Bản án số 11/2020/DS-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 11/2020/DS-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tuy Phước (TAND tỉnh Bình Định)
Số hiệu: 11/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản số: 11/2020/DS-ST
Ngày: 17/02/2020
Về việc: “Y/C thực hiện nghĩa
vụ....".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tuyết Mai.
- Ông Cao văn Dũng.
Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tấn Cường, Thư Toà
án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
Đại diện VKSND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Lê Thị Định – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2019, tại trụ sTòa án nhân dân huyện Tuy Phước,
tỉnh Bình Định, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 162/2018/TLST-DS
ngày 24 tháng 12 năm 2018 về việc: “ Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và đòi lại tài sản
”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:1985/2019/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm
2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2020/QĐST- DS, ngày 03 tháng 01 năm
2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2020/QĐST- DS, ngày 20 tháng 01 năm
2020 của Tòa án nhân dân huyện T, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị H, sinh năm 1968, có mặt.
Trú tại: Tổ 1, KV 8, phường N, TP Q, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Huy T1, sinh năm
1974. Đại diện theo ủy quyền tại văn bản ngày 14/11/2019, có mặt.
Địa chỉ: 21 Đặng Văn Ngữ, phường H3, TP Q, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Trần Chí T, sinh năm 1962, vắng mặt.
Trú tại: Xóm 2, Thôn B1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông i Khương Công, sinh năm 1967, vắng mặt.
2
Trú tại: Tổ 1, KV 8, phường N, TP Q, tỉnh Bình Định.
2. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1981, vắng mặt.
Trú tại: Xóm 2, thôn B1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 11 năm 2018, đơn khởi kiện bổ sung
ngày 04/7/2019, tại các bản khai, biên bản công khai chứng cứ, biên bản hòa giải
tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn Trương Thị H trình bày: Giữa với vợ
chồng Trần Chí TNguyễn Thị Thu H1 là bà con họ hàng, Hồng gọi bà là dì ruột.
Đến tháng 03/2017 vợ chồng T, H1có nói làm ăn thiếu tiền và đã vay của bà 03 lần
với tổng cộng số tiền là 860.000.000đ. Sau đó nhiều lần đòi nợ thì vchồng T
trốn tnh không chịu trả. Đến ngày 03/10/2018 trong lúc gia đình đang tổ chức
đám cưới cho con trai nhận thông tin vợ chồng Tân dọn nhà thôn B1, P
bằng xe tải để đi trong đêm nên gia đình đã đến nơi không cho vợ chồng Tân
dọn nhà, vì chưa trả nợ cho bà, lúc này vợ chồng T đồng ý bán nhà này cho bà với
giá 02 tỷ đồng, vợ chồng T viết giấy cam kết bán nhà cho . Sau đó đến Đồng
thời vchồng Tân nói sổ đỏ nhà này đã thế chấp Ngân hàng 1,3 tỷ đồng nên nếu
muốn mua thì phải chuyển trả nợ Ngân hàng cho bà H1 để xóa thế chấp hẹn
ngày 05/10/2018 sẽ chuyển nhượng cho bà. Tuy nhiên khi H chuyển trả hết
số nợ Ngân hàng cho Hồng thì vợ chồng T, H1 không thực hiện hợp đồng công
chứng sang tên cho bà, đồng thời trốn tránh bà. Vì vậy bà yêu cầu vợ chồng ông T,
H1 thực hiện nghĩa vụ theo thủ tục công chứng sang tên giao cho bà làm chủ sở
hữu nhà đất tại Thôn B1, P, huyện T, tỉnh Bình Định. Trường hợp ông T,
H1 không thực hiện giấy công chứng sang n và giao sđỏ thì buộc vợ
chồng ông Ttrả cho bà số tiền vay 860.000.000đ tiền trả tại Ngân hàng
1.300.000.000đ, tổng cộng 2.160.000.000đ tiền lãi tính từ ngày 03/10/2018
cho đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm. Đến ngày 04/7/2019 H đơn xin thay đổi
yêu cầu, bà xin rút yêu cầu buộc vợ chồng ông Tthực hiện việc chuyển nhượng nhà
đất, thay bằng yêu cầu vợ chồng ông Ttrả cho bà 1.300.000.000đ tiền trả nợ
Ngân hàng cho vợ chồng ông T,bà H1 190.000.000đ tiền lãi còn nợ trong số
tiền vay trước đó, tổng cộng 1.490.000.000đ tiền lãi tính từ ngày 11/10/2018
cho đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm ( ngày 17/02/2020) là 1.490.000.000đ x 1,65 % x
16,5 tháng = 405.652.500đ nên tổng cộng gốc lãi 1.895.652.500đ. Nhưng tại
phiên tòa H chỉ yêu cầu vợ chồng ông Tngoài tiền trả 1.490.000.000đ thì yêu
cầu vợ chồng ông Tcòn phải trả cho 50% tiền lãi tính theo lãi suất do nhà nước
quy định đối với 1.490.000.000đ. Ngoài ra bà H không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Chí Tvắng mặt nhưng bản tự khai ông
Ttrình bày: Vào đầu năm 2017 đến 12/4/2017 vợ ông Nguyễn Thị Thu H1
làm ăn chung với ruột của H1 là Trương Thị H. Nên sau đó vợ ông cần vốn nên
vay tiền của bà H 400.000.000đ, sau đó vợ ông đã trả tổng cộng 380.000.000đ.
Đến ngày 02/10/2018 khi bà H tổ chức đám cưới con trai bà thì vợ ông đã mang trả
cho H 500.000.000đ lấy toàn bộ giấy mượn tiền về, riêng tiền lãi thì vợ
chồng anh tính toán sẽ trả sau.
3
Đến ngày 03/10/2018 ông đang thu dọn đồ đạt chuyển nhà đi nơi khác thì dì
H con gái bà đến nhà ông bảo vợ chồng ông sao không trả lãi, thì ông có hứa sẽ
bán nhà trả lãi cho bà. Lúc này H hỏi nhà bán bao nhiêu, ông nói người ta trả 2
tỷ rồi mà ông chưa chịu, thì H bảo bán cho bà. Sau đó vợ chồng ông bàn bạc
đồng ý bán cho H với giá 2 tỷ đồng, vợ ông nói nhà này vợ chồng ông thế
chấp ngân hàng ACB với số tiền thế chấp vay là 1.300.000.000đ, nên dì H bảo nếu
đồng ý viết giấy đdì nộp tiền vào Ngân hàng, lấy sổ đỏ. Ngày 11/10/2018 vợ
chồng ông thực hiện như cam kết vào Ngân hàng để H nộp tiền, lấy sổ đỏ H
cầm, sau đó đưa nhau đến phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T xoá thế chấp.
Đến chiều hôm đó, vợ chồng ông cùng Dì dượng đến phòng Công chứng, trước khi
hợp đồng ông yêu cầu vợ chồng giao cho vợ chồng ông 510.000.000đ thì
mới đủ 2 tỷ đồng như đã thống nhất thỏa thuận, thì lúc này H nói nhà mày n
thế được rồi. Hai bên nói qua lại xác định vợ chồng ông nlãi 190.000.000đ,
H nộp vào ngân hàng 1,3 tỷ đồng tổng cộng 1.490.000.000đ nên H còn
phải trả 510.000.00. H nói chưa đủ tiền thì vợ chồng ông nói chứng nào
giao đủ tiền vợ chồng ông sẽ ký giấy chuyển nhượng, Từ đó dì H giữ sổ và lên nhà
ông hàn cổng ngõ bít không cho ông vào nhà, chiếm giữ tđó đến nay. Mặt khác
sau đó bà H tố cáo ông đến Công an tỉnh Bình định, Công an TP Q, Công an huyện
T. Sự việc này Thanh tra Công an tỉnh Bình định kết luận vợ chồng ông không vi
phạm pháp luật.
Với nội dung sự việc nêu trên vợ chồng ông yêu cầu Trương Thị H tr đủ
tiền thì vợ chồng ông ký hợp đồng chuyển nhượng, nếu không tbà H trả sổ đỏ và
tháo gỡ cổng ngõ trả lại như cho ông. Sau khi bán nhà ông sẽ trả cho H
1.490.000.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Bùi
Khương Cvắng mặt nhưng tại bản khai, Ông C trình bày: Ông đồng ý với ý kiến
của vợ ông Trương Thị H. Ngoài ra ông không có ý kiến gì.
Đối với Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Nguyễn Thị Thu H1 Tại phiên
tòa hôm nay H1 vắng mặt nhưng bản tự khai H1 trình bày: Bà gọi
Trương Thị H ruột, giữa H làm ăn, mượn tiền H nhiều
lần tổng cộng là 860.000.000đ, mỗi tháng bà trả cho bà H 10.000.000đ tiền lãi, tính
đến ngày 19/9/2018 đã trả cho H tổng cộng 380.000.000đ. Đến ngày
02/10/2018 trả tiếp 500.000.000đ cho H lấy lại toàn bộ giấy ợn tiền,
riêng tiền lãi thì cháu thỏa thuận tính toán sau. Thời gian vừa qua bị đau
bệnh theo đó cần chuyển chmới cho đđau bệnh, trong lúc chuyển nhà thì
H đến nhà nói sao không trả lãi. Lúc đó bà nói để bán nhà trả lãi cho thì H
hỏi mua nhà, hai bên thống nhất giá 2 tỷ đồng, dì H phải nộp 1,3 tỷ đồng vào Ngân
hàng sổ đỏ vợ chồng bà đã thế chấp Ngân hàng ACB để vay tiền, vợ chồng bà
viết giấy đồng ý bán cho H căn nhà Thôn B 1, P với giá 2 tỷ đồng. Sau khi
dì H trả tiền vào Ngân hàng thì sổ đỏ dì giữ, đến khi đến phòng công chứng ký hợp
đồng chuyển nhượng thì H không đồng ý giao số tền còn lại 510.000.00
cho vợ chồng nên vợ chồng không đồng ý ký. Khi đó H nói nhiêu đó đủ
rồi thì hai bên không thống nhất, sau thì dì H nói sẽ viết giấy nợ lại vợ chồng bà thì
4
vợ chồng không chịu. Từ đó H giữ sổ lên nhà hàn cổng ngõ bít không
cho vào nhà, chiếm giữ từ đó đến nay. Mặt khác sau đó H tố cáo vợ chồng bà
đến Công an tỉnh Bình định, Công an TP Q, Công an huyện T. Sự việc này Thanh
tra Công an tỉnh Bình định kết luận vợ chồng bà không vi phạm pháp luật.
Với nội dung sviệc nêu trên vợ chồng yêu cầu Trương Thị H tr đủ
tiền thì vợ chồng hợp đồng chuyển nhượng, nếu không thì H trả sổ đỏ
tháo gỡ cổng ngõ trả lại như cho . Sau khi bán nhà s trả cho H
1.490.000.000đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự
thủ tục theo Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 217 BLTTDS
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu ông Tbà H1 thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng
ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc thửa 14, tờ bản đ số 04 tọa lạc tại
Thôn 1, P, huyện T. đề nghị Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông Tbà H1 trả
cho vợ chồng H số tiền vay còn nợ 1.490.000.000đ, cộng 50% lãi suất theo
quy định của nhà nước phát sinh tính từ ngày 11/10/2018 cho đến nay và phải chịu
tiền án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về thtục tố tụng : Đây là vụ án tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Bđơn địa chỉ cư ttại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng Dân
sự.Trong quá trình giải quyết v án, tại phiên tòa, bị đơn, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xtiến hành
xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều
233 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2].1 Xét yêu cầu của vợ chồng Trương Thị H Bùi Khương C yêu cầu
vợ chồng ông Trần Chí TNguyễn Thị Thu H1 thực hiện nghĩa vụ ký các thủ tục
chuyển nhượng nhà và đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại thôn B1, xã
P, huyện T, tỉnh Bình Định hoặc trả cho số tiền 2.160.000.000đ. Tuy nhiên sau
đó H thay đổi yêu cầu, xin rút yêu cầu thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng
nhà đất mà chỉ yêu cầu vợ chồng ông Tbà H1 trả cho số tiền đã trả o
Ngân hàng 1.300.000.00190.000.000đ tiền lãi của các khoản vay trước,
tổng cộng 1.490.000.000đ 50 % tiền lãi tính đối với số tiền 1.490.000.000đ
tính từ ngày 11/10/2018 cho đến nay theo lãi suất của Ngân hàng . Thì Hội đồng
xét xử thấy rằng giữa bà Trương Thị H vợ chồng ông Trần Chí T, Nguyễn Thị Thu
5
H1 họ hàng làm ăn chung, H1 , ông Tvay tiền của H, các bên
thống nhất còn nợ lãi tính đến ngày 19/9/2018 190.000.000đ. Sau đó hai bên
thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà thuộc thửa số 14,
tờ bản đồ số 04,tọa lạc tại thôn B1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định với giá 2 tỷ đồng
bằng văn bản lập ngày 03/10/2018 nên H tiếp tục chuyển trả nợ giúp cho vợ
chồng ông Ttại Ngân hàng ACB 1.300.000.000đ vào ngày 03/10/2018 H
đang giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông T. Mặc dù
giữa các bên đã thỏa thuận để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhà gắn liền với
quyền sử dụng đất nhưng đến nay vẫn chưa thể kết hợp đồng nên giao dịch
nàychưa được thực hiện, các bên không thống nhất thực hiện giao dịch. Nay H
xin rút yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với vợ chồng ông T, bà H1 về việc thực hiện
nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng nhà và đất thì Tòa án căn cứ vào Điều 217
BLTTDS đình chỉ yêu cầu này. Đối với việc H yêu cầu vợ chồng ông Tvà
H1 trả số tiền 1.490.000.000đ ( trong đó 1.300.000.000đ tiền bà H nộp trả nợ thay
cho vợ chồng ông Ttại Ngân hàng 190.000.000đ tiền lãi đối với các khoản vay
trước đó), đồng thời yêu cầu vợ chồng ông Tphải trả 50% phần lãi theo lãi suất nhà
nước quy định đối với số tiền 1.490.000.000đ tính từ ngày 11/10/2018 cho đến
nay; thì Hội đồng xét thấy yêu cầu trên của H căn cứ nên được chấp nhận.
Bỡi lẽ, trong khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất này không thực hiện
được thì các bên đều đỗ lỗi cho nhau về việc không thể ký hợp đồng, vợ chồng ông
Tyêu cầu H giao 510 triệu đồng mới đồng ý hợp đồng chuyển nhượng tại
phòng công chứng, nhưng bản thân vợ chồng ông Tcòn nợ tiền H nên bà H
không đồng ý giao đủ số tiền như đã thỏa thuận. Hiện nay các bên đều không
thống nhất thực hiện hợp đồng. Trong khi đó H chuyển trả nợ cho vợ chồng ông
Tvào Ngân hàng là 1.300.000.000đ vào ngày 03/10/2018 và vợ chồng ông Tcòn nợ
lãi của H đối với các khoản vay trước 190.000.000đ tính đến ngày19/9/2018
là có thật. Nên tổng số tiền bà H đã trả cho giao dịch này là 1.490.000.000đ, nên bà
H yêu cầu vchồng ông Tphải trả lại cho vợ chồng H số tiền trên căn cứ
nên được chấp nhận.
[2].1.1 Ngoài ra H yêu cầu vợ chồng ông Tphải trả 50 % tiền lãi đối với
khoản tiền 1.490.000.000đ tính từ ngày 11/10/2018 cho đến nay theo lãi suất cuả
nhà nước quy định, thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với khoản vay của vợ chồng
ông Tbà H1 tại Ngân hàng ACB với số tiền 1.300.000.000đ đã thế chấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, nếu H không nộp tiền vào Ngân hàng skhông lấy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông Tvẫn tiếp tục trả lãi đối với
khoản vay này. Trong khi đó, thực tế H đã trả tiền vào ngày 11/10/2018 , do đó
đối với tiền lãi phát sinh từ việc bà H nộp tiền vào Ngân hàng để trả nợ thay cho vợ
chồng ông Tthật dẫn đến thiệt hại của H có thật nên yêu cầu vợ
chồng ông Tphải trả 50 % tiền lãi đối với số tiền trên tính từ ngày 11/10/2018 cho
đến nay căn cứ nên được chấp nhận.Vì các bên không tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do cả hai bên cùng lỗi chứ không
riêng bên nào, cụ thể H cho rằng vợ chồng ông Tcòn nợ 500.000.000đ của
chưa trả nên khi nhà đang tổ chức đám cưới cho con trai thì vợ chồng ông Tdọn
nhà đi trong đêm nên gia đình đã đến nhà vợ chồng ông Tđểu yêu cầu trả nợ,
6
lúc này vợ chồng ông Tviết giấy cam kết bán nhà. Trường hợp vợ chồng ông
Tkhông nợ H thì không do ông Tviết giấy bán nhà cho H vào ngày
03/10/2018 để H khóa cửa nhà mà ông Tbà H1 không báo chính quyền giải
quyết. Mặt khác ông Tân, H1 cho rằng vợ chồng đã trả tiền cho bà H trả tiền
gốc cho H vào ngày 02/10/2018, còn nợ lãi, H giao giấy tờ gốc cho ông
bà, trong khi H cho rằng giấy tờ gốc bị mất vào ngày 04/10/2018 đã đề
nghị thông báo trên đài truyền hình để tìm lại H khẳng định vợ chồng ông
Tbà H1 vẫn còn nợ tiền 500.000.000đ, phần ông Ttrả trước đây chỉ đủ trả lãi
suất theo Ngân hàng. Bỡi diễn biến sự việc xảy ra về thời gian, địa điểm cam
kết về việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất giữa
H vợ chồng ông T, dẫn đến nay các bên vẫn chưa thực hện được hợp đồng. Đây
lỗi cả hai bên dẫn đến không thực hiện được hợp đồng nên các bên phải tự chịu
50 % khi thiệt hại xảy ra. Việc H nộp 1.300.000.000đ trả nợ thay cho vợ
chồng ông Tkhoản nợ lãi 190.000.000đ, để mua nhà nhưng không thực hiện
được đã làm thiệt hại cho H, phần thiệt hại này H yêu cầu tính theo lãi suất
ngân hàng là căn cứ. vậy việc các bên vi phạm nghĩa vụ trong quá trình thực
hiện giao dịch thì mức lãi được áp dụng theo quy định tại Điều 486 BLDS với mức
lãi suất 10%/ năm, cụ thể tính lãi tính tngày 11/10/2018 đến ngày 17/02/2020
16 tháng 06 ngày x 1.490.000.000đ x 10%/ năm = 201.129.999đ, nên mỗi bên phải
chịu 100.565.000đ.
[2].2 Đối với yêu cầu của vợ chồng ông Tvề việc yêu cầu H giao Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và tháo cổng ngõ, sau khi Tòa án tiếp nhận bản khai
đã triệu tập nhiều lần nhưng ông không đến để thực hiện các thủ tục tố tụng.
Tuy nhiên bà H thống nhất trả tiền thì bà sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Tân, H1 tháo dỡ vết hàn cổng. Đối với lời nại của vợ chồng
ông Tcho rằng nếu H không mua nhà đất của ông nữa thì trả giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông đã bán nhà cho người khác để trả nợ Ngân
hàng thì không làm phát sinh lãi. Trong khi đó, vợ chồng ông Tgiao giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho H, chưa giao nhà cho H. Mà H tự ý hàn cổng
ngõ không cho ông Tvào nhà thì ông Tvẫn quyền sdụng căn nhà này, thực
tế H chưa quyền sử dụng nhà đất này, bản thân ông Tchưa giao tài sản, nếu
vậy ông Tân phải có nghĩa vụ báo cáo chính quyền địa phương can thiệp hoặc kiện
đếnTòa án giải quyết, nhưng thực tế vợ chồng ông không yêu cầu cơ quan nào giải
quyết để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Mặc khác theo các thủ tục
Tòa án triệu tập đến làm việc để vợ chồng ông chứng minh cho yêu cầu của mình
thì vợ chồng ông cũng không đến và thì đó là lỗi của vợ chồng ông Tân, bà H1.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định cuả Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận.
[3] Về án phí DSST: Áp dụng Điều 26, Nghị Quyết số 326/NQ-UBTVQH,
ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14, quy định về mức thu, miễm, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc vợ chồng ông T, H1 cùng phải chịu 5% án phí dân sự thẩm sung
vào công quỹ nhà nước. Trả lại cho bà H 37.900.000đ tiền tạm ứng án phí.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 35, 39, 217, 227, 228, 233 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Điều 116, Điều 129, Điều 131 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị Quyết số
326/NQ-UBTVQH,ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14, quy định về mức thu,
miễm, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu của bà Trương Thị H về việc yêu cầu vợ chồng ông Trần
Chí T, Nguyễn Thị Thu H1 thực hiện nghĩa vụ làm thủ tục chuyển nhượng
quyền sử dụng nhà đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 4, tọa lạc Thôn B 1,
P, huyện T, tỉnh Bình Định.
2. Buộc vợ chồng Trần Chí TNguyễn Thị Thu H1 phải trả cho vợ chồng
Trương Thị H Bùi Khương C số tiền 1.590.565.000đ (trong đó tiền gốc
1.490.000.00 tiền lãi tính từ ngày 11/10/2018 đến ngày 17/02.2020
100.565.000đ), do không thực hiện giao dịch chuyển nhượng nhà gắn liền với
quyền sử dụng đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 4, tọa lạc Thôn B 1, P, huyện
T, tỉnh Bình Định
3. Buộc H phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 14,
tờ bản đồ số 4, tọa lạc Thôn B 1, P, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên Trần Chí
Tvà Nguyễn Thị Thu H1 cho ông Tvà bà H1.
4. Bác yêu cầu xin khi bán nhà xong sẽ trả tiền các lời nại khác của ông
Trần Chí Tvà bà Nguyễn Thị Thu H1.
5. Về án phí DSST: Buộc vợ Trần Chí TNguyễn Thị Thu H1 cùng phải
chịu 79.517.000đ sung vào Ngân sách N nước. Hoàn trả cho Hiền
37.900.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002712,
ngày18/12/2018, số 0003067, ngày 08/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện T.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Các đương sự mặt tại Tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án(ngày 17/02/2020). Đương sự vắng mặt tại Tòa được
quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm
yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi
8
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Phòng KTNV -TAND tỉnh BĐ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Thủy
Tải về
Bản án số 11/2020/DS-ST Bản án số 11/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất