Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 14/03/2024 của TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 14/03/2024 của TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Long Phú (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
| Số hiệu: | 09/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bị cáo Lâm M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 14/3/2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực
Ông Trà Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhị-Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày
28/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày
01/3/2024 đối với bị cáo:
Lâm M, sinh ngày 21/6/2001; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số
132/4A đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề
nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Con ông Lâm P và bà Thạch
Thị D; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 04/11/2020, bị Tòa án nhân
dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 20 tháng tại Quyết định
số 280/QĐ-TA, đến ngày 23/12/2022 bị cáo chấp hành xong quyết định xử lý vi
phạm hành chính nhưng lần phạm tội này của bị cáo chưa được coi là chưa bị xử
lý vi phạm hành chính; Về nhân thân: vào ngày 02/6/2020 bị Chủ tịch Ủy ban
nhân dân Phường Q, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất
ma túy tại tại Quyết định số 25/QĐ-UBND, đến lần phạm tội này của bị cáo
được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày
13/7/2023 cho đến nay. (có mặt)
2
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phan Đăng H (có mặt) và Luật sư
Trần Ngọc H (có đơn xin vắng mặt)-Công ty Luật Trách nhiệm Hữu hạn Một
thành viên A; Địa chỉ: Số 353AA đường Nguyễn Văn C, phường A, quận N,
thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Thạch Thị D, sinh
năm 1977; Nơi cư trú: Số 132/4A đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S,
tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Lâm P, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Số 132/4A đường T, Khóm A,
Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn P,
huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3. Bà Lê Thị N, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện
L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin tố giác của quần chúng nhân dân tại khu vực bến phà Long
Phú, thuộc Ấp A, thị trấn P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng có đối tượng có biểu hiện
hoạt động tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an gồm
Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Long Phú phối hợp với Phòng Cảnh
sát Điều tra Tội phạm về ma túy-Công an tỉnh Sóc Trăng tiến hành xác M.
Đến khoảng 13 giờ ngày 11/6/2023, lực lượng Công an phát hiện Lâm M
điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vario 160, màu đen-trắng, biển số
83P4-522.25 đến khu vực bến phà L, rồi dừng xe trước nhà ông Trần Trọng P và
gọi điện thoại. Thấy M có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an yêu cầu
kiểm tra, khi thấy lực lượng công an M bước xuống xe và làm xe ngã đập mạnh
về bên phải làm yên xe bung ra, nhiều đồ đạc trong cốp xe rơi ra, túi nylon màu
đen treo ở móc dưới cổ xe bị rơi xuống đất. Ngay lập tức, lực lượng Công an
khống chế bắt giữ M, đồng thời tiến hành kiểm tra các đồ vật. Qua kiểm tra túi
nylon màu đen phat hiện bên trong có 06 ống thủy tinh không màu, một đầu
được uốn cong, phần đầu ống hình cầu; 01 gói được quấn băng keo màu vàng,
tiến hành tháo băng keo phát hiện phía trong có 01 tờ vé số cuộn tròn, mở tờ vé
số cuộn tròn phát hiện phía trong có 01 túi nylon không màu, có viền màu đỏ,
một đầu kẹp bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng. Nghi là ma túy nên lực
lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lâm M về hành
vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời tạm giữ, niêm phong các tang vật có
liên quan.
Quá trình điều tra, M khai nhận trước ngày thực hiện hành vi phạm tội,
Lâm M từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị
trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma
3
túy. Sau khi cai nghiện xong, Lâm M tiếp tục tìm mua ma túy để sử dụng trái
phép. Và trong một lần đi chợ Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, M gặp lại
một người bạn tên Tý (từng cai nghiện ma túy) nên M hỏi T về chỗ bán ma túy
thì T cho M số điện thoại của người tên H. Sau đó, M gọi cho H hỏi mua ma túy
đá với giá 1.200.000 đồng và xin các ống thủy tinh (ống nỏ) để làm dụng cụ sử
dụng ma túy thì H đồng ý. H kêu M “mày lên bến phà Long Phú đi, tao lấy bỏ
vô cho”. Đến khoảng 11 giờ ngày 11/6/2023, M điều khiển xe mô tô 83P4-
522.25 đi đến khu vực bến phà L rồi dừng xe và gọi điện thoại cho H và nói “tôi
tới rồi và đang ngồi trên xe Vario", H trả lời “ừ, ừ”. M ngồi trên xe đợi khoảng
10 phút thì có một người đàn ông điều khiển xe mô tô loại Wave màu đỏ lại chỗ
M, biết là đến giao ma túy nên M đưa cho người đàn ông số tiền 1.200.000
đồng, người này đưa cho M 01 cái túi nylon đen được buộc kín. Sau đó, M mở
túi nylon ra kiểm tra thì thấy bên trong có 06 ống thủy tinh không màu, một đầu
được uốn cong, phần đầu ống hình cầu (còn gọi là nỏ) và một gói được quấn
băng keo màu vàng. M tháo băng keo ra thì thấy bên trong có 01 tờ vé số cuộn
tròn. M tiếp tục mở tờ vé số thì thấy bên trong có 01 túi nylon không màu, có
viền màu đỏ, một đầu kẹp, bên trong có chứa ma túy đá. Kiểm tra xong, M quấn
ma túy lại vào tờ vé số và quấn băng keo lại rồi buộc miệng túi nylon màu đen
lại và gắn vào móc ở dưới cổ xe. Khi M định đi thì bị lực lượng Công an phát
hiện ập đến bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 77/KLMT-KTHS, ngày 17/6/2023 của Phòng
Kỹ thuật Hình sự-Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng
được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 10,1580 gam, loại
Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 3974/KL-KTHS, ngày 21/6/2023 của Phân
viện Khoa học Hình sự-Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí M kết luận: Trên các
mẫu vật gửi giám định (được niêm phong ký hiệu MT gồm: 01 túi nylon màu
đen; 01 gói cuốn băng keo màu vàng và túi nylon không màu) phát hiện có AND
người. Phân tích được một kiểu gen nam giới trùng với AND của đối tượng Lâm
M.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-LP ngày 27/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Lâm M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị
Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Lâm M phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ
dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm b Khoản 1 Điều 254; điểm s
Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 55 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, đề nghị xử phạt

4
bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 01
năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép
chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái túi nylon
không màu, một đầu kẹp (có viền màu đỏ) được kẹp kín, bên trong túi nylon
chứa tinh thể rắn màu trắng, đã được niêm phong; 01 tờ vé số của Công ty xổ số
kiến thiết tỉnh Sóc Trăng mở thưởng ngày 07/6/2023, mang số 124627 được
cuộn tròn, bên ngoài có quấn xung quanh bằng băng keo màu vàng; 06 ống thủy
tinh không màu, một đầu được uốn cong phần đầu ống hình cầu.
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm
ứng nhãn hiệu SAMSUNG loại GALAXY A205, màu xanh đen.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo thống nhất với nội dung Cáo
trạng, tội danh và việc áp dụng pháp luật mà Viện Kiểm sát đã truy tố đối với bị
cáo. Riêng về hình phạt do bị cáo đã ăn năn hối cải, người dân tộc Khmer, lao
động chính trong gia đình và trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn
hạn chế, bị cáo lần đầu phạm tội. Từ cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để
xem xét xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên và dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng
truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai cho bị cáo. Bị cáo trình bày lời nói sau
cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng
thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài
ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào
có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng là bà Trần Thị T và bà
Lê Thị N. Xét thấy, trong quá trình Điều tra những người làm chứng đã có lời
khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 293, Điều 299 của Bộ luật
Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng nêu trên.
5
[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn
phù hợp với lời khai của bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều
tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Bị cáo Lâm M là người nghiện ma túy, loại ma túy mà bị cáo thường sử
dụng là ma túy đá (loại Methamphetamine), do muốn có ma túy để sử dụng nên
bị cáo đã gọi cho H hỏi mua 01 bịch ma túy đá với giá 1.200.000 đồng và xin
các ống thủy tinh (ống nỏ) dùng làm dụng cụ sử dụng ma túy thì H đồng ý và
hẹn địa điểm giao ma túy là tại Bến phà L. Vào khoảng 13 giờ ngày 11/6/2023,
bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến Bến phà L thuộc Ấp A, thị trấn P, huyện L,
tỉnh Sóc Trăng nhận 01 ma túy đá cùng 06 ống thủy tinh không màu, một đầu
được uốn cong, phần đầu ống hình cầu (còn gọi là nỏ) đem về cất giấu nhằm
mục đích sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang và thu giữ ma túy cùng dụng cụ sử
dụng ma túy. Qua giám định là ma túy, có khối lượng là 10,1580 gam, loại
Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm
phạm đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, bị cáo
nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh
hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó,
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lâm M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử
chấp nhận và cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.
[4]. Tuy nhiên, khi lượng hình và quyết định mức hình phạt đối với bị
cáo cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng
xét xử thấy rằng,
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành
khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Khmer. Do đó, bị cáo được hưởng các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với túi nylon màu đen, đã qua sử dụng, tờ vé số và ống thủy tinh là
của bị cáo dùng làm công cụ cất giấu và sử dụng trái phép chất ma túy, không
còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG là
của bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng nên
cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

6
[6]. Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy và cho 06 dụng cụ sử
dụng ma túy cho bị cáo, người tên T là người đã giới thiệu H cho bị cáo liên hệ
mua ma túy và người nam đã giao ma túy cho cho bị cáo, do không biết rõ họ
tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên chưa làm việc được. Yêu cầu Cơ quan
Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục xác M, làm
rõ để xử lý theo quy đnịnh pháp luật.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp
luật là 200.000 đồng.
[8]. Xét lời đề nghị của người bào chữa về tội danh và việc áp dụng pháp
luật là có căn cứ nên được chấp nhận. Riêng việc người bào chữa đề nghị áp dụng
thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để
xem xét xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên và dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp vì bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ
quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[9]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là
có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức
khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm b Khoản 1 Điều 254; điểm s
Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 47; Khoản 1 Điều
55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều
136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lâm M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và
tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Lâm M 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái
phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải
chấp hành là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 13/7/2023.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án: Theo Phiếu Nhập kho số NK0017 ngày
27/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể như
sau:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon màu đen, đã qua sử dụng; 01 cái túi nylon
không màu, một đầu kẹp (có viền màu đỏ) được kẹp kín, bên trong túi nylon
chứa tinh thể rắn màu trắng, đã được niêm phong; 01 tờ vé số của Công ty xổ số
7
kiến thiết tỉnh Sóc Trăng mở thưởng ngày 07/6/2023, mang số 124627 được
cuộn tròn, bên ngoài có quấn xung quanh bằng băng keo màu vàng; 06 ống thủy
tinh không màu, một đầu được uốn cong phần đầu ống hình cầu.
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm
ứng nhãn hiệu SAMSUNG loại GALAXY A205, màu xanh đen.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng
cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa
án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND huyện Long Phú;
- Đội Tổng hợp–Công an huyện L;
- CQTHAHS–CA huyện Long Phú;
- Chi cục THADS huyện Lo;
- UBND Phường B, thành phố S;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án;
- Người bào chữa;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Bảo Quốc
8
9
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
10
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND huyện Long Phú;
- Đội Tổng hợp–Công an huyện Long Phú;
- CQTHAHS–CA huyện Long Phú;
- Chi cục THADS huyện Long Phú;
- UBND xã Tân Hưng, huyện Long Phú;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
11
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
12
13
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2014), thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm
2008 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2014). Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008
(được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2014).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND huyện Long Phú;
- Đội Tổng hợp–Công an huyện Long Phú;
- CQTHAHS–CA huyện Long Phú;
- Chi cục THADS huyện Long Phú;
- UBND xã Tân Hưng, huyện Long Phú;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
14
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
15
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
16
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
17
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bảo Quốc
18
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
19
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu hồ sơ.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
20
Hà Văn Châu Nguyễn Phước
Lâm Tấn Vinh
21
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Người đại diện hợp pháp;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
22
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hà Văn Châu Huỳnh Phước
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
23
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Các bị cáo;
- Người bào chữa;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
24
- Người đại diện hợp pháp;
- Lưu hồ sơ.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
25
Đào Khel Huỳnh Phước
Lâm Tấn Vinh
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
26
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
Lâm Tấn Vinh
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hà Văn Châu Đào Khel
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
27
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
28
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
Lâm Tấn Vinh
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
29
Hà Văn Châu Huỳnh Phước
Lâm Tấn Vinh
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
30
- Chi cục THADS TPST;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
Lâm Tấn Vinh
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hà Văn Châu Huỳnh Phước
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
31
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS–Công an TPST;
- Đội Tổng hợp-Công an TPST;
- Chi cục THADS TPST;
- UBND Phường 4, TPST;
- UBND Phường 8, TPST;
- Bị cáo;
- Người đại diện hợp pháp;
- Người bào chữa;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
32
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hà Văn Châu Huỳnh Phước
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
33
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND thành phố S;
- Công an thành phố S;
- CQTHAHS – Công an thành phố
Sóc Trăng;
- Đội Tổng hợp-Công an thành phố
Sóc Trăng;
- Chi cục THADS thành phố S;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hà Văn Châu Huỳnh Phước
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Tấn Vinh
34
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm