Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Na Rì (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 08/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lý Văn C ( Trộm cắp xe máy của ô H) |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BẮC KẠN
–––––––––––––––
Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày 04/3/2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Luân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Thanh Nghệ và ông Phạm Ngọc
Chiêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn tham gia
phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh
Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai
vụ án hình sự
thụ lý số: 07/2024/TLST-HS,
ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
08/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện đối
với bị cáo:
Lý Văn C, T gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 4 năm 1995 tại xã V,
huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn C1 và bà Triệu Thị
S; Có vợ là Vi Thị H và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:Ngày
10/5/2021 bị chủ tịch UBND xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi
phạm hành chính số 106 bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp
tài sản. Ngày 18/8/2021 bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định xử phạt
hành chính số 126 bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.
Lý Văn C đã chấp hành xong các quyết định trên.Trong quá trình điều tra vụ án
này thì ngày 28/10/2023 C tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Samsung A21S có trị giá 1.330.000đ của ông Nông Minh T1,
sinh năm 1950, trú tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Do hành vi này của

Lý Văn C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện N đã ra quyết
định xử phạt hành chính số 01 ngày 09/01/2024 bằng hình thức phạt tiền
2.500.000đ nhưng đến nay Lý Văn C chưa nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam từ
ngày 17/11/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị X, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm
trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Ông Triệu Tiến H1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Trú tại: thôn K, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn N, sinh năm 1983
(vắng mặt).
HKTT: Xóm G, K, Đ, Thái Nguyên.
Tạm trú tại: tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/10/2023 ông Triệu Tiến H1, sinh năm 1969,
trú tại thôn K, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave RSX màu sơn đỏ, đen, bạc, BKS 97B1 – 068.29 mang theo máy phát
cỏ từ nhà thuộc thôn K, thị trấn Y, huyện N đi vào lán của gia đình ở tại khu vực
Nặm T thuộc thôn K, thị trấn Y để phát cỏ ở bờ ao. Khi đến cách lán khoảng 100m
thì ông H1 dựng để xe mô tô tại bãi đất trống trên đường và chìa khóa vẫn cắm ở ổ
khóa điện rồi đi bộ đến bờ ao phát cỏ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày sau
khi phát cỏ xong, ông H1 quay ra vị trí để xe thì phát hiện chiếc xe đã bị mất trộm
nên đã trình báo và giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số
97012231, mang tên Triệu Tiến H1 (bản phô tô) cho Công an thị trấn Y, huyện N.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm, Công an thị trấn Y, huyện N đã tiến hành
truy xét và xác định người thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của ông
Triệu Tiến H1 là Lý Văn C, sinh năm 1995, trú tại thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc
Kạn. Sau đó Công an thị trấn Y, huyện N đã chuyển tài liệu, vật chứng đến Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo quy định.
Ngày 30/10/2023 cùng có mặt Lý Văn C Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường đối với vụ việc. Quá trình khám

nghiệm Chòi xác định chính xác vị trí trộm chiếc xe của ông H1 và vị trí C tháo
yếm và một số bộ phận của xe mô tô sau khi trộm cắp được.
Ngày 23/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ban hành
yêu cầu định giá tài sản số 21, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình
sự huyện N định giá chiếc xe mô tô của ông H1 tại thời điểm bị mất trộm. Tại kết
luận định giá tài sản số 28 ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố
tụng hình sự huyện N kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu
sơn đỏ, đen, bạc BKS 97B1-068.29 tại thời điểm bị mất trộm có giá trị 7.500.000đ.
Quá trình điều tra Lý Văn C khai nhận: Ngày 13/10/2023, C đến nhà anh C2
(không rõ họ tên đệm) ở thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn chơi và ở nhà anh
C2 đến ngày 14/10/2023 C tiếp tục đến nhà anh D (không rõ họ tên đệm) ở thôn K,
thị trấn Y, huyện N chơi. Đến sáng ngày 15/10/2023, C một mình đi bộ từ nhà anh
D vào đường Đ thuộc thôn K, thị trấn Y, huyện N. Trên đường đi Chòi đói bụng và
nhìn thấy có bãi ngô phía bên kia đường (bên trái theo hướng đi của C) nên rẽ
xuống đi theo đường mòn đi vào lấy ngô về ăn nhưng chưa đến bãi ngô thì phát
hiện chiếc xe mô tô BKS 97B1- 068.29 của ông H1 tại bãi đất trống bên đường,
chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát không thấy có người qua lại, bị cáo
đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe rồi nổ máy và điều khiển xe đến đoạn đường
vắng và dùng tua vít tháo một số bộ phận của xe mô tô, đồng thời dùng tay bẻ tháo
yếm vứt xuống ta luy âm rồi điều khiển xe mô tô đến quán thu mua sắt vụn của
ông Đào Văn N, sinh năm 1983, tạm trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N bán xe cho
ông N được số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), khi bán xe bị cáo C không nói
cho ông N biết đấy là chiếc xe do C trộm cắp mà có. Số tiền bán xe Chòi đã tiêu
xài cá nhân hết.
Về vật chứng của vụ án và các tài liệu, đồ vật đã tạm giữ:
+ 01 biển kiểm soát phương tiện số 97B1 – 068.29;
+ 09 mảnh nhựa có kích thước, hình dáng và màu sắc khác nhau (là các
mảnh cánh yếm được tháo rời trên xe mô tô);
+ 01 giá kim loại màu trắng (là giá kim loại được lắp ở phía trước xe mô tô);
+ 02 chiếc gương xe mô tô, trong đó: 01 chiếc gương được gắn liền với chân
gương bằng kim loại màu đen, 01 chiếc gương không có chân gương;
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, không có biển kiểm soát, không có
phần vỏ nhựa hai bên, không có đèn chiếu hậu, mặt đồng hồ công tơ bị vỡ, số
khung RLHJC4323BY299844, số máy JC43E6234986; Dung tích xi lanh 109cm
3
.
+ 01 mảnh nhựa vỡ trong suốt;
+ 01 móc treo bằng kim loại.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-NR ngày 24/01/2024, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, truy tố Lý Văn C về: "Tội trộm cắp tài sản" theo
khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung
Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng
mức án thấp nhất.
- Bị hại ông Triệu Tiến H1 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu ý
kiến: Đối với chiếc xe máy hiện nay đang tạm giữ trong vụ án là xe máy của ông
H1 bị Lý Văn C trộm cắp do vậy đề nghị Tòa án trả lại chiếc xe máy và biển kiểm
soát phương tiện số 97B1-068.29, 01 giá kim loại, 01 móc treo bằng kim loại , 02
chiếc gương cho ông H1. Còn một số bộ phận của xe sau khi trộm bị cáo đã tháo
và bị hư hỏng nên ông H1 không yêu cầu lấy lại. Về hình phạt đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự: Ông H1 yêu cầu bị cáo
phải bồi thường cho ông H1 số tiền 5.000.000,đ trong đó 3.500.000,đ là tiền để sửa
chữa chiếc xe do sau khi trộm cắp bị cáo tháo và vứt một số bộ phận làm hư hỏng;
1.500.000,đ để bồi thường việc mất xe dẫn đến việc ông H1 không có phương tiện
để đi lại. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn N có đơn xin xét xử
vắng mặt trong đơn nêu đã mua lại chiếc xe máy của bị cáo với giá 700.000,đ tuy
nhiên lúc mua không biết xe do trộm cắp mà có và nêu ý kiến yêu cầu bị cáo trả số
tiền 700.000,đ cho ông N.
- Ý kiến của người bào chữa của bị cáo: Nhất trí với ý kiến luận tội của đại
diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản được áp dụng. Quá trình điều tra, truy
tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm
tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy đề nghị HĐXX áp dụng
khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt
bị cáo mức hình phạt 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì giữ nguyên quan điểm truy
tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s
khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm tội
“Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt
bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Văn C phải bồi thường thiệt hại cho
ông Triệu Tiến H1 số tiền 5.000.000đ; bồi thường cho ông Đào Văn N số tiền
700.000,đ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ
luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho ông Triệu Tiến H1:
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda; 01 biển kiểm soát phương tiện số
97B1 – 068.29; 01 giá kim loại màu trắng; 02 chiếc gương xe mô tô, trong đó: 01
chiếc gương được gắn liền với chân gương bằng kim loại màu đen, 01 chiếc gương
không có chân gương; 01 móc treo bằng kim loại.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 mảnh nhựa vỡ trong suốt;
+ 09 mảnh nhựa có kích thước, hình dáng và màu sắc khác nhau (là các
mảnh cánh yếm được tháo rời trên xe mô tô).
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ,
ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành
tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của
những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc xét xử vắng mặt người bị hại ông Triệu Tiến H1 tại phiên tòa và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn N, bị cáo không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên nêu quan điểm việc vắng mặt của bị hại ông H1, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông N không ảnh hưởng việc xét xử, vì họ đã nhận được giấy
triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và có đơn xin vắng mặt, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án
là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận

tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời
khai của bị hại, các tài liệu khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ
vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút
ngày 15/10/2023 tại khu vực Nặm T thuộc thôn K, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc
Kạn, Lý Văn C đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE
RSX màu sơn đỏ, đen, bạc BKS 97B1-068.29 của ông Triệu Tiến H1 có trị giá là
7.500.000đ. Mục đích C trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình
hình an ninh, trật tự tại địa phương và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành "Tội
trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm”.
……,
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000
đồng.”
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
cáo:
- Nhân thân: Ngày 10/5/2021 bị chủ tịch UBND xã V, huyện N, tỉnh Bắc
Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC bằng hình thức
phạt tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 18/8/2021 bị Công an
huyện T, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định xử phạt hành chính số 126/QĐXPHC bằng
hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo C đã chấp hành
xong các quyết định trên. Trong quá trình điều tra vụ án này thì ngày 28/10/2023 bị
cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Samsung A21S có trị giá 1.330.000đ của ông Nông Minh T1, sinh năm 1950, trú
tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Do hành vi này của Lý Văn C không đủ
yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt hành
chính số 01/QĐ-XPHC ngày 09/01/2024 bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ
nhưng đến nay bị cáo chưa nộp phạt.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án bị cáo thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó

bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự nào.
[4]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố
như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ
pháp luật. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15
tháng tù. HĐXX xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp
dụng đối với bị cáo là nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và phù hợp
với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Đánh giá về quan điểm của người bào chữa: Quan điểm của người bào
chữa về việc bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế và đề
nghị hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, mức hình phạt người bào chữa đề
nghị xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị
cáo.
[6] Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ,
tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ vào các quy định của pháp luật,
HĐXX xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có
đầy đủ sự hiểu biết, nhận thức về pháp luật, nhận thức được hành vi trộm cắp tài
sản của người khác là vi phạm pháp luật. Mặc dù trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi
phạm hành chính hai lần về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm
bài học cho bản thân mà thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lười lao động, muốn hưởng lợi
trên thành quả của người khác, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác trong
quá trình điều tra vụ án này thì ngày 28/10/2023 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành
vi trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S có trị giá
1.330.000đ của ông Nông Minh T1 đều thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp
luật. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần có một mức án tương xứng với tính chất hành vi
phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo đi cải tạo tập trung một
thời gian có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng
ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định và không
có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo
theo quy định tại khoản 5 Điều 173/BLHS.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Ông Triệu Tiến H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số
tiền 5.000.000đ trong đó: 3.500.000đ để sửa chữa chiếc xe mô tô do bị cáo trộm
cắp sau đó bị cáo tháo vứt một số bộ phận của xe và gây hư hỏng phần vỏ nhựa và
các phụ kiện và 1.500.000đ để bồi thường việc mất xe dẫn đến không có phương
tiện đi lại. Ông Đào Văn N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 700.000đ mà ông N đã trả
cho bị cáo để mua chiếc xe.
Bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại ông H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông N.
Xét thấy sự nhất trí bồi thường thiệt hại của bị cáo là tự nguyện, không trái
pháp luật nên được HĐXX ghi nhận. Buộc bị cáo Lý Văn C phải bồi thường thiệt
hại cho ông Triệu Tiến H1 số tiền 5.000.000đ; bồi thường cho ông Đào Văn N số
tiền 700.000,đ.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với:
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, không có biển kiểm soát, không có
phần vỏ nhựa hai bên, không có đèn chiếu hậu, mặt đồng hồ công tơ bị vỡ, số
khung RLHJC4323BY299844, số máy JC43E6234986; Dung tích xi lanh 109cm
3
.
+ 01 biển kiểm soát phương tiện số 97B1 – 068.29;
+ 01 giá kim loại màu trắng (là giá kim loại được lắp ở phía trước xe mô tô);
+ 02 chiếc gương xe mô tô, trong đó: 01 chiếc gương được gắn liền với chân
gương bằng kim loại màu đen, 01 chiếc gương không có chân gương;
+ 01 móc treo bằng kim loại.
Là những tài sản của ông Triệu Tiến H1, ông H1 yêu cầu lấy lại nên HĐXX
xét thấy cần trả lại cho ông Triệu Tiến H1:
Đối với:
+ 01 mảnh nhựa vỡ trong suốt;
+ 09 mảnh nhựa có kích thước, hình dáng và màu sắc khác nhau (là các
mảnh cánh yếm được tháo rời trên xe mô tô);
Là tài sản của ông Triệu Tiến H1 tuy nhiên ông H1 không yêu cầu lấy lại, do
các tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với ông Đào Văn N là người mua chiếc xe với Lý Văn C (nhưng lúc
mua C đã tháo biển kiểm soát và một số bộ phận của xe nên chỉ mua với giá thu
mua sắt vụn) với số tiền 700.000đ vào ngày 15/10/2023 và ông N không biết chiếc

xe này là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyên N không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định.
[11] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế
xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn tiền án phí nên HĐXX xem xét
miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm "Tội trộm cắp tài sản".
[2] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lý Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo
bị bắt tạm giam ngày 17/11/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584,
585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Lý Văn C phải bồi thường thiệt hại cho
ông Triệu Tiến H1 số tiền 5.000.000,đ (năm triệu đồng); bồi thường cho ông Đào
Văn N số tiền 700.000,đ (bảy trăm nghìn đồng).
Việc thi hành án khoản tiền này được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân
sự và Luật thi hành án dân sự.
[4] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ
luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho ông Triệu Tiến H1:
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, không có biển kiểm
soát, không có phần vỏ nhựa hai bên, không có đèn chiếu hậu, mặt đồng hồ công tơ
bị vỡ, số khung RLHJC4323BY299844, số máy JC43E6234986; Dung tích xi lanh
109cm
3
.
+ 01 biển kiểm soát phương tiện số 97B1 – 068.29;
+ 01 giá kim loại màu trắng (là giá kim loại được lắp ở phía trước xe mô tô);
+ 02 chiếc gương xe mô tô, trong đó: 01 chiếc gương được gắn liền với chân
gương bằng kim loại màu đen, 01 chiếc gương không có chân gương;
+ 01 móc treo bằng kim loại.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 mảnh nhựa vỡ trong suốt;

+ 09 mảnh nhựa có kích thước, hình dáng và màu sắc khác nhau (là các
mảnh cánh yếm được tháo rời trên xe mô tô);
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày
01/02/2024 giữa Công an huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì).
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uû
ban Thường vô Quèc héi.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho bị cáo Lý
Văn C.
[6] Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị
hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND huyện(01b); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND tỉnh (01b);
-TA tỉnh(01b);
- CA huyện(02b);
- Bị cáo (01b);
- Bị hại (02b);
- Người có QLNVLQ (01b);
- Người bào chữa;
- Lưu hs, V. Lý Thị Luân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm