Bản án số 100/2026/HS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 100/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 100/2026/HS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 100/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐK LK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 100/2026/HSPT
Ngày: 15 - 4 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn
Ông Phạm Cao Gia
- Thư phiên tòa: Thị Hồng Phúc - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2026/TLPT-HS ngày 16 tháng 3 năm
2026, do có kháng o của các bị cáo Đậu Văn P Phạm Tiến D đối với Bản
án hình sự thẩm số: 12/2026/HS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - tỉnh Đắk Lắk.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ tên: Đậu Văn P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1977, tại tỉnh Tĩnh;
nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình
độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Đậu Viết S (Đã chết) và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1954;
vợ Trần Thị Quỳnh T, sinh năm 1988 02 người con, con lớn sinh năm
2011, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án; tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05 tháng 8 năm 2025 đến ngày 10 tháng 8 năm
2025 tại Trại tạm giam s1 Công an tỉnh Đ. Sau đó được áp dụng Lệnh cấm đi
khỏi nơi cư trú từ ngày 11 tháng 8 năm 2025 cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Tiến D, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1973, tại Thành phố
Hà Nội; nơi cư trú: S A đường G, phường H, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay:
Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá
12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Phạm Văn C, sinh năm 1947 con Trương Thị Ngọc O, sinh năm
1952; vThiện M, sinh năm 1981 02 người con, con lớn sinh năm
2011, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án: 02 tiền án: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 06
2
tháng tù về tội chống người thi hành công vụ (tại Bản án số: 167/HSPT, ngày 20
tháng 4 năm 1999), chưa được xóa án tích. Năm 2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk xphạt 06 tháng về tội đánh bạc (tại Bản án số: 55/2024/HS-PT, ngày
11 tháng 3 năm 2024). Ngày 05 tháng 4 năm 2025 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05 tháng 8 năm 2025 đến ngày 10 tháng 8 năm
2025. Sau đó bị áp dụng Biện pháp tạm giam từ ngày 11 tháng 8 năm 2025 cho
đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn 03 bị cáo khác không kháng cáo, kháng
nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 05 tháng 8 năm 2025, Đậu Viết V đi từ thành phố B về thăm mẹ
bị ốm tại tổ dân phố T, phường B. Khi đi uống phê thì V gặp Phạm Tiến D,
Nguyễn Cao L1 và Võ Minh D1. Trong lúc ngồi chơi, cả nhóm rủ nhau đánh bạc
dưới hình thức đánh bài phỏm được thua bằng tiền. Do không địa điểm để đánh
bạc nên cả nhóm thống nhất về nhà Đậu Văn P (là anh ruột của V) để đánh bạc
tại tổ dân phố T, phường B.
Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, cả nhóm đến nhà P đặt vấn đề mượn
nhà P làm địa điểm đánh bạc, khi đánh bạc sẽ thu tiền xâu để trả công thì được P
đồng ý. Sau đó, P đi mua bài khơ hướng dẫn mọi người xuống phía sau
gian nhà bếp, rồi cả nhóm lấy bàn, ghế, chăn chiên sẵn trong nhà P để đánh bạc
dưới hình thức đánh bài phỏm được thua bằng tiền. Cả nhóm quy ước: Người về
nhất sthắng tất cả nhng người còn lại; Người về thứ hai thua số tiền 50.000
đồng; Người về thứ ba thua số tiền 100.000 đồng; Người về thứ tư thua số tiền
150.000 đồng; Người nào không phỏm (cháy) thua số tiền 200.000 đồng;
Người nào Ù (có ba phỏm) sẽ thắng mỗi người số tiền 250.000 đồng; Người nào
Ù tròn sẽ thắng mỗi người số tiền 500.000 đồng. Nếu ván nào người Ù sẽ đóng
tiền xâu 50.000 đồng, còn Ù tròn sẽ đóng tiền xâu 100.000 đồng. Đến khoảng 12
giờ cùng ngày, khi cnhóm đang đánh bạc thì bị quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.650.000 đồng
(trong đó có 500.000 đồng là tiền thu xâu), thu giữ trên người các bị cáo tổng số
tiền 50.190.000 đồng các công cụ phục vụ việc đánh bạc. Quá trình điều tra
xác định V sử dụng số tiền 8.290.000 đồng; Tiến D sử dụng số tiền 10.900.000
đồng; Minh D1 sử dụng số tiền 10.500.000 đồng; L1 sdụng số tiền 4.150.000
đồng để tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc được xác
định là 33.840.000 đồng.
Các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện của mình như đã nêu trên. Lời
khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của
bị cáo tại Cơ quan điều tra.
3
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 8 - tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tiến D phạm tội: “Đánh bạc” bị cáo Đậu Văn P
phạm tội: “Gá bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Tiến D 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 05 tháng 8 năm 2025.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đậu Văn P 01 (Một) năm tù. (Được khấu trừ thời gian đã bị
tạm giữ từ ngày 05 tháng 8 năm 2025 đến ngày 10 tháng 8 năm 2025). Thời hạn
phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 03 bị cáo khác,
xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 23/02/2026 ngày 25/02/2026, các bị cáo
Đậu Văn PPhạm Tiến D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai
nhận về toàn bộ hành vi phạm tội.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk k phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án: Mức hình phạt cấp thẩm đã xử đối với bị cáo Phạm Tiến D 03
(Ba) năm tù là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Số tiền bị cáo dùng để
đánh bạc nhiều hơn hơn so với các bị cáo khác bị cáo nhân thân xấu
phạm tội tái phạm nguy hiểm. Cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo
không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới. Bị cáo Đậu Văn P bTòa án cấp
thẩm xử phạt 01 (Một) năm về tội: bạc” thỏa đáng. Tuy nhiên, sau khi
phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, nới cư trú ràng
bị cáo đang chăm sóc mgià nên đối với bị cáo áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật
hình sự cho bị cáo hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản
1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Phạm Tiến D, giữ nguyên bản án thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 - tỉnh Đắk Lắk về hình phạt đối với bị cáo Phạm Tiến
D. Áp dụng khoản 1 Đièu 355, Điều 357 điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo bị
cáo Đậu Văn P, xử phạt bị cáo Đậu Văn P 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm
không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo Đậu Văn P và Phạm Tiến D không tranh luận thêm, chỉ đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đậu Văn P Phạm Tiến D đều thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án thẩm đã xác định. Lời khai
nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai
của nhng người cùng tham gia đánh bạc, vật chứng thu giữ các tài liệu, chứng
cứ khác trong hồ ván. Do đó, đủ sở xác định: Khoảng 10 giờ 15 phút
ngày 05/8/2025, tại phòng bếp nhà bị cáo Đậu Văn P thuê của ông Đậu Văn H (t
dân phố T, phường B, tỉnh Đắk Lắk), các bị cáo Đậu Viết V, Phạm Tiến D,
Nguyễn Cao L1 Minh D1 đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm,
được thua bằng tiền, với tổng số tiền 33.840.000 đồng. Trong đó, bị cáo V sử dụng
8.290.000 đồng; bị cáo Tiến D 10.900.000 đồng; bị cáo Minh D1 10.500.000
đồng; bị cáo L1 4.150.000 đồng (bao gồm 500.000 đồng tiền xâu trả cho bị cáo
Đậu Văn P).
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Tiến D về tội: Đánh bạc” theo quy
định tại khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
Đối với hành vi của bị cáo Đậu Văn P, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo vtội: “
bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là chưa chính
xác. Bỡi lẽ, bị cáo Đậu Văn P không phải người chủ động rủ lôi kéo, Đậu
Viết V, Phạm Tiến D, Nguyễn Cao L2, Võ Minh D1 tự chủ động đến nhà bị cáo
P, tự đặt mức thu tiền xâu, tự chủ động thu tiền xâu trả tiền công cho bị cáo P. Bị
cáo P cả nể, đồng tình để các con bạc đánh bạc tại nhà bếp nơi bị cáo quản lý sử
dụng. Hành vi của bị cáo không thuộc quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1
Điều 322 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo P cấu thành tội: Đánh
bạc” với vai trò đồng phạm giúp sức theo quy định tại khoản 1 Điêu 321 Bộ luật
hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử
thấy rằng:
Xét mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đậu Văn P 01 (Một) năm tù
về tội: “Gá bạc” là tương xứng với mức hình phạt của tội: “Đánh bạc”. Xét kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đậu Văn P, thấy bị cáo có nhân thân tốt có
nơi trú ràng. Ngoài ra, khi xác định hành vi của bị cáo phạm tội: “Đánh
bạc” thì cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt là phạm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự. Bị cáo lao động chính trong gia đình đang chăm sóc mẹ già (Bị cáo
đơn, xác nhận của chính quyền địa phương) nên cần áp dụng thêm khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội với nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đối với
bị cáo không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội mà cho bị cáo
tự cải tạo ngoài hội dưới sgiám sát giáo dục của chính quyền địa phương
cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Chấp
5
nhận kháng cáo của bị cáo bị cáo Đậu Văn P sửa bản án sơ thẩm về tội danh đối
với bị cáo Đậu Văn P.
- Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Tiến D: Bị cáo
D có 02 tiền án thể hiện bị cáo D chưa chịu ăn năn hối cải đối với hành vi phạm
tội trước đó mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo là người sử dụng số tiền để đánh bạc
nhiều hơn so với các bị cáo khác phạm tội thuộc trường hợp định khung tăng
nặng tái phạm theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đã xử
phạt bcáo 03 năm tù mức khởi điểm của khung hình phạt và đã xem xét tình
tiết giảm nhthành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm
nhẹ nào mới. Do đó không có căn cứ nhấp nhận kháng cáo cảu bị cáo mà cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo
Phạm Tiến D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị
cáo Đậu Văn P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu văn P. Sửa một phần Bản án hình sự
thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 -
Đắk Lắk về chuyển tội danh bạc’’ sang tội danh “Đánh bạc” đối với bị cáo
Đậu Văn P.
- Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Tiến D Giữ nguyên Bản án hình
sự thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8
- Đắk Lắk về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Tiến D.
Tuyên bố: Các bị cáo, Phạm Tiến D, Đậu Văn P phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Tiến D 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 05 tháng 8 năm 2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Xử phạt bị cáo Đậu Văn P 01 (Một) năm nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 02 năm tính từ ngày nguyên án phúc thẩm.
- Giao bị cáo Đậu Văn P cho Ủy ban nhân phường B, tỉnh Đắk Lắk nơi bị
cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo
6
trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị
cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án thể
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó
phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án
mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo
khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
[2] Về án phí: Phạm Tiến D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án
phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đậu Văn P không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Ti cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lk (02 bn);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lk;
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lk;
- Tri tm giam Công an tỉnh Đắk Lk;
- TAND khu vc 8 Đắk Lk;
- VKSND khu vc 8 Đắk Lk;
- Phòng THADS khu vc 8;
- B cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyn Th My My
Tải về
Bản án số 100/2026/HS-PT Bản án số 100/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 100/2026/HS-PT Bản án số 100/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất