Bản án số 10/12/2021 ngày 10/12/2021 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/12/2021

Tên Bản án: Bản án số 10/12/2021 ngày 10/12/2021 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 10/12/2021
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/12/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế THA
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BN
Bản án số: 06/2021/DSPT
Ngày: 10/12/2021
V/v: Tranh chấp liên quan đến tài
sản bị cưỡng chế THA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Nguyễn Tuyết Mai.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
BN.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử
phúc thẩm công khai V án thụ số: 99/2019/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm
2019 về “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án.
Do bản án dân sự thẩm số: 12/2019/DSST ngày 07 tháng 8 năm 2019
của Toà án nhân dân huyện YP bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa V án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2019/QĐ-PT ngày
23 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1960 (vắng mặt);
Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1958 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn ĐT, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Đinh Văn S, sinh năm
1974; địa chỉ: Số 56, đường PNL, tổ 15, thị trấn DL, huyện DL, tỉnh (có
mặt).
- Bị đơn: Chị Trương Thị V, sinh năm 1983 (có mặt);
Anh Chương Văn L (tức Trương Văn L), sinh năm 1977 (vắng
mặt);
Địa chỉ: Thôn ĐT, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN.
- Người có quyền L, nghĩa V liên quan:
2
1. Chi cục thi hành án dân sự huyện YP.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đăng Đ - Chi cục trưởng (vắng mặt).
Địa chỉ: Thị trấn C, huyện YP, tỉnh BN.
2. Ông Trương Văn T3, sinh năm 1957 (vắng mặt);
3. Anh Nguyễn Văn Hồng T4, sinh năm 1984 chị Nguyễn Thị H2, sinh
năm 1987 (đều vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn ĐX, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN.
Người làm chứng: Ông Đặng Đình T6, sinh năm 1961 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn , xã VM, huyện YP, tỉnh BN.
Ngưi kháng cáo: Ông Tơng Văn T, Lưu ThT1.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo bản án thẩm các tài liệu có trong hồ thì nội dung V án như
sau:
Nguyên đơn người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 15/9/2008, ông Trương Văn T nhận chuyển nhượng của ông Đặng Đình
T6 thôn Quan Độ, Văn Môn, huyện YPthửa đất số 238, ô số 12, T6 bản
đồ số 16, diện tích 120m
2
ở khu dân cư thôn ĐT, xã ĐT, huyện YP. Nguồn gốc
thửa đất của ông Trương Văn T3 được Hợp tác thôn ĐT bán cho từ năm
1994, sau đó vào ngày 08/10/2000 ông T3 đã chuyển nhượng cho ông Đặng
Đình T6.
Khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên, hai bên ông Đặng Đình T6
ông Trương Văn T làm giấy mua bán viết tay thỏa thuận mua bán thủa
đất trên với số tiền 400.000.000đ. Khi mua bán ông T6 đã giao cho ông T
những giấy T6 gồm: Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban
nhân dân ĐT cấp cho ông Trương Văn T3; 01 bản gốc giấy chuyển nhượng
do ông T3 bán cho ông T6; 01 bản gốc giấy chuyển nhượng đề ngày 15/9/2008
do ông T6 viết cho ông T. Khi mua bán đất ruộng, năm 2009 ông T xây bờ
để giữ đất. Đến năm 2010, vchồng ông T đã cho con gái ông là chị Trương
Thị V mượn thửa đất này để xây nhà ở. Khi cho ợn không giấy T6 gì,
chỉ nói miệng, khi nào cần thì lấy lại. Sau đó vợ chồng chị V, anh L đã xây
ngôi nhà 03 tầng trên đất và sử dụng cho đến nay.
Năm 2018, ông Trương Văn T Lưu Thị T1 mới biết thửa đất trên
đang bquan thi hành án huyện YPtiến hành biên, bán đấu giá tài sản.
Ông T, T1 không biết việc ông Trương Văn T3 viết giấy bán thửa đất trên
cho vợ chồng chị V, anh L tkhi nào cũng không biết chị V viết giấy bán
thửa đất trên cho vợ chồng chị Trương Thị Trung và anh Trương Văn Quý.
3
Ngày 29/10/2018, vợ chồng ông T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu vợ
chồng chị V, anh L phải trả lại thửa đất ô số 12, thửa số 238, T6 bản đồ 16 diện
tích 120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN. Ngày
29/01/2019 vợ chồng ông T khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển
nhượng đất đề ngày 17/4/2009 giữa ông Trương Văn T3 với vợ chồng ch
Trương Thị V anh Chương Văn L đối với thửa đất ô số 12 thuộc khu trạm
xá cũ, ở ven đường 295 (nay là thửa 238 bản đồ số 16).
Bđơn chị Trương Thị V trình bày: Chị thừa nhận nguồn gốc thửa đất số
238, ô số 12, T6 bản đồ 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân cư thôn ĐT, xã
ĐT do HTX thôn ĐT bán cho ông Trương Văn T3. Ngày 08/10/2000, ông
T3 bán cho ông Đặng Đình T6. Đến ngày 15/9/2008 ông T6 bán lại cho ông
Trương Văn T thửa đất trên với giá 400.000.00, việc mua bán chỉ viết tay,
không xác nhận của chính quyền. Năm 2009, bố chị xây tường giữ đất. Do
vợ chồng chị không nhà nên năm 2010 bố mẹ chị đã cho vợ chồng chị
mượn thửa đất này. Tháng 01/2010 gia đình chị đã xây ngôi nhà 03 tầng
cho đến nay.
Do vợ chồng chị làm ăn thua lỗ nên chị bị khởi kiện dân sự và Tòa án đã
xét xử, sau đó bị Cơ quan thi hành án biên tài sản ngôi nhà ba tầng trên
thửa đất diện tích 120m
2
ở thôn ĐT, xã ĐT. Bố mẹ chị không biết việc thửa đất
trên bị kê biên. Chị không trình bày với quan Thi hành án đất của bố m
chị mà nói là đất của vợ chồng chị.
Tháng 4/2009, chị bảo ông Trương Văn T3 giấy bán thửa đất trên
cho chị với lý do để chị đi vay tiền. Ngày 17/4/2009, ông T3 đã ký giấy bán đất
cho chị nhưng chị không đưa tiền cho ông T3, ông T3 không nhận tiền từ chị
cũng không giao đất cho chị.
Do chị nợ anh Trương Văn Quý và chị Trương Thị Trung thôn Đông
Thái, xã ĐT tiền hụi họ nên ngày 07/9/2011 vợ chồng chị viết một giấy
chuyển nhượng đất với nội dung bán cho vợ chồng anh Quý, chị Trung thửa
đất số 238, số 12, T6 bản đồ số 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân
thôn ĐT, ĐT, huyện YPvới giá 2.500.000.000đ để gán nợ và hẹn khi nào có
tiền sẽ chuộc lại. Chị đã đưa cho chị Trung toàn bộ giấy T6 của thửa đất gồm:
01 bản gốc biên lai thu lệ phí trước bạ ngày 07/12/1994 của Chi cục thuế
huyện YP; 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng do UBND ĐT cấp
cho ông T3 đngày 20/9/1994; 01 bản gốc giấy chuyển nhượng đất đề ngày
17/4/2009 có chữ ký của ông Trương Văn T3; 01 bản gốc giấy chuyển nhượng
đất đề ngày 07/9/2011 do chị viết giấy bán cho anh Quý, chị Trung. Đối với
bản gốc biên lai thu lệ phí bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
UBND ĐT cấp cho ông T3 chị mượn của bố chị. Khi bố chị cho chị
mượn đất thì bố chị cũng đưa luôn giấy T6 gốc cho chị giữ.
4
Bố mẹ chị khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị phải trả thửa đất số 238, T6
bản đsố 16, quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT, huyện YPhủy hợp
đồng chuyển nhượng đất đề ngày 17/4/2009 giữa chị với ông T3 thì chị đồng ý.
Chị đề nghị bố mẹ chị phải trả cho vợ chồng chị giá trị tài sản trên đất.
Anh Chương Văn L trình bày: Anh thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 238,
T6 bản đồ số 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, xã ĐT do
Hợp tác thôn ĐT bán cho ông Trương Văn T3 từ năm 1994. Sau đó ông T3
bán cho ông Đặng Đình T6 n Môn thửa đất trên. Năm 2009, vợ chồng
anh mua của ông T6 thửa đất trên với giá 400.000.000đ, việc mua bán viết
tay không xác nhận của chính quyền, chị V người đứng ra mua bán. Vợ
chồng anh đã trả hết tiền cho ông T6 nhận đất luôn. Năm 2010, vợ chồng
anh đã xây 01 ngôi nhà ba tầng kép kín trên thửa đất và sinh sống cho đến nay.
Do chị V làm ăn thua lỗ bị khởi kiện Tòa án đã xét xử nên ngôi nhà ba
tầng và thửa đất diện tích 120m
2
đã bị cơ quan Thi hành án kê biên tài sản.
Nay ông T, T1 yêu cầu vợ chồng anh phải trả thửa đất số 238 anh đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền L, nghĩa V liên quan trình bày:
Chi cục Thi hành án dân sự huyện YPdo ông Đăng Đào trình bày: Chi
cục thi hành án đang thi hành quyết định số 03/QĐST-DS ngày 08/6/2012 của
Tòa án nhân dân huyện YP; Bản án số 22/2013/DSST ngày 24/5/2013 của
TAND huyện YPbản án số 68/2013/DSPT ngày 21/8/2013 của TAND tỉnh
BN; Bản án số 23/2017/DSPT ngày 21/4/2017 của TAND tỉnh BN. Chấp hành
viên đã thực hiện việc xác minh tài sản thì được biết chị V, anh L tài sản
chung quyền sử dụng đất thửa 238, T6 bản đồ 16, diện tích 100m2 tại thôn
ĐT, ĐT, YP. Do chị V, anh L không tự nguyện thi hành án nên Chấp hành
viên đã tiến hành biên tài sản, tổ chức định giá, bán đấu giá theo quy định
của pháp luật người trúng đấu giá anh Nguyễn Văn Hồng T4. Ngày
20/12/2018, Chi cục thi hành án thực hiện cưỡng chế thi hành án để giao tài
sản cho anh T4 thì ông T khởi kiện. Chi cục thi hành án đề nghị Tòa án xem
xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Trương Văn T3 trình bày: Ông thừa nhận nguồn gốc thửa đát số 238,
T6 bản đồ số 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, xã ĐT do
Hợp tác thôn ĐT bán cho ông từ năm 1994. Năm 2000 ông đã bán cho ông
Đặng Đình T6. Sau đó ông T6 đã bán thửa đất trên cho chị Trương Thị V với
giá 400.000.000đ. ông ông T6 anh em nên ông T6 nhờ ông đứng
tên viết giấy bán thửa đất trên cho chị V. Ông viết 01 giấy chuyển nhượng
viết tay nội dung bán thửa đất trên cho chị V giá 400.000.000đ, nhưng thực
tế ông T6 người nhận tiền, ông người bán, có ông T6 góc dưới bên
trái giấy chuyển nhượng, chị V hay không thì ông không nhớ. Ông đưa
5
bản gốc giấy chuyển nhượng viết tay cho chị V giữ. Ông T6 đưa toàn bgiấy
T6 gốc cho chị V gồm: Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND
ĐT cấp, 01 bản gốc biên lai thu tiền trước bạ. Chữ trong giấy chuyển
nhượng đất đề ngày 17/4/2009 giữa ông chị V là của ông. Ông khẳng định
ông chỉ bán đất cho ông T6 giá 10.000.000đ nhận tiền của ông T6. Ông
không bán đất cho chị V, không nhận tiền của chị V. Nay ông T yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 17/4/2009 ông đề nghị Tòa án xem xét
giải quyết theo pháp luật, ông không liên quan gì đến thửa đất này.
Anh Nguyễn Văn Hồng T4 trình bày: Anh không biết về nguồn gốc
thửa đất số 238, T6 bản đồ 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân cư thôn ĐT,
ĐT. Sau khi cơ quan thi hành án thông báo về việc bán đấu giá thửa đất trên
tài sản trên đất 01 ngôi nhà ba tầng để thi hành án, anh đăng đấu
giá. Ngày 31/8/2018, anh trúng đấu giá tài sản trên anh đã nộp đủ số tiền
1.218.000.00cho Chi cục thi hành án dân sự huyện YP. Anh không biết
về việc bố con ông T kiện nhau, nay anh yêu cầu Cơ quan thi hành án phải bàn
giao tài sản đã trúng đấu giá cho anh.
Từ nội dung như trên, bản án sơ thẩm đã áp dụng các Điều 235, 264, 266,
147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 129 Bộ luật Dân sự năm
2005; Điều 117, 122, 124, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T V Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dng án phí và lệ phí tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T, Lưu
Thị T1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 17/4/2009 giữa ông Trương
Văn T3 và chị Trương ThV vô hiệu do giả tạo.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T, Lưu Thị T1 yêu cầu chị
Trương Thị V, anh Chương Văn L (tức Trương Văn L) phải trả thửa đất số
238, T6 bản đồ s16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT,
huyện YP, tỉnh BN.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá
tài sản và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/8/2019, ông Trương Văn T Lưu Thị T1 kháng cáo một
phần bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm m nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Trong phần tranh luận người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ
chồng chị V phải trả lại ông T, T1 diện tích 120m
2
đất tại khu dân thôn
6
ĐT, ĐT, huyện YP. Ông T, T1 sẽ trả vợ chồng chị V, anh L phần giá tr
tài sản trên đất.
Chị V nhất trí lấy lại phần giá trị tài sản trên đất do nguyên đơn trích trả.
Những người quyền L, nghĩa V liên quan vắng mặt nên không tham
gia phần tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết V án của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng kể từ khi thụ phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa
đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung V án, đề nghị Hội đồng xét
xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T V Quốc hội, không chấp
nhận kháng cáo của ông Trương Văn T và bà Lưu Thị T1, xử giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông T, bà T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ V án được thẩm tra tại phiên toà,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về ttụng: Đơn kháng cáo của ông Trương Văn T bà Lưu Thị T1
np trong hn luật định là hp lệ, được chp nhận để xem xét theo trình t phúc
thm.
Về thẩm quyền giải quyết quan hệ pháp luật tranh chấp: Thửa đất số
238, T6 bản đồ số 16 thuộc quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT, huyện YP,
tỉnh BN hiện đang được quan thi hành án dân sự huyện YPbán đấu giá theo
quy định của pháp luật. Nhưng ông Trương Văn T Lưu Thị T1 khởi kiện
yêu cầu chị Trương Thị V anh Chương Văn L phải trả lại thửa đất trên. Tòa
án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp liên quan đến tài sản bị
cưỡng chế thi hành án và thụ giải quyết đúng thẩm quyền đúng quy
định của pháp luật.
[2]. Về nội dung: Nguồn gốc thửa đất số 238, T6 bản đồ 16, diện tích
120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT, huyện YPdo HTX thôn ĐT
bán trái thẩm quyền cho ông Trương Văn T3 ngày 20/9/1994. Ngày 08/10/2000,
ông Trương n T3 bán cho ông Đặng Đình T6 thôn Quan Độ, Văn n
thửa đất trên với giá 10.000.000đ. Việc mua bán giấy viết tay, xác nhận
của Trưởng thôn ĐT. Ngày 15/9/2008, ông Đặng Đình T6 viết giấy bán cho ông
Trương Văn T thửa đất trên với giá 400.000.000đ, việc mua bán giấy viết
tay, không xác nhận của chính quyền địa phương. Ngày 17/4/2009, ông
7
Trương Văn T3 viết giấy chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng chị V, anh
L. Tuy nhiên, ông T3 chị V đều trình bày ông T3 chỉ viết giấy bán đất, chị V
không giao tiền cho ông T3, ông T3 không nhận tiền không giao đất cho vợ
chồng chị V. Thực tế chị V đã trả ông T6 400.000.000đ, ông T6 giao đất cùng
giấy T6 đất cho chị V. Anh Chương Văn L thừa nhận năm 2009 vợ chồng anh
mua của ông Đặng Đình T6 thửa đất trên với giá 400.000.000đ. Tháng
01/2010, chị V, anh L xây 01 ngôi nhà 3 tầng trên thửa đất và sinh sống cho đến
nay. Ngày 07/9/2011, chị Trương Thị V viết giấy chuyển nhượng thửa đất trên
cho vợ chồng anh Trương Văn Quý, chị Trương Thị Trung với giá
2.500.000.000đ. Tháng 8/2012, vợ chồng anh Quý, chị Trung khởi kiện V án
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với chị V, anh L và
đã được Tòa án nhân dân huyện YPxét xử tại bản án số 22/2013/DSST, ngày
24/5/2013 Tòa án nhân dân tỉnh BN đã xét xử tại bản án số 68/2013/DSPT,
ngày 21/8/2013.
Quá trình giải quyết V án, quan Thi hành án dân sự huyện YPra các
quyết định thi hành án đối với chị Trương Thị V, anh Chương Văn L. Chấp
hành viên đã tiến hành xác minh tài sản thì được biết chị V, anh L tài sản
chung quyền sử dụng đất thửa 238, T6 bản đồ 16, diện tích 100m
2
tại ĐT,
ĐT, YPtài sản trên đất 01 ngôi nhà 3 tầng. Tại Quyết định số 71/XD-ĐT,
ngày 02/3/2004 của Sở xây dựng BN đã hợp thức hóa đất ở đối với thửa đất của
chị V, anh L. Theo quyết định nêu trên chị V, anh L được hợp thức a diện
tích 100m
2
.
Do chị V, anh L không tự nguyện thi hành án nên Chấp hành viên đã tiến
hành biên tài sản thửa đất số 238, T6 bản đồ 16 tài sản trên đất 01
ngôi nhà 3 tầng để bán đấu giá theo quy định của pháp luật, người trúng đấu giá
anh Nguyễn Văn Hồng T4. Ngày 31/8/2018, Chi cục Thi hành án dân sự
huyện YPđã hợp đồng mua bán tài sản đấu giá với anh T4. Quá trình thực
hiện việc thi hành án đối với thửa đất trên từ năm 2012 - 2018 vợ chồng chị V,
anh L ông T, T1 bố mẹ chị V đều không ai đơn khiếu nại hay thắc
mắc gì về tài sản nhà đất đã kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá.
Ngày 20/12/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện YPthực hiện cưỡng
chế thi hành án để giao tài sản cho anh T4 thì ông Trương Văn T khởi kiện
Tòa án nhân dân huyên YPthụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xthẩm, ông Trương Văn T Lưu Thị T1 kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm.
Xem xét nội dung kháng cáo của ông T, T1, Hội đồng xét xử thấy: Về
nguồn gốc thửa đất số 238, T6 bản đồ 16 quy hoạch khu dân thôn ĐT,
ĐT, huyện YPdo vợ chồng chị V mua của ông Trương Văn T3 năm 2009.
Đến tháng 01/2010, vợ chồng chị xây 01 ngôi nhà 3 tầng trên đất. Năm 2011,
8
chị V đã viết giấy chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng anh Quý, chị
Trung. Mặt khác, theo chị Trương Thị V trình bày tại quan thi hành án dân
sự huyện YPngày 16/7/2012 trong quá trình giải quyết V án tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Trung, anh Qchị V, anh
L tại Tòa án nhân dân huyện YPTòa án nhân dân tỉnh BN, như vậy p
hợp với lời trình bày của anh Trương Văn L ông Trương Văn T3 về nguồn
gốc thửa đất.
Mặt khác, trong quá trình thi hành các bản án dân sđã hiệu lực pháp
luật, Chi cục thi hành án dân sự đã tiến hành xác minh tài sản thì căn cứ xác
định thửa đất số 238, T6 bản đồ số 16 quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT
do vợ chồng chị V mua của ông Trương Văn T3 từ năm 2009. Đến tháng
01/2010, vợ chồng chị đã xây ngôi nhà ba tầng trên đất. Năm 2011, chị đã viết
giấy chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng anh Trương Văn Quý, chị
Trương ThChung. Căn cứ vào các tài liệu do Tòa án thu thập do đương sự
xuất trình, thể hiện ngày 17/4/2009 ông Trương Văn T3 viết giấy chuyển
nhượng thửa đất trên cho vchồng chị V, anh L với giá 400.000.000đ, mặc
ông T3 chị V đều trình bày các bên chỉ viết giấy bán đất, không giao nhận
tiền là do thực tế ông Đặng Đình T6 mới người bán đất cho chị V, còn ông
T3 chỉ đứng tên viết giấy bán cho chị V. Tuy nhiên, anh L thừa nhận năm 2009
vợ chồng anh mua của ông Đặng Đình T6 thửa đất trên với giá
400.000.000đ. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đề ngày
17/4/2009 giữa ông Trương Văn T3 và chị Trương Thị V đã bị Tòa án nhân dân
huyện YPtuyên vô hiệu do giả tạo là đúng quy định pháp luật. Như vậy, bản án
thẩm nhận định năm 2009 vợ chồng chị V, anh L mua thửa đất trên của ông
Đặng Đình T6 với giá 400.000.000đ là phù hợp.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết V án tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Trung, anh Quý chị V, anh L từ tháng
8/2012 đến tháng 8/2013 ông T, T1 đều không ý kiến về thửa đất trên.
Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng chị V, anh L
và vợ chồng chị Chung, anh Quý thì T1 còn ký với tư cách người làm chứng.
Do đó, kháng cáo của ông T, bà T1 yêu cầu chị V, anh L phải trả lại thửa đất số
238, T6 bản đồ số 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân thôn ĐT, ĐT,
huyện YPlà không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Ông T, T1 người cao tuổi, căn cứ Nghị quyết
326/2016/UBTVQH12 Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự thẩm và phúc
thẩm cho ông T, T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
9
Căn cứ khon 1 Điều 308 Bộ luật ttụng dân sự; Điều 122, 127, 129 Bộ
luật Dân sự năm 2005; Điều 117, 122, 124, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T V Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí tòa
án, xử giữ nguyên bn án thẩm.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương n T, Lưu
Thị T1.
2. Hủy hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 17/4/2009 giữa ông Trương
Văn T3 và chị Trương ThV vô hiệu do giả tạo.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T, Lưu Thị
T1 về việc buộc chị Trương Thị V, anh Chương Văn L (tức Trương Văn L) phải
trả thửa đất số 238, T6 bản đsố 16, diện tích 120m
2
quy hoạch khu dân
thôn ĐT, xã ĐT, huyện YP, tỉnh BN.
4. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản. Ông Trường Văn T, bà
Lưu Thị T1 phải chịu 7.700.000đ (xác nhận ông T đã nộp đủ).
5. Về án phí: Miễn án phí dân sự thẩm cho ông Trương n T, u
Thị T1 đối với yêu cầu không được chấp nhận. H2 trả ông T, bà T1 12.000.000đ
tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003963 ngày 18/12/2018 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện YP300.00tiền tạm ứng án pđã nộp ti biên lai
số 0000556 ngày 31/01/2019 của Chi cục thi hành án n sự huyện YP.
Chị Tơng Thị V phải chịu 300.000đ án phí dân s thẩm.
Miễn án pn sự phúc thẩm cho ông Trương Văn T, u Thị T1. H2
trả ông T, T1 600.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp ti biên lai số
0001170 và 0001171 ngày 22/8/2019 của Chi cục thi nh án n sự huyện YP.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thanh Bình Nguyễn Tuyết Mai
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tính
10
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BN;
- TAND huyện YP;
- Chi cục THADS huyện YP;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ V án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tính
11
Tải về
Bản án số 10/12/2021 Bản án số 10/12/2021

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất