Bản án số 09/2019/HC-ST ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2019/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2019/HC-ST ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Đắk Nông về khiếu kiện hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 09/2019/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2019
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ông Hùng làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết huỷ giấy CNQSD đất số BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m2, do UBND huyện Đ cấp ngày 04-02-2010 mang tên hộ ông Bùi Tôn Chính và bà Phan Thị Xuân.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thông;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Vấn;
Ông Phạm Hữu Quốc.
- Thư phiên tòa:Lương Thúy Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 19-9-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử
thẩm công khai vụ án hành chính thụ số: 32/2019/TLST-HC ngày 17 tháng 6
m 2019 về “khiếu kiện huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 9 năm 2019,
giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Bùi Xuân H
Đa ch: Thôn a, xã Đ, huyn Đ, tnh Đắk Nông Có mt.
- Nời bị kin: Uỷ ban nn n huyn Đ, tỉnh Đắk Nông;
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Mai T- Phó chủ tịch UBND huyện Đ;
Đa chỉ: Đưng T, t dân ph a, thị trn K, huyn Đ, tnh Đk Nông đơn xin xét
xvắng mt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Th D, địa chỉ: Tn 14, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đk Nông mặt.
Ông Bùi Tôn C bà Phan Thị X, cùng đa chỉ: Tn 03, xã Nhân Cơ,
huyện Đk R’lp, tnh Đk Nông mt.
Chị Bùi Thị Thúy C, chị Bùi Thị Thanh T, anh Bùi L - cùng địa chỉ:
Tn b, xã N, huyn Đ, tỉnh Đk Nông Có đơn xin xét xvng mt.
Chị Bùi Thị Quốc Q, địa chỉ: Tổ a, phường N, thị G, tỉnh Đắk Nông
Có đơn xin xét xvng mt.
Ông T Văn T và Phan Thị Bé B, cùng địa chỉ: Thôn a, Đ, huyn Đ, tnh
Đk Nông Có đơn xin xét x vng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 09/2019/HC-ST
Ngày: 19-9-2019
V/v khiếu kiện hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
2
Theo đơn khởi kiện ngày 03-6-2019 q trình giải quyết vụ án, ông Bùi
Xn H trìnhy:
Năm 2014, ông Bùi Xuân H, Nguyễn Thị D nhận chuyển nhượng
của ông Tạ Văn T, Phan Thị B diện tích đất khoảng 10.000m
2
thuộc thửa
số 16, 17 30, tờ bản đồ số 22, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 13549 QSDĐ/IH 06, cấp ngày 08-09-1995, địa ch đất tại thôn a, Đ,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vị trí đất cạnh liền kề với đất của ông Bùi Tôn C,
bà Phan Thị X, sử dụng ổn định từ năm 2014 đến nay không có tranh chấp.
Năm 2018, ông H làm th tục xin cấp giấy CNQSD đất nhưng không
hiểu do không được cấp, đến tháng 5-2019, ông H mới biết được thửa
đất gia đình ông đang sử dụng, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất
cho hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X. Do đó, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu
Toà án giải quyết hu giấy CNQSD đất số BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đ
số 22, diện tích 2.230m
2
, do UBND huyện Đ cấp ngày 04-02-2010 mang tên hộ
ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị Xuân.
Người đại diện theoy quyền của người bị kiện ông Mai T trình bày:
Ông thừa nhận UBND huyện Đăk R’Lấp cấp giấy CNQSD đất số BA
165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
cho hộ ông Bùi Tôn
C Phan Thị X sự nhầm lẫn về vị trí không đúng chủ thể. Diện tích
đất gia đình ông Bùi Xuân H đang sử dụng nhưng lại cấp giấy chứng nhận cho
hộ ông C, X, còn diện tích đất hộ ông C, X đang sử dụng thì chưa được
cấp giấy chứng nhận.
Tuy nhiên, giấy CNQSD đất người khởi kiện yêu cầu hu do nhận
chuyển nhượng lại. Do đó, theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số:
43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 thì UBND huyện Đ không thẩm quyn thu
hồi. Vì vậy, đề nghị Toà án huỷ giấy CNQSD đất số BA 165754, thửa đất số 28,
tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
, do UBND huyện Đ cấp ngày 04-02-2010
mang tên hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan ThX
Người quyền lợi nga vụ liên quan: Nguyễn Thị D (vợ ông H) thống
nhất với ý kiến của ông H đã trình bày kng b sung thêm.
Ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X trình bày:
Nguồn gốc đất ông đang sử dụng do nhận chuyển nhượng của ông
Phạm Ngọc M vào m 1995, sử dụng ổn định từ đó đến nay. Ngày 04-02-
2010, được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSD đất số: BA 165754, thửa đất số
18, tờ bản đồ số 22, diện tích 7.400m
2
giấy chứng nhận số BA 165754, thửa
đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2230m
2
. Vị trí đất ông đang sử dụng
cạnh liền kề với đất của gia đình ông Bùi Xuân H, ranh giới đất giữa hai gia
đình mt con đường đất rộng 03m, sử dụng ổn định từ trước đến nay không
tranh chấp. Quá trình sử dụng đất, ông không biết được UBND huyện Đ
cấp giấy CNQSD đất cho gia đình ông không đúng vị trí. Hiện nay quan có
thẩm quyền đã đo đạc hiện trạng đất lồng ghép diện tích đất sử dụng thực tế
với giấy chứng nhận xác định thửa đất s 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất cho hông C, X tại vị trí đất gia
đình ông H đang sử dụng. Do đó, ông đ nghị Toà án hu giấy CNQSD đất
3
số: BA 165754, thửa đất s28, tờ bản đsố 22, diện tích 2.230m
2
, do UBND
huyện Đ cấp ngày 04/02/2010, mang tên hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X.
Ông Tạ Văn T và bà Phan Thị Bé B trình bày:
Năm 2014, ông bà chuyển nhượng cho ông Bùi Xuân H thửa đất din
tích 10.000m
2
đất, thời điểm chuyển nhượng đã được cấp giấy CNQSD đất
đứng tên hộ Phan Thị Bé B, thủ tục chuyển nhượng chưa được hoàn tất, ông
bà đã giao đất cho gia đình anh H nhận sử dụng ổn định từ đó đến nay không có
tranh chấp. Nay anh H làm thtục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
thì mới phát hiện diện tích đất gia đình anh H đang sử dụng nhưng UBND
huyện Đ lại cấp giấy CNQSD đất cho hộ ông C, X không đúng, đề nghị
Toà án xem xét giải quyết theo pháp luật.
Chị Bùi ThTy C, chị Bùi Thị Thanh T, chị Bùi Thị Quốc Q, anh Bùi Bá L
trình bày:
Các chị anh L đều con của ông Bùi n C Phan Thị X. Nguồn
gốc thửa đất s28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
hiện nay ông C, bà X
đang sử dụng là do ông nhận chuyển nhượng của ông Phan Ngọc M, thủ tục
chuyển nhượng đã hoàn tất đứng n hộ ông Bùi Tôn C bà Phan Thị X. Thời
điểm nhận chuyển nhượng, các anh chđều n nhỏ, đang đi học không có ng
sức đóng p, anh chị đều xác định đây i sản riêng của ông C, X, n
việc giải quyết tranh chấp liên quan đến thửa đất này do ông được toàn quyền
quyết định anh chị không có ý kiến gì.
Tại phiên toà, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày những nội như trong quá trình giải
quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ giấy CNQSD đất số: BA 165754,
thửa đất s28, tờ bản đsố 22, diện tích 2.230m
2
, cấp ngày 04-02-2010 mang
tên hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân tnh Đắk ng th lý đơn khởi
kiện đúng quy đnh tại khon 1 Điều 30, khoản 4 Điu 32, Điều 116 ca
Luật t tng hành cnh. Thm phán đã lập h sơ, thu thập tài liệu, chứng
c đm bo đúng pháp luật. Tại phiên toà Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư toà án các đương sự trong ván đều tuân thủ đúng quyền, nghĩa vụ
của mình theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy quá trình giải quyết các đương sự đều thừa
nhận việc cấp giấy CNQSD đất cho hộ ông Bùi Tôn C và Phan Thị X
không đúng đối tượng, vị trí, đất của gia đình ông H đang sử dụng nhưng lại cấp
giấy chứng nhận cho hộ ông C, bà X, còn đất của ông C, X thực tế đang sử
dụng chưa được cấp giấy CNQSD đất. Do đó, đề ngh Hi đồng t x căn c
khon 4 Điều 32; đim b khoản 2 Điều 193 ca Lut tố tụng nh chính,
chấp nhận yêu cu khởi kiện ca ông Bùi Xuân H, huỷ giấy CNQSD đất số
BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
, do UBND
huyện Đ cấp ngày 04-02-2010, mang tên hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X.
4
Về án phí hành chính sơ thẩm: Do u cầu khởi kiện của ông Hùng được
chấp nhận, nên UBND huyện Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý
kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Khoảng tháng 05-2019, ông Bùi Xuân H
biết được thửa đất gia đình ông đang sử dụng, đã được UBND huyện Đ cấp
Giấy CNQSD đất cho hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan Thị X. Ngày 10-5-2019, ông
H nộp đơn khởi kin yêu cu hủy Giấy CNQSD đất số BA 165754, thửa đất số
28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
mang n hộ ông Bùi Tôn C và Phan
Thị X trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố
tụngnh chính.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Ông Bùi Xuân H khởi kiện yêu cầu huỷ
giấy CNQSD đất s BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích
2.230m
2
mang tên hộ ông Bùi Tôn C Phan Thị X, nên thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông, quy định tại khoản 4 Điều 32
của Luật tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận: U ban nhân dân huyện Đ
thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất cho hộ gia đình ông C, bà X là đúng theo quy
định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai năm 2003.
[2.2]. Về trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSD đất cho ông C, X đảm bảo
đúng theo quy định của pháp luật, toàn bộ hồ cấp giấy chứng nhận đã được
Toà án thu thập lưu trong hồ sơ.
[2.3]. Việc U ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.230m
2
, cấp ngày
04-02-2010, mang tên hộ ông Bùi Tôn C bà Phan Thị X không đúng chủ
thể, không đúng vị trí, cụ thể: Căn cứ vào sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp và
kết quả lồng ghép giữa diện tích đất thực tế các hđang sử dụng với diện tích
đất được cấp giấy chứng nhận bản đồ giải thửa đã thể hiện thửa đất số 28, tờ
bản đồ số 22, diện ch 2.230m
2
mà UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận cho
hộ ông C, bà X nằm tại vị trí đất gia đình ông H đang sử dụng, còn vị trí đất ông
C, X đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận. Mặt khác, quá trình giải
quyết các bên đương sự đều thừa nhận, việc cấp giấy CNQSD đất cho hộ ông C,
X không đúng vị trí, không đúng chủ thể, đất của gia đình ông H gia
đình ông C hiện đang sử dụng ranh giới ràng, ngăn cách bởi mt con
đường đất rộng khoảng 03m, hai bên sử dụng ổn định không tranh chấp.
Như vậy, đủ căn cứ xác định UBND huyện Đ cấp giấy CNQSD đất cho hộ
ông C, bà X là vi phạm khoản 1 Điều 10, khoản 3 Điều 49, khoản 1 Điều 50 của
Luật đất đai năm 2003. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu hu Giấy CNQSD đất
số BA 165754 là có căn cứ chấp nhận.
5
[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk
Nông tại phiên toà là có căn cứ.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân H được chấp
nhận nên UBND huyện Đ phải chịu án phí hành chính thẩm. Hoàn trả cho
ông Bùi Xuân H 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2
Điều 193, Điều 348, Điều 357, Điều 358 của Luật Tố tụng hành chính; Khoản 1
Điều 10, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 52 của Luật đất đai m 2003; Khoản 2
Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lphí a án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân H. Hu Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BA 165754, thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22, diện tích
2.230m
2
, do U ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông cấp ngày 04-02-2010
mang tên hộ ông Bùi Tôn C và bà Phan ThX.
2. Ván phí hành chính thẩm: Uban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk
Nông phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả cho ông Bùi Xuân H
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo
biên lai số 0000798 ngày 11-6-2019, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương svắng
mặt tại phiên toà có quyền kháng o bản án trong thời hạn 15 ny k t
ngày bản án được giao hoc được niêm yết.
Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Tp. HCM;
- VKSND tỉnh Đăk Nông;
- Cục THADS tỉnh Đăk Nông;
- Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Nông;
- Các đương sự;
- Lưu THC; THCTP; HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký và đóng dấu)
Phạm Thị Thông
6
Tải về
Bản án số 09/2019/HC-ST Bản án số 09/2019/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất