc Vigorito. Công ty Đ1 đã được Cục Quản Dược - Bộ Y tế cấp số đăng
u nh cho sản phẩm thuốc Vigorito VD-21842-14 theo Quyết định số
437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014. Hồ xin đăng lưu hành thuốc Vigorito của
Công ty Đ1 đã được thẩm định nghiêm ngặt phù hợp với quy định tại Thông
số 22/2009/TT-BYT ngày 21/11/2009 của Bộ Y tế quy định việc đăng ký thuốc,
theo đó hồ sơ đăng ký thuốc phải tuân thủ theo Bộ tài liệu hướng dẫn hồ sơ đăng
thuốc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật chung của hiệp hội các nước Đông Nam
Á Thường gọi là Hồ sơ Kỹ thuật chung ASEAN (ACTD).
Đối với nguyên liệu chính của thuốc Vigorito tên chung quốc tế (INN)
Vildagliptin, theo phiếu kiểm nghiệm dược chất của nhà sản xuất nguyên liệu
đã nộp theo hồ đăng thuốc, thể hiện đặc tính của nguyên liệu chính tên
chung quốc tế Vildagliptin của thuốc Vigorito chính Vildagliptin dạng tinh
thể.
Phía đại diện của N cho rằng phạm vi bảo hộ của Bằng độc quyn sáng
chế s 5529 bảo hộ cho hoạt chất Vildagliptin bao gồm các dạng trong đó
dạng tinh thể không sở. Khi xem xét Bằng độc quyn sáng chế s 5529
và ngay cả bản mô tả của nguyên đơn, bị đơn cũng nhận thấy không có bất cứ đề
cập nào rằng phạm vi/yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số 5529 do
Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 15/3/2006 bảo hộ hoạt chất Vildagliptin ở mọi dạng
bao gồm cả dạng tinh thể.
Bằng độc quyn sáng chế 5529số 5529 được cấp ngày 15/3/2006 trên
sở đơn PCT số PCT/EP99/09708, nộp đơn ngày 09/12/1999 (yêu cầu hưởng ưu
tiên từ quốc gia cơ sở đơn sáng chế Hoa Kỳ số 09/209,068 nộp ngày
10/12/1998). Cách tự diễn giải của phía N rằng Bằng độc quyn sáng chế s
5529 bảo hộ cho các dạng đa hình, định hình, tinh thể, dạng khan thì ràng
được coi vượt quá phạm vi xin bảo hộ của sáng chế được yêu cầu hưởng ưu
tiên từ quốc gia cơ sở đơn sáng chế Hoa Kỳ số 09/209,068 nộp ngày
10/12/1998, bởi quốc gia sở Hoa kỳ đã cấp bằng độc quyền sáng chế cho
hoạt chất Vildagliptin không thể hiện nội dung bảo hộ cho các dạng các dạng đa
hình, vô định hình và tinh thể.
Phía Novatis AG còn khẳng định rằng Bằng độc quyn sáng chế s 5529
bảo hộ cho Vildagliptin dưới mọi dạng (không giới hạn). Lập luận này chưa
có cơ sở. Cho nên, để minh chứng rằng các giải pháp kỹ thuật dạng mới của một
hợp chất hóa học đã biết gồm dạng đa hình, tinh thể… nếu đáp ứng các tiêu chí
về: (i) Tính mới; (ii) Có trình độ sáng tạo; (iii) có khả năng áp dụng công nghiệp
thì vẫn được bảo hộ sáng chế độc lập với sáng chế bảo hộ cho hợp chất hóa học
đã biết theo khoản 1 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung
năm 2009.
6
Do vậy, Bằng độc quyn sáng chế s 5529 tại Việt Nam bảo hộ cho hoạt
chất Vildagliptin đương nhiên phạm vi bảo hộ của không được coi xin bảo
hộ cho các dạng đa hình, định hình, tinh thể, dạng khan của Vidagliptin bởi
toàn bộ nội dung của Bằng đc quyn sáng chế s 5529 đã không tả cụ thể
về các dạng đa hình, vô định hình, tinh thể, dạng khan của Vidagliptin được xác
định bởi các thông số vật như: Nhiễu xtia bột X, phổ khối, phổ cộng hưởng
từ, phổ hồng ngoại,...
Quá trình tra cứu thông tin đối với Bằng độc quyn sáng chế 5529 liên
quan đến hoạt chất Vildagliptin, bị đơn phát hiện thấy tại Hoa kỳ (Quốc gia
sở của đơn số 09/209,068 nộp ngày 10/12/1998 đơn yêu cầu hưởng quyền ưu
tiên của Bằng độc quyn sáng chế s 5529 tại Việt Nam) quan Sáng chế
Nhãn hiệu Hoa Kỳ (“USPTO”) cấp Bằng độc quyn sáng chế 5529 số
US8,877,799 B2 cho EGIS GYOGYSZERGYAR NYIVANOSAN MUKODO
RESZVENYTARSASAG đối với hoạt chất Vildagliptin dạng tinh thể. Việc bảo
hộ đối với sáng chế số US8,877,799 B2 (cho chủ thể Hungary được cấp tại cùng
quốc gia Hoa Kỳ) cho dạng tinh thể của Vildagliptin tính mới so với số
09/209,068 nộp ngày 10/12/1998, mà tính mới chính là một trong những tiêu chí
điều kiện để xem xét khi cấp bằng độc quyền sáng chế, đương nhiên khi
không dấu hiệu trùng t việc yêu cầu bảo hộ đối với dạng tinh thể của
Vildagliptin của chủ văn bằng theo đơn số PCT/HU 2010/000106 có tính mới
so với đơn số 09/209,068 nộp ngày 10/12/1998 của N và đây là hai sáng chế độc
lập liên quan đến hợp chất Vildagliptin. Trong đó quan sáng chế nhãn
hiệu Hoa kỳ đã cấp hai bằng độc quyền sáng chế liên quan đến hoạt chất
Vildagliptin cho hai chthể ràng chủ thể được bảo hộ Vildagliptin dạng
tinh thể là một chủ thể Hungary chứ không phải N.
Trong quá trình đưa ra lập luận của mình tại quan thẩm quyền cũng
như tại yêu cầu khởi kiện phía N cho rằng “Hợp chất Vildagliptin mọi hình
thức đều thuộc phạm vi bảo hộ của Bằng độc quyn sáng chế s 5529 bao gồm
các dạng định hình, đa hình, tinh thể, dạng khan các dạng khác của
Vildagliptin(bảo hộ không giới hạn) đồng nghĩa với việc khi so sánh phạm vi
bảo hộ của Bng độc quyn sáng chế 5529 số US8,877,799 B2 (được quan
Sáng chế Nhãn hiệu Hoa Kỳ cấp cho chủ thể Hungary cho Vildagliptin dạng
tinh thể) với đơn số 09/209,068 nộp ngày 10/12/1998 (không xin bảo hộ cho
Vildagliptin dạng tinh thể nhưng đơn sở, đơn được đề nghị hưởng quyền
ưu tiên đối với đơn tại Việt Nam), thì ràng Bằng độc quyền sáng chế số 5529
đã vượt quá phạm vi bảo hộ - phải bị vô hiệu. Cơ sở pháp để đưa ra lập
luận nêu trên:
Theo quy định tại Điểm 61 của Thông tư 30/2003/TT-BKHCN ngày
05/11/2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về việc sửa đổi, bổ sung
tài liệu trong Giai đoạn quốc gia:
Phù hợp với Quy tắc 51bis Quy chế thi hành Hiệp ước PCT, người nộp
đơn phải nộp giấy ủy quyền, giấy chuyển nhượng quyền nộp đơn trong Giai
đoạn quốc tế (nếu có)… trong thời hạn 34 tháng kể từ ngày ưu tiên.
7
Phù hợp với Điều 28 và Điều 41 Hiệp ước PCT các quy tắc 52.1 (b)
78.1 (b) Quy chế thi hành Hiệp ước PCT, trong Giai đoạn quốc gia Người nộp
đơn thể sửa đổi, bsung các tài liệu của Đơn theo quy định tại Điểm 31
Thông tư này. Ngay tại thời điểm vào giai đoạn quốc gia, người nộp đơn cũng
thể sửa đổi, bổ sung bản tả phù hợp với quy định tại Điểm 31 Thông
này.
Điểm 31.2 của Thông tư cũng quy định:
31.2. Việc sửa đổi, bổ sung đơn không được mở rộng phạm vi (khối
lượng) bảo hộ vượt quá nội dung đã bộc lộ trong phần mô tả và không được làm
thay đổi bản chất của đối tượng nêu trong đơn cũng như đảm bảo tính thống
nhất của đơn. Nếu việc sửa chữa làm mở rộng phạm vi (khối lượng) bảo hộ hoặc
làm thay đổi bản chất đối tượng thì người nộp đơn phải nộp đơn mới và mọi thủ
tục được tiến hành lại từ đầu.
Do đó, phạm vi xin bảo hộ của sáng chế tại Việt Nam trên sở đơn sáng
chế vào quốc gia Việt Nam theo hiệp ước hợp tác sáng chế quốc tế (PCT),
yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ quốc gia sở không được vượt quá phạm vi
(khối lượng) bảo hộ hoặc làm thay đổi bản chất đối tượng của sáng chế được
yêu cầu quyền ưu tiên từ quốc gia cơ sở đó.
Suy ra rằng các điểm yêu cầu bảo hộ như trình bày của N thuộc Bằng độc
quyn sáng chế s 5529 đã không đáp ứng điều kiện để được bảo hộ sáng chế tại
Việt Nam.
không được bảo hộ nên bị đơn khẳng định Công ty Đ1 không sự vi
phạm nên bị đơn không cần thiết đưa ra các căn cứ để phản bác c yêu cầu
khác trong đơn khởi kiện mặc các yêu cầu này đã không được chứng minh
một cách thuyết phục.
Ngoài ra trong quá trình tố tụng, bị đơn yêu cầu Tòa án xác minh, thu
thập thêm chứng cứ, đảm bảo về nội dung cũng như tố tụng của vụ án là ủy thác
pháp để tiến hành trưng cầu ý kiến của quan Sáng chế Nhãn hiệu Hoa
Kỳ “USPTO”.
Tại Bản án kinh doanh thƣơng mại thẩm số 01/2023/KDTM-ST ngày
20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng đã quyết định nhƣ
sau:
1. Đình chỉ các phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị
đơn phải tiêu hủy toàn bsản phẩm thuốc Vigorito còn tồn kho các nguyên
liệu, vật liệu được sử dụng để sản xuất, kinh doanh sản phẩm xâm phạm Bằng
độc quyền sáng chế số 5529, buộc bị đơn rút số đăng lưu hành sản phẩm
thuốc Vigorito tại Cục Quản Dược, Bộ Y tế buộc bị đơn xin lỗi, cải chính
trên Tạp chí Dược và Mỹ phẩm.
2. Chấp nhận các yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn N (CH) đối
với bị đơn Công ty TNHH Dược phẩm Đ1 (nay là Công ty Cổ phần Dược phẩm
Đ1) về việc “tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ”.
8
2.1. Tuyên bố hành vi của bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 đã
hành vi xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 5529 của nguyên đơn trong thời
gian bằng độc quyền có hiệu lực (trước ngày 09/12/2019).
2.2. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 xin lỗi cải chính
công khai đối với nguyên đơn N (CH) trên Tạp chí Sức Khỏe và Đời Sống trong
03 kỳ liên tiếp về hành vi xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyền sáng chế
5529 trong thời gian bằng độc quyền hiệu lực (trước ngày 09/12/2019).
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn xin lỗi và cải chính trên
Báo Thanh Niên.
2.3 Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 phải bồi thường cho
nguyên đơn N (CH) các khoản sau:
- Bồi thường vật chất cho nguyên đơn N (CH) số tiền 500.000.000 đồng
(năm trăm triệu đồng) do hành vi xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế 5529 gây
ra trong thời gian bằng độc quyền có hiệu lực.
- Thanh toán cho nguyên đơn N (CH) số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm
triệu đồng) về khoản chi phí thuê luật sư.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn
phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí trưng cầu giám
định, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/4/2023 bị đơn Công ty cổ phần dược
phẩm Đ1 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Công ty cổ phần dược phẩm Đ1 (có ông
Tuấn L2 đại diện theo y quyền) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề
nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết lại vụ án với các
do: Thời điểm Tòa án thẩm thụ giải quyết lại vụ án thì bằng độc quyền
sáng chế đã hết hạn nên nguyên đơn không quyền khởi kiện; Về nội dung thì
bằng độc quyền sáng chế không bảo hộ hợp chất nên bị đơn không vi phạm. Thực
tế Cục Shữu trí tuệ cấp nhiều bằng độc quyền sáng chế đối với hợp chất này;
Tòa án cấp sơ thẩm không trưng cầu giám định của quan chun môn về việc
bằng bảo hộ sáng chế.
Nguyên đơn N (CH) (có ông Mai Duy L đại diện theo ủy quyền) vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý yêu cầu kháng cáo, đnghị Hội
đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận:
Ngƣời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Phía bị đơn bảo
lưu nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng vì
nguyên đơn không còn quyền khởi kiện, nhưng Tòa án cấp thẩm không đình
9
chỉ giải quyết vụ án không đúng quy định pháp luật, do thời điểm thụ lý lại vụ
án thì bằng bảo hộ sáng chế đã hết hiệu lực. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩmđình chỉ giải quyết vụ án.
Ngƣời bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho ngun đơn trình y: Nguyên
đơn đề nghị giữ nguyên bản án thẩm với các lý do sau:
- Nguyên đơn khởi kiện vụ án vào năm 2015. Tại thời điểm này thì Bằng
độc quyền sáng chế số 5529 vẫn còn hiệu lực. Mặc dù, Bằng độc quyền sáng chế
số 5529 đã hết hiệu lực vào năm 2019, nhưng việc Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương thụ lại vụ án do bản án thẩm lần 1 đã bị Tòa án cấp phúc thẩm
hủy, nên đây chỉ 01 vụ án. Do tại thời điểm hiện nay văn bằng sáng chế hết
hiệu lực, nên nguyên đơn chỉ yêu cầu xem xét hành vi vi phạm của bị đơn tại thời
điểm khởi kiện.
- Mặt khác, tại bản án phúc thẩm lần 1 thì a án cấp phúc thẩm cũng đã
xác định bị đơn có hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khi thụ lý lại vụ án,
Tòa án cấp thẩm đã trưng cầu giám định của quan chuyên môn kết
quả xác định là bị đơnhành vi vi phạm.
- Cục Sở hữu trí tuệ đã văn bản số 4446/SHTT-SC ngày 03/6/2022 cung
cấp thông tin v quá trình đăng thẩm định đơn yêu cầu cấp bằng độc
quyền sáng chế của Việt Nam và Hoa Kỳ là độc lập với nhau và không liên quan
nhau, quan Sáng chế Nhãn hiệu Hoa Kỳ không thẩm quyền tham gia
hay bất kỳ ý kiến nào về phạm vi bảo hộ tại Việt Nam của một Bằng độc
quyền sáng chế Việt nam nói chung cũng như phạm vi bảo hcủa Bằng độc
quyền sáng chế số 5529 nói riêng. Do đó, bị đơn yêu cầu phải trưng cầu ý kiến
của cơ quan sáng chế và Nhãn hiệu Hoa K là không ý nghĩa chứng minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng
theo quy định ca Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: V việc đã được đưa ra khởi kiện từ năm 2015, thời điểm
này Bằng độc quyền sáng chế số 5529 hiệu lực. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn
yêu cầu xem xét hành vi vi phạm của bị đơn trong thời gian có hiệu lực của văn
bằng bảo hộ, nên lời trình bày của bị đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm vi phạm
tố tụng không đúng. Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thì yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không cơ sở
chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp;
10
[1.1] Nguyên đơn N (CH) ch s hu Bằng độc quyn sáng chế s
5529, bo h cho, bao gồm nhưng không giới hn hot cht Vildagliptin. Năm
2015, nguyên đơn phát hiện bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn (nay Công
ty Cổ phần) Dược phẩm Đ1 đang sản xuất kinh doanh sản phẩm thuốc
Vigorito chứa hoạt chất vildagliptin. Sản phẩm thuốc Vigorito số đăng
VD-21482-14, cấp theo Quyết định số 437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014 bởi Cục
Quản dược Việt Nam, nên khởi kiện yêu cầu b đơn chấm dứt hành vi vi
phạm, bồi thường thiệt hại và xin lỗi, cải chính công khai.
Do Bằng đc quyn sáng chế s 5529 đã hết hiu lc t ngày 09/12/2019
(trước khi Tòa án cấp thẩm th ln 2 v án), nên nguyên đơn thay đổi nội
dung khởi kiện “Chấm dứt các hành vi nhập khẩu, sản xuất, khai thác công
dụng, lưu thông, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào hàng và tàng trữ để lưu
thông các sản phẩm xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế 5529” thành “Tuyên bị
đơn hành vi vi phạm bằng độc quyền sáng chế 5529 của nguyên đơn trong
thời gian văn bằng có hiệu lực (trước ngày 09/12/2019), xin rút các yêu cầu xin
lỗi trên tạp chí Dược và Mỹ Phẩm, rút yêu cầu tiêu hủy sản phẩm vi phạm và rút
yêu cầu rút số đăng lưu hành thuốc của bị đơn, giữ nguyên các yêu cầu n
lại.
[1.2] Bị đơn Công ty cổ phần dược phẩm Đ1 cho rằng các nội dung yêu
cầu bảo hộ ntrình bày của N thuộc Bằng độc quyn sáng chế s 5529 đã
không đáp ứng điều kiện để được bảo hộ sáng chế tại Việt Nam, nên bị đơn
không sự vi phạm. Mặt khác, Bằng độc quyn sáng chế s 5529 đã hết hiệu
lực ngày 09/12/2019, sau khi bản án thẩm lần 1 bị hủy, thì Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Dương thụ lại ngày 01/10/2020. Như vậy, thời điểm Tòa án thụ
lại vụ án t văn bằng độc quyền sáng chế 5529 đã hết hiệu lực nên nguyên đơn
không quyền khởi kiện bị đơn nữa. Căn cứ quy định tại Điều 7 của Luật sở
hữu trí tuệ, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án phải đình
chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2] Bản án sơ thẩm nhận định:
[2.1] Về tố tụng:
- Nguyên đơn đã đơn khởi kiện từ ngày 18/12/2015, đơn bổ sung đơn
khởi kiện ngày 18/12/2015, đơn đề nghị bổ sung, sửa đổi đơn khởi kiện ngày
06/01/2016 đối với hành vi xâm phạm của bị đơn theo Biên bản thanh tra về sở
hữu công nghiệp ngày 24/03/2015 Kết luận thanh tra số 323/KL-TTra ngày
06/07/2015 của Thanh tra Bộ khoa học Công nghệ trong thời điểm bằng
độc quyền sáng chế 5529 hiệu lực nên quyền khởi kiện theo quy định của
Luật Sở hữu trí tuệ. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thay đổi, rút mt phần
yêu cầu khởi kiện ban đầu cho phù hợp với thời hạn hiệu lực của bằng độc
quyền sáng chế 5529 nên nguyên đơn vẫn quyền yêu cầu khởi kiện theo quy
định pháp luật.
- Theo Văn bản số 4446/SHTT-SC ngày 03/6/2022 Cục Sở hữu trí tuệ đã
cung cấp thông tin về quá trình đăng ký thẩm định đơn yêu cầu cấp bằng độc
11
quyền sáng chế của Việt Nam và Hoa Kỳ là độc lập với nhau và không liên quan
nhau, quan Sáng chế Nhãn hiệu Hoa Kỳ không thẩm quyền tham gia
hay bất kỳ ý kiến nào về phạm vi bảo hộ tại Việt Nam của một Bằng độc
quyền sáng chế Việt nam nói chung cũng như phạm vi bảo hộ của Bằng độc
quyền sáng chế số 5529 nói riêng. Mặt khác, theo Thông báo giải quyết đơn đề
nghị giám đốc thẩm số 484/TB-TA ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân tối cao
chỉ xác định có vi phạm thủ tục tố tụng trong việc giám định mà không xác định
phải ủy thác pháp để tiến hành trưng cầu ý kiến của quan sáng chế
Nhãn hiệu Hoa Kỳ USPTO” như nhận định của Bản án phúc thẩm số
40/2020/KDTM-PT ngày 24/7/2020. Tòa án đã Văn bản số 44/TA-KT ngày
29/11/2022 trả lời không chấp nhận đề nghị của bị đơn về việc ủy thác tư pháp để
trưng cầu ý kiến của quan Sáng chế Nhãn hiệu Hoa Kỳ. Bị đơn đã nhận
được Văn bản số 44/TA-KT ngày 29/11/2022 và không khiếu nại. Do đó, bị đơn
yêu cầu Tòa án ủy thác pháp để tiến hành trưng cầu ý kiến của cơ quan sáng
chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ “USPTO” để làm phạm vi bảo hộ của Bằng độc
quyền sáng chế số 5529 là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Về nội dung:
- Theo Đăng bạ quốc gia sáng chế số 5529 xác định: Bằng độc quyền sáng
chế số 5529 ngày 15/3/2006 được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học
Công nghệ cấp cho N (CH) bảo hộ sáng chế đối với “Hợp chất 2-
XYANOPYROLIDIN được thế vị trí của Nitơ” với yêu cầu bảo hộ gồm 09
điểm từ trang 21 đến trang 22 của Bằng độc quyền sáng chế số 5529, thời hạn
hiệu lực đến ngày 09/12/2019.
Ngày 19/6/2015 đại diện của Công ty Đ1 là Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Dương và Đồng Sự có đơn yêu cầu hủy Bằng độc quyn sáng chế s 5529. Ngày
03/7/2018, Cục Sở hữu ttuệ ra đã Quyết định số 2156/QĐ-SHTT vviệc giải
quyết đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế với nội dung:
Không chấp nhận đề nghị của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dương và Đồng Sự
về việc hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyn sáng chế s 5529 của N bảo hộ sáng
chế “Hợp chất 2-XYANOPYROLIDIN được thế vị t của Nitơ”. vậy,
Bằng độc quyn sáng chế s 5529 hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Do Bằng độc quyn sáng chế số 5529 hết hiệu lực tại Việt Nam từ ngày
09/12/2019, nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ xác định các hành vi
của bị đơn xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyn sáng chế số 5529 trong
thời gian văn bằng có hiệu lực (trước ngày 09/12/2019), là không vượt quá phạm
vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
- Theo Biên bản thanh tra vsở hữu công nghiệp ngày 24/03/2015 Kết
luận thanh tra số 323/KL-TTra ngày 06/07/2015 của Thanh tra Bộ khoa học
Công nghệ thì bđơn hành vi xâm phạm Bằng độc quyn sáng chế s 5529.
Bị đơn khiếu nại kết luận thanh tra đã được giải quyết theo Quyết định số
12/QĐ-TTra ngày 11/01/2016 với nội dung không chấp nhận khiếu nại. Ngày
25/6/2015, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ có Văn bản số 5514/SHTT-TTKN kết
luận: Dược phẩm Vigorito chứa hoạt chất Vildagliptin với hàm lượng 50mg do
12
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Đ1 (nay Công ty Cổ phần Dược
phẩm Đ1, còn gọi là Công ty TNHH DAVI PHARM) sản xuất, chứa yếu tố xâm
phạm hoạt chất Vildagliptin, sản phẩm thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế được
xác định theo Bằng độc quyền sáng chế số 5529, cấp ngày 15/03/2006, cho chủ
bằng N (CH).
Theo khoản 1 Điều 14 Thông tư số 22/2009/TT-BYT ngày 21/11/2009
của Bộ Y tế quy định:“Cơ sở đăng thuốc chịu trách nhiệm về các vấn đề liên
quan đến sở hữu trí tuệ của thuốc đăng ký lƣu hành”. Do đó, Cục Quản lý Dược
- Bộ Y tế cấp sđăng lưu hành cho sản phẩm thuốc Vigorito VD-21842-14
của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Đ1 (nay Công ty Cổ phần
Dược phẩm Đ1) trên sở đánh giá an toàn, hiệu quả, chất lượng của thuốc
không nghĩa vụ xem xét phạm vi bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số
5529 cũng như các bằng sáng chế khác có liên quan (nếu có), nên Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Dược phẩm Đ1 (nay Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1) phải
chịu trách nhiệm đối với các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ của thuốc mình
đăng ký lưu hành.
Khi giải quyết lại vụ án (do bản án phúc thẩm số 40/2020/KDTM-PT hủy
bản án sơ thẩm lần 1), Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành trưng cầu giám định theo
quy định. Đối tượng gửi giám định 01 hộp thuốc hiệu Vigorito 50mg do bị
đơn cung cấp bản sao Bằng độc quyền sáng chế số 5529. Tại Kết luận ngày
14/10/2022 do Giám định viên độc lập ông Huy A kết luận: Hoạt chất
Vildagliptin mặt trong Sản phẩm thuốc Vigorito 50mg yếu tố xâm phạm
quyền đối với sáng chế đƣợc bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 5529 do
hoạt chất Vildagliptin TƢƠNG ĐƢƠNG với sản phẩm theo điểm 1,2 và TRÙNG
với sản phẩm theo điểm 4 yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số
5529”.
Từ những căn cứ trên, cơ sở xác định bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Dược phẩm Đ1 (nay là Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1) sử dụng sáng chế
được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ cấp Bằng độc quyền
sáng chế s 5529 cho N (CH) bảo hộ sáng chế đối với Hợp chất 2-
XYANOPYROLIDIN được thế vị trí của Nitơ” để sản xuất thuốc Vigorito
VD-21842-14 trước ngày 09/12/2019 hành vi xâm phạm quyền đối với Bằng
độc quyền sáng chế số 5529 trong thời gian văn bằng có hiệu lực.
- Do bđơn sử dụng Bằng độc quyền sáng chế số 5529 không được
phép của chủ shữu N (CH) vi phạm pháp luật về quyền sở hữu ttuệ, n
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về các biện pháp dân sự được quy định tại
Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ là có căn cứ chấp nhận. Cụ thể:
+ Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại về vật chất cho
nguyên đơn với số tiền 500.000.000 đồng. Xét, nguyên đơn không thể xác định
cụ thể mức bồi thường thiệt hại về vật chất do bị đơn đã sản xuất thuốc trong
thời gian dài phân phối nhiều địa bàn khác nhau nên việc nguyên đơn yêu
cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại về vật chất cho nguyên đơn với số tiền
13
500.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 202, điểm c khoản 1
Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ.
+ Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn chi phí thuê luật
300.000.000 đồng. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp 03 Hóa đơn gtrị
gia tăng với số tiền 502.297.274 đồng; Hợp đồng dịch vụ pháp ngày
30/01/2015 xác định phí Luật cho việc cung cấp các dịch vụ pháp là
300.000.000 đồng. Xét, việc nguyên đơn thuê luật thực hiện dịch vụ pháp
đã được xác định bằng hợp đồng ngày 30/01/2015, theo đó xác định phí Luật sư
cho việc cung cấp các dịch vụ pháp 300.000.000 đồng. Đây khoản chi
phí hợp lý nên cần căn cứ khoản 3 Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ.
- Về yêu cầu xin lỗi cải chính công khai trên Tạp chí Sức khỏe Đời
sống và Báo Thanh niên trên ba số báo liên tiếp về hành vi xâm phạm quyền đối
với Bằng độc quyn sáng chế s 5529 trong giai đoạn trước ngày 09/12/2019.
Xét, yêu cầu trên của nguyên đơn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 202
của Luật Sở hữu ttuệ nên căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, pháp luật không
quy định phải đăng trên nhiều báo khác nhau nên chỉ có cơ sở đăng lời xin lỗi và
cải chính công khai trên Tạp chí Sức khỏe và Đời sống báo Trung ương trong
03 kỳ liên tiếp do phù hợp với chuyên ngành dược các bên đang tranh
chấp trong vụ án không chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn đối với Báo
Thanh niên.
Với những phân tích trên, Tòa án cấp thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu xin lỗi công khai trên tạp chí Dược và Mỹ
phẩm, yêu cầu tiêu hủy toàn bộ sản phẩm thuốc Vigorito sản xuất trước ngày
09/12/2019 (do nếu có cũng đã hết hạn sử dụng) rút số đăng lưu hành sản
phẩm thuốc Vigorito tại Cục Quản Dược - Bộ Y tế, tnguyên đơn đã rút lại
các yêu cầu này, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết.
[3] Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định:
[3.1] Tòa án cấp thẩm đã nhận định, đánh giá đầy đủ tài liệu chứng cứ
trong hồ xét xử căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị đơn kháng
cáo không tài liệu chứng cứ mới nộp kèm để chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo.
[3.2] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
Theo nội dung nêu trong đơn kháng cáo phần trình bày của bị đơn tại
phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Bị đơn đề nghị hủy bản án thẩm đình chỉ
giải quyết lại ván với các do: Thời điểm Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết lại
vụ án thì bằng độc quyền sáng chế đã hết hạn nên nguyên đơn không quyền
khởi kiện; Vnội dung thì bằng độc quyền ng chế không bảo hộ hợp chất nên
bị đơn không vi phạm. Thực tế Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhiều bằng độc quyền sáng
chế đối với hợp chất này; Tòa án cấp thẩm không trưng cầu giám định của
quan chuyên môn về việc bằng bảo hộ sáng chế. Xét thấy, những nội dung nêu để
yêu cầu hủy bản án thẩm đình chỉ giải quyết vụ án đã được Hội đồng xét
xử sơ thẩm nhận định đầy đủ và có căn cứ đúng quy định pháp luật trong Bản án
14
thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm
sát tham gia phiên tòa; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; Giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo
không được chấp nhận nên người có kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
I. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần dược
phẩm Đ1.
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số 01/2023/KDTM-
ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Áp dụng khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 125, khoản 1 Điều 126, điểm d
khoản 1 Điều 198, Điều 202, Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm
2005; được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ các phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị
đơn phải tiêu hủy toàn bsản phẩm thuốc Vigorito còn tồn kho các nguyên
liệu, vật liệu được sử dụng để sản xuất, kinh doanh sản phẩm xâm phạm Bằng
độc quyền sáng chế số 5529, buộc bị đơn rút số đăng lưu hành sản phẩm
thuốc Vigorito tại Cục Quản Dược, Bộ Y tế buộc bị đơn xin lỗi, cải chính
trên Tạp chí Dược và Mỹ phẩm.
2. Chấp nhận các yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn N (CH) đối
với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Đ1 (nay Công ty Cổ
phần Dược phẩm Đ1) về việc “tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ”.
2.1. Tuyên bố hành vi của bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 đã
hành vi xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 5529 của nguyên đơn trong thời
gian bằng độc quyền có hiệu lực (trước ngày 09/12/2019).
2.2. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 xin lỗi cải chính
công khai đối với nguyên đơn N (CH) trên Tạp chí Sức Khỏe và Đời Sống trong
03 kỳ liên tiếp về hành vi xâm phạm quyền đối với Bằng độc quyền sáng chế
5529 trong thời gian bằng độc quyền hiệu lực (trước ngày 09/12/2019).
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn xin lỗi và cải chính trên
Báo Thanh Niên.
15
2.3 Buộc bị đơn Công ty Cổ phần Dược phẩm Đ1 phải bồi thường cho
nguyên đơn N (CH) các khoản sau:
- Bồi thường vật chất cho nguyên đơn N (CH) số tiền 500.000.000 đồng
(năm trăm triệu đồng) do hành vi xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế 5529 gây
ra trong thời gian bằng độc quyền có hiệu lực.
- Thanh toán cho nguyên đơn N (CH) số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm
triệu đồng) về khoản chi phí thuê luật sư.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn
phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
II. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty cổ phần dược phẩm Đ1 phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu
đồng), được trừ vào 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0000449 ngày 05/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình
Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân ti cao;
- VKSND cp cao ti TP.HCM
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Cc THADS tỉnh Bình Dương;
- (1);
- (1);
- Lưu (10) 17b (Án TTKY).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Phm Th Duyên
16
Tải về
Bản án số 110/2023/KDTM-PT Bản án số 110/2023/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất