Bản án số 110/2022/DS-PT ngày 15/12/2022 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 110/2022/DS-PT ngày 15/12/2022 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 110/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/12/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông N yêu cầu ông S trả lại ½ diện tích đất thửa số 36; quá trình tố tụng ông N yêu cầu ông S trả lại cho ông N 1/3 giá trị thửa đất số 36; Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của ông N yêu cầu ông S phải trả cho ông N ½ giá trị thửa đất số 36 theo giá thị trường do Hội đồng định giá huyện X.M xác định ngày 30/5/2022. Ông N tự nguyện trả lại cho ông S số tiền còn lại theo thỏa thuận là 10.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 110/2022/DS-PT
Ngày: 15 - 12 - 2022
V/v: Tranh chấp tài sản chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Ông Cao Xuân Long
- Thư phiên a: Bà Vương Thị Thùy Trang Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa- Vũng Tàu: Trần Thị
Kiều Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 12 m 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Rịa - Vũng
Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2022/TLPT-DS ngày 03
tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp tài sản chung”.
Do bản án dân sự thẩm số 35/2022/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2022 của
a án nhân dân huyện X.M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 93/2022/QĐ-PT ngày
17/11/2022, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 29/2022/QĐ-PTDS ngày
13/12/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông P.T.N, sinh năm 1957; Nơi trú: Tổ 4, ấp L.G, xã B.C,
huyện X.M, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông N.V.U, sinh năm 1997;
nơi cư trú: B.D.2, Đ.N, huyện L, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông N.Q.S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ 7, ấp B.M, xã B.C, huyện
X.M, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bđơn: Ông T.V.Ư, sinh năm 1986; nơi
trú: 0419.0410 khối nB6, nhà an sinh hội BCM, đường N4a, khu dân
Đ.H, tổ 2, khu 8, Đ.H, thành phố T.D.M, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ P.T.T.D, sinh m 1971; nơi trú: Tổ 4, ấp L.G, xã B.C, huyện X.M,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà D: Ông P.T.N, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ
4, ấp L.G, xã B.C, huyện X.M, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
2
+ N.T.T.N, sinh năm 1984; nơi trú: Tổ 7, ấp B.M, B.C, huyện X.M,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông L.H.Đ, sinh năm 1970; nơi trú: Ấp 1, B.R,
huyện X.M, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông N.Q.S là bị đơn trong vụ án.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện X.M, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đại diện
hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Năm 2011, ông N được ông S giới thiệu mua
đất của ông L.H.Đ nên cả ba người quen biết nhau. Ông S người giới thiệu
được ông N đưa tiền nhờ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất từ ông Đ, sau khi làm
thủ tục xong còn lại 20.000.000 đồng. Ông S nói với ông N do ông S giới thiệu
cho ông Đ bán đất nên ông Đ đồng ý bán cho ông S một thửa đất diện tích khoảng
1.000m
2
tại B.R, huyện X.M, trị giá 60.000.000 đồng nhưng ông S không đủ
khả năng mua toàn bộ nên ông S đề nghị ông N và ông S mỗi người p
30.000.000 đồng để mua chung, ông N đồng ý. Hai bên thống nhất ông S người
đại diện mua bán với ông Đ, khi nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ông S có nghĩa vụ tách sổ cho ông N ½ diện tích đất mua chung. Do ông N còn
20.000.000 đồng đã đưa cho ông S nên ông S nói ông N góp cho ông S số tiền này,
số tiền 10.000.000 đồng còn lại khi nào ông Slàm xong thủ tục đứng tên tách thửa
cho ông N thì ông N sẽ giao cho ông S. Việc thỏa thuận này ông S có lập “giấy xác
nhận” ghi ngày 06/10/2011 với nội dung “Có mua chung với ông P.T.N ấp B.T,
B.C một sào đất B.R với số tiền 60.000.000 đồng, anh N đưa trước cho tôi
20.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 sau này làm xong ông L.H.Đ stách ra cho
chúng tôi, vậy tôi làm giấy này để xác nhận việc anh N mua chung với tôi 1 sào đất
của ông Đ…”.
Đến tháng 10/2018, ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CK 370937, diện tích đất 868m
2
thửa số 36, tờ bản đồ số 07A, B.R, huyện
X.M (viết tắt là thửa đất số 36).
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông S không lập thủ tục
tách thửa cho ông N như đã thỏa thuận chuyển nhượng cho ông T.N.V, được
Văn phòng công chứng X.M ng chứng số 6671, quyển số 01/2019/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/9/2019.
Tại đơn khởi kiện ông N yêu cầu ông S trả lại ½ diện tích đất thửa số 36; quá
trình tố tụng ông N yêu cầu ông S trả lại cho ông N 1/3 giá trị thửa đất số 36; Tại
phiên a thẩm người đại diện hợp pháp của ông N yêu cầu ông S phải trả cho
ông N ½ giá trị thửa đất số 36 theo giá thị trường do Hội đồng định giá huyện X.M
xác định ngày 30/5/2022. Ông N tự nguyện trả lại cho ông S số tiền còn lại theo
thỏa thuận là 10.000.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông N.Q.S người đại diện hợp pháp của
bị đơn trình bày: Năm 2011, ông S giới thiệu cho ông N mua đất của ông L.H.
nhận tiền lập thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất sang tên trước bạ giúp
3
ông N như ông N trình bày đúng. Ông Đ hứa nếu giúp ông bán được đất cho
ông N thì ông Đ sẽ cho 01 sào đất B.R. Sau khi giúp ông Đ bán được đất cho
ông N, ông Đ cho ông S 1.000m
2
đất tại xã B.R, huyện X.M và bán thêm cho ông S
một thửa đất diện tích khoảng 1.000m
2
kế bên thửa đất đã cho với giá 60.000.000
đồng. Do không đủ tiền mua riêng nên ông S rủ ông N mua chung thửa đất này.
Theo thỏa thuận, ông N sẽ hùn stiền 30.000.000 đồng đđược quyền sdụng ½
diện tích đất mua của ông Đ, ông S sẽ đại diện đứng tên mua bán, khi nào được cấp
giấy chứng nhận xong sẽ lập thủ tục tách cho ông N ½. Trước đó, ông N đưa
cho ông S tiền chuyển mục đích sang tên trước bạ còn số tiền 20.000.000
đồng nên số tiền ông N hùn với ông S sẽ được khấu trừ vào số tiền dư này; khi nào
được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ông S có nghĩa vụ tách sổ cho ông N ½ diện tích
đất mua chung, đồng thời ông N nghĩa vụ giao số tiền 10.000.000 đồng còn lại
cho ông S. Việc thỏa thuận này ông S lập “giấy xác nhận” ghi ngày 06/10/2011
với nội dung “Có mua chung với ông P.T.N ấp B.T, B.C 01 sào đất xã B.R
với số tiền 60.000.000 đồng, anh N đưa trước cho tôi 20.000.000 đồng, còn lại
10.000.000 sau này m xong ông L.H.Đ sẽ tách ra cho chúng tôi, vậy tôi làm giấy
này đxác nhận việc anh N mua chung với tôi 01 sào đất của ông Đ..”, chữ
của ông S. Tuy nhiên, ông Đ đổi ý không bán cho ông S 1.000m
2
đất nữa. Thửa đất
số 36 là đất ông Đ tặng cho riêng ông S do ông S giúp ông Đ trong việc giới thiệu
bán đất cho ông N, không phải đất ông S cùng ông N mua của ông Đ. Ngày
19/10/2016 ông S và vợ ông S bán cho ông T.N.V với giá 80.000.000 đồng.
Nay, ông S chỉ đồng ý trả cho ông N 1/3 gtrị thửa đất số 36 nêu trên theo
giá ông S đã bán cho ông V, không đồng ý trả cho ông N giá trị đất theo giá
Hội đồng định giá huyện X.M xác định.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N.T.T.N thống nhất với trình bày
của ông N.Q.S đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P.T.T.D ủy quyền cho ông N
tham gia tố tụng.
- Người làm chứng ông L.H.Đ trình bày: Ông Đ không quan hệ với ông
N ông S. Trước đây, ông S thường giới thiệu cho ông Đ trong việc mua bán đt
đai. Ông Đ mới biết ông N thời gian gần đây. Trong khoảng thời gian năm 2010 -
2012 (không nhớ năm nào), ông S giới thiệu cho ông Đ chuyển nhượng đất
tại B.C nên ông Đ hứa cho ông S 30.000.000 đồng, nhưng ông S không nhận
nên ông Đ cho ông S 01 sào đất tại ấp 4, B.R, huyện X.M, khi cho đất chưa
được cấp giấy chứng nhận; ông Đ không chuyển nhượng cho ông S diện tích đất
nào. Ông N ông S nói cho ông Đ biết việc ông S lập văn bản thỏa thuận
chuyển nhượng cho ông N ½ diện tích đất (nay là diện tích đất 868m
2
, thửa số 36,
tờ bản đồ số 07A, xã B.R, huyện X.M) với giá 30.000.000 đồng, ông S đã nhận của
ông N số tiền 20.000.000 đồng, ông S đại diện xin cấp giấy chứng nhận, khi nào
được đứng tên ông S sẽ tách thửa cho ông N ½ và nhận số tiền còn lại. Ông Đ được
biết sau khi được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông S đã chuyển
nhượng cho người khác. Việc ông S đã nhận tiền của ông N để ông N được quyền
sử dụng ½ thửa đất 36 thì ông S phải trả cho ông N số tiền tương ứng giá trị thửa
đất trên.
4
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2022/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện X.M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định như sau:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.T.N về “Tranh chấp tài sản chung là
quyền sử dụng đất” với ông N.Q.S.
+ Buộc ông N.Q.S và N.T.T.N nghĩa vụ hoàn trả cho ông P.T.N và
P.T.T.D ½ giá trị quyền sử dụng đất thửa đất số 36, tờ bản đồ số 7A B.R, diện
tích 868m
2
, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện X.M cấp số
CK 370937 ngày 01/10/2018 với số tiền là 837.675.000 đồng.
+ Ghi nhận việc ông P.T.N P.T.T.D tự nguyện trả cho ông N.Q.S và
N.T.T.N số tiền 10.000.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do chậm thi
hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
- Ngày 24/6/2022 ông N.Q.S kháng o bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm, vì bản án thẩm buộc ông S, N phải
trả cho ông N, bà D ½ giá trị tài sản là 837.675.000 đồng là không đúng.
Hủy kết quả định giá ngày 30/5/2022 kết quả định gquá cao. Giá trị
quyền sử dụng đất thửa 36, tờ bản đồ 07A, B.R, huyện X.M chỉ khoảng
800.000.000 đồng.
- Ngày 22/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện X.M kháng nghị một phần
bản ánthẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản ánthẩm, chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông S, N nghĩa vụ
trả cho ông N, D 1/3 giá trị quyền sử dụng đất thửa 36, tờ bản đồ 07A, B.R,
huyện X.M.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết toàn bộ vụ án.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm,
các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ ván, Viện
kiểm sát rút kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sa bản án thẩm,
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau: Ông N.Q.S N.T.T.N nghĩa
vụ trả cho ông P.T.N bà P.T.T.D số tiền 350.000.000đ (ba trăm m mươi triệu
đồng) phần giá trị quyền sử dụng đất ông P.T.N được hưởng tương ứng vi
phần góp nhận chuyển nhượng đất chung với ông N.Q.S theo xác nhận ngày
06/10/2011 đối với thửa đất số 36, tờ bản đồ số 7A, B.R, huyện X.M, tỉnh
Rịa-Vũng Tàu. Thời gian ông N.Q.S N.T.T.N thanh toán số tiền
350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) nêu trên cho ông P.T.N và bà
5
P.T.T.D chậm nhất đến ngày 06/01/2023; Chi phí tố tụng: Ông P.T.N tự nguyện
chịu.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát rút kháng nghị.
[3] Viện kiểm sát rút kháng nghị nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng
nghị của Viện kiểm sát.
[4] Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của
pháp luật không trái đạo đức xã hội nên công nhận. Sửa bản án dân sự thẩm
số 35/2022/DS-ST ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện X.M. Công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự.
[5] Án phí dân sự thẩm: Ông S N phải chịu đối với số tiền phải trả
cho ông N và bà D; ông N và bà D không phải chịu.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Sphải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 284, 300 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 26, 27, 29
Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát.
2. Sửa bản án dân sthẩm số 35/2022/DS-ST ngày 10/6/2022 của Tòa án
nhân dân huyện X.M, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự như sau:
Ông N.Q.S N.T.T.N nghĩa vụ trả cho ông P.T.N P.T.T.D số
tiền 350.000.000đ (ba trămm mươi triệu đồng) là phần giá trị quyền sử dụng đất
mà ông P.T.N được hưởng tương ứng với phần góp nhận chuyển nhượng đất chung
với ông N.Q.S theo xác nhận ngày 06/10/2011 đối với thửa đất số 36, tờ bản đồ số
7A xã B.R, huyện X.M, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời gian ông N.Q.S và bà
N.T.T.N thanh toán số tiền 350.000.000đ (ba trăm m mươi triệu đồng) nêu trên
cho ông P.T.N và bà P.T.T.D chậm nhất là đến ngày 06/01/2023.
3. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên
được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi
hành án.
4. Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 6.281.224
(sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn hai trăm hai mươi bốn) đồng; Ông P.T.N tự
nguyện chịu. Đã nộp xong.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Ông N.Q.S bà N.T.T.N phải chịu 17.500.000đ (mười bảy triệu năm
trăm nghìn đồng).
6
5.2. Ông P.T.N và P.T.T.D không phải chịu. Hoàn trả cho ông P.T.N số
tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai thu số TU/2019/0001518 ngày
05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.M, tỉnh Bà Rịa - ng Tàu.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông N.Q.S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng). Trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0011149 ngày
28/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X.M, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. (Đã
nộp xong).
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
8. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND Huyện X.M;
- TAND Huỵện X.M;
- Chi cục THADS Huyện X.M;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Văn Tâm
Tải về
Bản án số 110/2022/DS-PT Bản án số 110/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất