Bản án số 07/2020/DS-ST ngày 24/03/2020 của TAND TX. Sông Cầu, tỉnh Phú Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2020/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2020/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2020/DS-ST ngày 24/03/2020 của TAND TX. Sông Cầu, tỉnh Phú Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Sông Cầu (TAND tỉnh Phú Yên) |
| Số hiệu: | 07/2020/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/03/2020 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SÔNG CẦU
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 07/2020/DSST
Ngày 24/3/2020
V/v “tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Sơn và ông Phan Văn Ký.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Giang – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã
Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Văn Dương – Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
01/2018/TLST–DS ngày 06 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-DS ngày
10 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thành Tr, sinh năm 1952 và Nguyễn Thị B, sinh năm
1957. Địa chỉ: Thôn TK, xã XL, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1950. Địa chỉ: Thôn ML, xã XL, thị xã
Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Thị B, sinh năm 1945. Địa chỉ: Thôn CL, xã XL, thị xã Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
+ Nguyễn Thị X, sinh năm 1952. Địa chỉ: Thôn TN, xã CPĐ, thị xã Cam
Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
+ Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1962. Địa chỉ: T8, kv1, phường TQD, thành
phố Quy Nhơn, Bình Định. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Trong đơn khởi kiện nộp cho tòa án ngày 19/10/2018 và quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn là ông vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B
trình bày:
Vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B có tạo lập được thửa 597,
tờ bản đồ 85, tọa lạc tại Thôn Mỹ Lộc, xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú
Yên; được UBND thị xã Sông Cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BS 887187 ngày 14/02/2015. Phía tây thửa đất nêu trên tiếp giáp với thửa đất
630, tờ bản đồ 85 do bà Nguyễn Thị L đang quản lý, sử dụng. Để xác định ranh
giới và giữ đất, năm 2002, vợ chồng ông Tr, bà B có xây dựng bờ kè đá kiên cố
rộng khoảng 40 – 50cm, chiều dài khoảng 40 – 50m chạy dọc theo ranh giới đất
của bà L.
Khi xây dựng bờ kè đá có chính quyền UBND xã Xuân Lộc và gia đình
của bà L (cha bà L và bà L) chứng kiến. Đầu năm 2018, thì vợ chồng ông Tr, bà
B phát hiện bà L đã xây dựng một chái bếp chồng lấn lên phần đất của vợ chồng
ông Tr, bà B, lấn diện tích 3,955m
2
, mái tôn xối nước làm lỡ đất, bờ kè đá nên
vợ chồng ông Tr, bà B yêu cầu bà L tháo dỡ nhưng bà L không tháo dỡ nên phát
sinh tranh chấp; đưa ra chính quyền UBND xã Xuân Lộc hòa giải nhưng không
thành.
Do đó, vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B khởi kiện, yêu cầu
TAND thị xã Sông Cầu giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ chái
bếp, trả lại đất cho vợ chồng Trọng, bà B sử dụng.
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị L thừa nhận có xây dựng nhà bếp của bà L chồng lấn lên
bờ kè đá của gia đình ông Tr. Tuy nhiên, theo bà L nghĩ thì bờ kè đá của gia
đình ông Tr xây dựng chồng trên đất của gia đình bà L. Khi gia đình ông Tr xây
dựng bờ kè đá thì cha bà L còn sống, chính quyền địa phương có chứng kiến.
Gia đình bà L có biết việc gia đình ông Tr xây dựng bờ kè đá. Tuy nhiên, vì bà L
nghĩ là hàng xóm, ông Tr xây dựng bờ kè đá để khỏi trụt đất nên lúc bấy giờ gia
đình bà L không có ý kiến gì, gia đình ông Tr xây dựng bờ kè đá năm nào thì bà
L không nhớ. Năm 2015, bà L có xây dựng nhà bếp chồng lên bờ kè đá của gia
đình ông Tr, nay ông Tr khởi kiện buộc bà L tháo dỡ nhà bếp thì bà L đề nghị
Tòa án giải quyết, cho tiến hành đo đạt, kiểm tra lại hiện trạng sử dụng đất,
trường hợp diện tích đất đang tranh chấp thuộc đất đã được cấp cho gia đình ông
Tr thì bà L tháo dỡ nhà bếp; trường hợp diện tích đất đang tranh chấp thuộc
phần đất của bà L quản lý thì buộc ông Tr tháo dỡ bờ kè đá.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các bà Nguyễn Thị B, Nguyễn
Thị X, Nguyễn Thị Ng trình bày được tóm tắt như sau:
Nguồn gốc diện tích đất thuộc thửa 630, tờ bản đồ 85 là của cha mẹ
Nguyễn Thành, Đoàn Thị Ráo. Sau khi cha mẹ mất đi thì Nguyễn Thị L quản lý,
3
sử dụng. Các chị em gồm Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị L, Nguyễn
Thị Ng đều thống nhất để cho Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng.
Thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Thị PLiên, yêu cầu Tòa án công
nhận đất cho bà L.
Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng; của người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý đến khi nghị án.
Về nội dung: Phần diện tích đất tranh chấp 3,955m
2
thuộc thửa 630 tở bản
đồ 85 do bà L đang quản lý, sử dụng nên đề nghị HĐXX căn cứ các điều 166,
169 Luật Đất đai năm 2013, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn; chấp nhận ý kiến của bị đơn xác định diện tích 3,955m
2
thuộc thửa 630. Bờ
kè đá của vợ chồng ông Tr, bà B nên buộc bà L phải thối lại giá trị bờ kè đá cho
vợ chồng ông Tr, bà B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy
đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp
quyền sử dụng đất, đã được hòa giải tại UBND xã không thành, nguyên đơn
khởi kiện tại tòa án là thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết quy định tại khoản 9
Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thụ lý giải
quyết là thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và lãnh thổ về nơi có bất động
sản.
Những người liên quan Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Ng
đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 của BLTTDS,
HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Quyền sử dụng đất các bên tranh chấp có diện tích 3,955m
2
, phần đất
này giáp ranh giữa thửa 401 và 402, tờ bản đồ số 10 (bản đồ 299) và hiện nay
lần lượt là thửa 597 và 630, tờ bản đồ 85 đo năm 2012. Thửa 597 đã cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị
B. Thửa 630 đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho ông
Nguyễn Thành, sau khi ông Nguyễn Thành chết (ngày 05/10/2009, bút lục 93)
thì bà Nguyễn Thị L tiếp tục quản lý, sử dụng. Cả hai thửa đất 597 và 630 đo
năm 2012 đều tăng hơn so với diện tích kê khai quản lý năm 1992.
4
[3] Căn cứ lời trình bày của các bên, phù hợp với hiện trạng thể hiện:
Giữa thửa 597 và 630 có tồn tại bờ kè đá, do vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà
Nguyễn Thị B xây dựng năm 2002 để giữ đất và xác định ranh giới giữa hai thửa
đất liền kề.
Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận bờ kè đá là của vợ chồng ông Tr,
bà B xây dựng, thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Tr, bà B. Đây là tình tiết
không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS.
[4] Khi vợ chồng ông Tr, bà B xây dựng bờ kè đá kiên cố thì ông Nguyễn
Thành và gia đình (chủ đất liền kề) chứng kiến, biết mà không phản đối; việc
xây dựng có sự chứng kiến của chính quyền địa phương; thể hiện sự thống nhất
ý chí giữa các chủ đất liền kề. Do đó, bờ kè đá là mốc giới ngăn cách, và chân
bờ kè đá là ranh giới giữa hai thửa đất liền kề 597 và 630. Như vậy, ranh giới đã
được xác định theo thỏa thuận của các chủ đất, có giá trị bắt buộc thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 175 BLDS 2015.
[5] Căn cứ khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người
sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh
giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh
hưởng đến việc sử dụng đất của người khác” thì có căn cứ xác định: Việc bà L
xây dựng chái bếp trên phần bờ kè đá và không gian phía trên bờ kè đá của vợ
chồng ông Tr, bà B làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của vợ chồng ông Tr,
bà B, vi phạm pháp luật.
[6] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ phần chái bếp (tường gạch,
mái tôn) đã xây chồng lấn trên phần bờ kè đá có diện tích 3,955m
2
theo bản vẽ
Mãnh đo đạt chỉnh lý bản đồ địa chính số 220-2019 lập ngày 11/4/2019 của Chi
nhánh VPĐK đất đai thị xã Sông Cầu.
[7] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu chi phí tố tụng. Cụ thể: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạt bản
vẽ hiện trạng: 2.668.000đ; chi phí định giá tài sản là 3.100.000đ. Tổng cộng
5.768.000đ.
Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 5.768.000đ nên bị đơn phải hoàn trả
cho nguyên đơn số tiền 5.768.000đ.
[8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch tương ứng số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho vợ chồng ông Lê Thành Tr, Nguyễn Thị B 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 6698 ngày 30/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông
Cầu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ vào:
+ Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; các
điều 165, 166; các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Các điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
+ Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013;
+ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng Lê Thành Tr,
Nguyễn Thị B:
Xác định diện tích tranh chấp 3,955m
2
thuộc thửa đất số 597, tờ bản đồ
85, tọa lạc tại thôn Mỹ Lộc, xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên; thuộc
quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ công trình xây dựng trên bờ kè đá
của vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B gồm: Tường gạch, mái tôn
(phần xây dựng trên bờ kè đá có diện tích 3,955m
2
theo Mãnh đo đạt chỉnh lý
bản đồ địa chính số 220-2019 lập ngày 11/4/2019 của Chi nhánh VPĐK đất đai
thị xã Sông Cầu).
[2] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị L phải chịu chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ, đo đạt, định giá tài sản và hoàn trả lại cho vợ chồng ông Lê Thành
Tr, bà Nguyễn Thị B số tiền là 5.768.000đ (năm triệu bảy trăm sáu mươi tám
nghìn đồng).
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho vợ chồng ông Lê Thành Tr, bà Nguyễn Thị B 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 6698 ngày 30/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông
Cầu.
[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án sơ thẩm; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Phú Yên;
- VKSND Tx. Sông Cầu;
- Chi cục THADS Tx. Sông Cầu;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lý Thơ Hiền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm