Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 101/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 101/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 101/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/11/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 101/2023/HS-ST
Ngày 22 -11 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoằng.
2. Ông Trần Đức Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh
Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST - HS ngày
25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXXST
- HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Trịnh Ngọc A (tên gọi khác: không), sinh năm 1989; nơi cư trú:
Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 12/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh
Công B và bà Nguyễn Thị M; vợ: Đào Thị Q; con: 01 con sinh năm 2020; tiền án,
tiền sự: Không; tạm giữ; tạm giam: không; Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm
khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Văn B, sinh năm 1968 (đã chết); người đại diện hợp pháp:
Bà Bùi Thị M, sinh năm 1935, bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966; chị Nguyễn Thị
D1, sinh năm 1995, chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996, chị Nguyễn Thị H1, sinh
năm 2003, anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 2005; đều nơi cư trú: Tổ dân phố T,
phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị
D1, sinh năm 1995, nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam;
vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải N, địa chỉ: P108-
A5, TT nhà máy đá hoa A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội. Người đại diện
theo pháp luật: ông Vũ Văn N - Giám đốc; địa chỉ: Ngõ 2 M, phường Đ, quận N,
thành phố Hà Nội, vắng mặt.
2
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Công Tr, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Trịnh Ngọc A có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải Thành phố
Hà Nội cấp ngày 16/4/2021, có giá trị đến ngày 16/4/2026. Ngọc A hợp đồng lái xe
thuê cho Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải N. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày
07/7/2023, Ngọc A được công ty giao điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Trago,
BKS 29H-172.BB để chở hàng trả các thiết bị xây dựng cho các công ty, điều khiển
xe đi theo đường B hướng T - Đ, phụ xe là anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1993, trú
tại Khu 8, xã Tr, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khi đi đến địa phận tổ dân phố V, phường
Đ, thị xã Duy Tiên, Ngọc A điều khiển xe ô tô BKS 29H-172.BB đỗ bên phải đường
theo chiều đi của mình, không bật đèn cảnh báo và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm
phía trước và sau xe ô tô, để bánh sau bên phải xe ô tô cách vạch sơn lề đường bên
phải là 0,23 mét và bánh trước bên phải xe ô tô cách vạch sơn lề đường bên phải 0,36
mét, sau đó cùng anh Tr xuống xe đi vào quán bên trái đường để ăn cơm (chiều T -
Đ). Ngọc A và anh Tr vào quán cơm được khoảng 3 phút thì ông Nguyễn Văn B điều
khiển xe mô tô BKS 90D1 - 014.CC đi hướng Tiên Nội - Đồng Văn đâm vào phần
giữa đuôi xe ô tô BKS 29H-172.BB, làm xe mô tô BKS 90D1 - 014.CC đổ ở phía bên
phải đuôi xe ô tô BKS 29H-172.BB. Hậu quả: Ông B bị tử vong trên đường đưa đi
cấp cứu. Xe mô tô BKS: 90D1-014.CC và xe ô tô BKS: 29H-172.BB bị hư hỏng.
Sau khi tai nạn xảy ra, cơ quan Công an đã đo nồng độ cồn trong khí thở của
Trịnh Ngọc Anh, kết quả: 0.000mg/L và âm tính với các chất ma tuý.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên mặt đường B có chiều rộng là
13,8 mét là đường hai chiều, các vạch sơn phân chia làn đường, phần đường đã bị
mờ phía bên phải và bên trái có vạch sơn nét liền màu trắng rộng 0,2 mét là vạch lề
đường, tiếp giáp phần lề đường là rãnh thoát nước có chiều rộng là 0,4 mét. Tiếp
giáp phần rãnh thoát nước là phần vỉa hè có chiều rộng mỗi bên là 3 mét. Vị trí dấu
vết được đo vuông góc vào mép vạch sơn gần nhất của vạch lề đường phía bên phải
hướng T - Đ và điểm mốc để xác định hiện trường là mép nhà bên trái hướng từ
đường B vào gia đình chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố V,
phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam.
Vị trí dấu vết, phương tiện được đánh theo số thứ tự tự nhiên từ (1) đến (4).
Vị trí (1) là xe mô tô BKS: 90D1-014.CC bị đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về
phía Đ, đuôi xe hướng về phía Tiên Nội. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS:
90D1-014.CC vào mép gần nhất của vạch lề đường là 0,5 mét. Đo từ tâm trục bánh
sau xe mô tô BKS: 90D1-014.CC về phía T 0,4 mét là tâm dấu vết (2). Dấu vết (2)
là vùng máu kích thước (0,27x0,25) mét. Đo từ tâm vết (2) vào mép vạch sơn lề
đường là 0,15 mét. Đo từ tâm vết (2) về phía Đ 01 mét là tâm vết (3). Dấu vết (3) là
vùng nhựa vỡ, mũ bảo hiểm có kích thước (3,6x3,2) mét. Đo từ tâm vết (3) vào mép
3
gần nhất của vạch sơn lề đường là 1,35 mét. Đo từ tâm trục bánh trước bánh trước
xe mô tô BKS 90D1-014.CC về phía Đồng Văn 2 mét là tâm trục bánh sau cùng bên
phải của xe ô tô BKS: 29H-172.BB. Xe ô tô BKS: 29H-172.BB được ký hiệu là (4).
Đầu xe hướng về phía Đ, đuôi xe hướng về phía T, phía trước và sau xe không đặt
biển cảnh báo, không bật đèn tín hiệu cảnh báo an toàn phía trước và sau xe. Đo từ
mép ngoài tâm trục bánh sau cùng bên phải của xe ô tô BKS 29H-172.BB vào mép
gần nhất của vạch sơn lề đường bên phải là 0,23 mét. Đo từ mép ngoài tâm trục của
bánh trước bên phải xe ô tô BKS 29H-172.BB vào mép vạch sơn gần nhất của vạch
lề đường bên phải là 0,36 mét. Đo từ tâm trục bánh sau của xe mô tô BKS 90D1-
014.CC về phía T 0,3 mét là mép nhà bên trái hướng từ đường B vào gia đình chị
Nguyễn Thị T2.
Kết quả khám xe ô tô BKS 29H-172.BB:
Bề mặt ngoài phía sau thùng xe có diện chùi sạch bụi mới kích thước
(10,5x15) cm. Tiếp dưới sàn thùng xe là khung giá đỡ bảo vệ hệ thống đèn hậu bằng
kim loại hình hộp chữ nhật màu trắng. Tại vị trí bề mặt sau (khoảng giữa thân xe
nhìn theo chiều dọc) có diện trà sạt, chùi sạch bụi mới kích thước (65x4)cm hướng
từ sau về trước, trên diện này còn bám dính chất màu đen, trắng nghi sơn nhựa.
Ngoài ra ở vị trí cạnh trên của diện này còn bám dính các mảnh gương, kính vỡ. Bề
mặt ngoài phía sau thanh kim loại nối giữa hai sát si dọc có diện trà sạt mới bám
dính lớp màng màu đen nghi sơn nhựa kích thước (39x12)cm hướng từ sau về trước.
Kết quả khám xe mô tô BKS 90D1-014.CC:
Gương chiếu hậu bên trái, bên phải gãy mất còn để lại tay gương bằng kim
loại. Ốp nhựa xung quanh tay lái (cả trước và sau) bị vỡ nát toàn bộ. Hệ thống đèn
xi nhan, đèn pha bị vỡ nát, bật rời khỏi thân xe. Bảng đồng hồ công tơ mét dập vỡ,
lỏng lẻo không cố định được. Bề mặt trước tay phanh bên phải, cạnh dưới hộp đầu
tay phanh có diện trà sạt, mẻ sứt kim loại trên diện kích thước (17,5x1)cm hướng từ
trước ra sau, từ trái sang phải, bề mặt phía trước tay lái bên trái có diện trà sạt, sứt
kim loại trên diện kích thước (10x3)cm, hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, điểm
gần nhất đo cách đầu mút tay phanh bên trái 16,5cm. Phần càng xe, vành cổ phốt,
ghi đông tay lái bị đẩy ép theo hướng từ trước về sau, làm xe bị biến dạng không
còn khả năng dựng xe bằng chân chống như B thường. Phần tay lái bị đẩy ép về phía
sau sát với yên xe, chiếm 1/3 chiều dài yên xe. Phần ốp nhựa bảo vệ đầu lốc máy
phía trước bị bật mất, gãy tại các vị trí khớp nối cánh yếm bên trái, bên phải. Ốp
nhựa màu đỏ của đèn hậu bị dập vỡ, mất nhựa kích thước (13,5x7)cm. Điềm cao
nhất của xe mô tô được đo từ đầu tay gương trái xuống mặt đất là 93cm.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 455/KL-KTHS ngày 20/7/2023 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Nguyên nhân dẫn đến tử vong của
ông Nguyễn Văn B là do chấn thương cột sống - tuỷ sống cổ (bầm dập, tụ máu, đứt
bán phần tuỷ sống đoạn C6-C7).
Tại các bản kết luận giám định số 426, 427/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Không tìm thấy Ethanol
(cồn) trong mẫu máu ký hiệu M1 ghi thu của tử thi Nguyễn Văn B. Không tìm thấy
4
chất ma tuý thường gặp trong mẫu nước tiểu ký hiệu M2 gửi giám định (Heroin,
Methamphetamine, Ketamine, MDMA...).
Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản số 42/KL - HĐ, ngày 27/7/2023 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duy Tiên, kết luận: Tổng giá
trị thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 90D1 - 014.CC là 2.862.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/7/2023, Trịnh Ngọc A đã thỏa thuận cùng
gia đình nạn nhân Nguyễn Văn B bồi thường theo thoả thuận số tiền 80.000.000đ.
Việc giải quyết trách nhiệm dân sự đến nay đã xong, không ai có thắc mắc, khiếu
kiện gì đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị các cơ quan tiến hành
tố tụng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trịnh Ngọc A.
Đối với xe ô tô ô tô BKS 29H-172.BB: Do thiệt hại không lớn nên anh Vũ Văn N
không yêu cầu bị can Trịnh Ngọc A phải bồi thường gì nên không đặt ra giải quyết.
Cáo trạng số 102/CT - VKS - DT ngày 24/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân
thị xã Duy Tiên đã truy tố Trịnh Ngọc A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trịnh Ngọc A mức án từ 12 đến 15 tháng
tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Về trách nhiệm
dân sự, vật chứng vụ án: đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, truy tố nên không
đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và
những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX
xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến
hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của
bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Trịnh Ngọc A có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 12 giờ 00 phút
ngày 07/7/2023, Trịnh Ngọc A điều khiển xe ô tô nhãn hiệu BKS 29H-172.BB, đi
theo đường đường B hướng T - Đ. Khi đi đến địa phận tổ dân phố V, phường Đ, thị
xã D, Ngọc A điều khiển xe ô tô BKS 29H-172.BB đỗ bên phải đường theo chiều đi
của mình để vào quán ăn cơm trưa (chiếm một phần đường xe chạy nhưng không bật
đèn cảnh báo và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía trước và sau xe ô tô), ngay
lúc này ông Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô BKS 90D1 - 014.CC đi cùng chiều
5
hướng T - Đ đâm vào phần giữa đuôi xe ô tô BKS 29H-172.BB. Hậu quả: Ông B bị
chấn thương cột sống - tuỷ sống cổ dẫn đến tử vong, xe mô tô BKS: 90D1-014.CC
bị thiệt hại về tài sản trị giá là 2.862.000đ.
Hành vi nêu trên của Trịnh Ngọc A gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm
phạm trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương,
hành vi dừng đỗ xe ô tô BKS 29H - 172.BB chiếm một phần đường xe chạy, không
bật đèn cảnh báo, đỗ phía bên phải theo chiều đi của mình, không đặt biển báo hiệu
nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe, vi phạm khoản 3 Điều 18 Luật giao thông
đường bộ Việt Nam, gây hậu quả làm chết 01 người, đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm hình phạt quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị
cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành
khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo khắc phục hậu quả
bồi thường cho gia đình bị hại và được người đại diện của bị hại có đơn xin giảm
nhẹ hình phạt; bác ruột bị cáo là liệt sỹ; bị hại là ông Nguyễn Văn B cũng có lỗi
trong vụ việc, đã điều khiển xe mô tô BKS 90D1-014.CC đi thiếu chú ý quan sát,
không làm chủ tốc độ xe, vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ Việt Nam. Do
vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các
điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Xét tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là
nghiêm trọng nhưng bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết
giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho
bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội cũng đáp ứng
được mục đích giáo dục bị cáo cũng như góp phần vào việc răn đe, phòng ngừa
chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, truy tố
nên không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe ô tô BKS 29H-172.BB kèm theo toàn bộ giấy tờ xe là tài sản
hợp pháp của công ty TNHH TMDV vận tải N. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy
Tiên đã xác minh, xác định không phải là vật chứng của vụ việc, vụ án nào khác.
Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại cho công ty cùng giấy tờ
xe ô tô là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 90D1-014.CC: Qua tra cứu xác minh đăng ký
mang tên nạn nhân Nguyễn Văn B. Chiếc xe trên không phải là vật chứng của vụ
việc, vụ án nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại chiếc
6
xe mô tô BKS 90D1-014.CC cùng giấy tờ xe cho người đại diện cho bị hại Nguyễn
Văn B là đúng quy định của pháp luật.
Đối với giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải Thành phố Hà
Nội cấp ngày 16/4/2021 cấp cho Trịnh Ngọc A và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cấp
ngày 01/12/2011 cho nạn nhân Nguyễn Văn B. Tại giai đoạn truy tố Viện kiểm sát
nhân dân thị xã Duy Tiên đã trả lại cho bị cáo Trịnh Ngọc A và người đại diện cho
bị hại Nguyễn Văn B là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông trên được nén vào ổ
đĩa DVD và niêm phong trong phong bì lưu hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
Xử phạt Trịnh Ngọc A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam
tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được
hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi
hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc
người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực
hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án
trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị
cáo Trịnh Ngọc A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người đại diện của bị hại; Bị đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

7
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tối cao; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Cơ quan THAHS thị xã Duy Tiên;
- Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Tươi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm