Bản án số 06/2025/HC-ST ngày 15/08/2025 của TAND tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2025/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2025/HC-ST ngày 15/08/2025 của TAND tỉnh Lạng Sơn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 06/2025/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/08/2025
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ông Đường Trọng H cho rằng quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 và GCNQSDĐ số CI 638841 vào sổ cấp GCN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 06/2025/HC-ST
Ngày 15-8-2025
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuệ;
Các Hội thẩm nhân dân: Lục Thanh Hà
Hoàng Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Dương Lan Phương, ThưToà án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Trần Thị Hoàng Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 06/2025/TLST-HC ngày 24
tháng 4 năm 2025 về việc khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HC ngày
21 tháng 7 năm 2025; Thông báo chuyển ngày xét xử số 03/TB-TA ngày 04
tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Ngưi khi kin: Ông Đường Trọng H; địa chỉ: Thôn N, Đ, huyn T,
tỉnh Lng Sơn (nay là Tn N, T, tỉnh Lng Sơn); có mt.
Ngưi đại diện theo ủy quyn của ông Đường Trng H: Anh Đường Tuấn
Đ; địa chỉ: Tn N, T, tỉnh Lng Sơn; có mt.
Ni b kin: Ủy ban nhân n huyện T Chtịch Ủy ban nhân n
huyện T, tỉnh Lạng Sơn (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn);
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Chu Tuấn D Chủ tịch
Ủy ban nhân n T, tỉnh Lạng Sơn (theo n bản cử người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng hành chính ngày 17/7/2025); có mặt.
Ni quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N;
ng địa chỉ: Số nhà 87, phố C, Khu 3, thtrấn T, huyn T, tỉnh Lạng Sơn (nay là
Snhà 87, phố C, Khu 3, xã T, tỉnh Lạngn); vắng mt.
2
Người đại diện hợp pp của ông Mỗ Minh T và bà Thị N: Ông Nguyễn
Văn B; địa chỉ: Số nhà 93 phC, Khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (nay
Snhà 93, phố C, Khu 3, xã T, tỉnh Lạngn); vắng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nời khởi kiện ông Đường Trọng H trình bày:
Ông Đường Trọng H chủ sdụng hợp pháp thửa đất diện ch 356,6m
2
tại xứ đồng B, thôn N, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nguồn gốc thửa đất: Trước năm
1985 thửa đất trên do Hợp tác Đ quản sử dụng. Năm 1985, Hoàng Thị
V (là mẹ ông Đường Trọng H) được Hợp tác Đ giao cho trên sở bà V làm
đơn xin đất làm nhà được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện T, tỉnh
Lạng n chấp thuận. Đến năm 1987, gia đình ông H nhận tặng cho diện tích
đất của một số gia đình mồ mả trên thửa đất phía trước nhà. Sau khi các hộ
gia đình chuyển mộ đi, gia đình ông H đã bỏ công sức tôn tạo, san ủi toàn bộ
diện tích đất trên để được mặt bằng rộng và phẳng như hiện nay.
Ngày 13/10/2020, Chủ tịch UBND huyện T ban hành công văn số
1234/UBND-PTNMT với nội dung cho rằng một phần diện tích thửa đất trên
đất công. Ngày 24/12/2020, UBND huyện T ban hành quyết định số 2746/QĐ-
UBND về việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, trú tại số nhà 87
phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn đối với 298,3m
2
trong tổng thể
356,6m
2
đất gia đình ông H. Ngày 08/01/2021, UBND huyện T tiếp tục hoàn
thiện và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CI 638841
vào sổ cấp GCN: CH-07638 cho ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N.
Tại thời điểm UBND huyện T ban hành quyết định này gia đình ông hoàn
toàn không biết. Ông H chỉ biết đến quyết định số 2746/QĐ-UBND vào ngày
20/9/2023 khi Tòa án nhân n huyện T công khai chứng cứ trong vụ án chia di
sản thừa kế thụ lý số 17/2023/TLST-DS ngày 19/01/2023.
Ông H cho rằng quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020
GCNQSDĐ số CI 638841 vào sổ cấp GCN: CH-07638 do UBND huyện T cấp
cho ông Mỗ Minh T Hà Thị N không cơ sở, xâm phạm tới quyền
lợi ích hợp pháp của gia đình ông H. Ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
1. Hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND
huyện T, tỉnh Lạng Sơn về việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T Hà ThN,
trú tại số nhà 87, phC, Khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng n.
2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 638841 vào sổ cấp
GCN: CH-07638 do UBND huyện T cấp cho ông Mỗ Minh T bà Thị N,
ngày cấp 08/01/2021.
3. Hủy n bản số 1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020 của Ch tịch
UBND huyn T, tỉnh Lng Sơn về việc trả lời đơn ông Đường Trọng H, trú tại thôn
N, Đ, huyện T, tỉnh Lng n.
Nời bị kiện Ủy ban nhân n huyện T Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện T, tỉnh Lạng n (Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lạng Sơn) trình bày:
3
Vviệc tranh chấp đất đai giữa Mỗ Thị T ( mông Mỗ Minh T) với
ông Đường Trọng H đã được quan giải quyết nhiều lần. Gần đây nhất UBND
huyện T đã ban hành Quyết định số 1653/-UBND ny 13/6/2015 về việc giải
quyết tranh chấp giữa Mỗ Thị T với ông Đường Trọng H có nội dung công nhận
Mỗ Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích 298,7m
2
đất trồng cây hàng
m khác công nhận ông Đường Trọng H được quyền quản , sử dụng diện ch
56,1m
2
đất (trong đó 28,2m
2
là đất nông thôn và 27,9m
2
là đất trồng cây hàng năm
khác) tại khu đất B, thôn N, Đ, huyn T. Sau đó, hộ ông Đường Trọng H đã xây
dựng nhà trên diện ch nêu trên, còn phần diện ch giải quyết cho gia đình
Mỗ Thị T cũng xây móng bằng đá rồi xây thành nhà kho, đến năm 2019 UBND
Đ mới xử phạt vi phạm nh chính (do xây dựng tn đất ng nghiệp chưa được
chuyển mục đích sử dụng đất).
Năm 2019, ông Đường Trọng H đơn khiếu nại Quyết định số 1653/QĐ-
UBND ny 13/6/2015 của Chủ tịch UBND huyện T gi Chủ tịch UBND tỉnh
Lạng n. Chủ tịch UBND tỉnh đã ý kiến kết luận tại Thông báo s228/TB-
UBND ngày 11/10/2019 với nội dung: Khu đất tranh chấp đất ng do Nhà
ớc quản lý, Chtịch UBND huyện T thụ giải quyết tranh chấp đất đai
không đúng quy định, u cầu Chủ tịch UBND huyện tthu hồi lại Quyết định s
1653/QĐ-UBND ngày 13/6/2015… Trường hợp các hộ gia đình đơn xin giao
đất tUBND huyện T xem xét giải quyết theo quy định của Luật Đất đai…”
Thực hiện Thông báo số 228/TB-UBND ngày 11/10/2019 của UBND tỉnh
Lạng Sơn, Chtịch UBND huyện T đã ban nh Quyết định số 3051/QĐ-UBND
ngày 15/11/2019 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1653/QĐ-UBND ngày
13/6/2015 vviệc giải quyết tranh chấp đt đai giữa bà Mỗ Thị T với ông Đường
Trọng H.
Sau khi Chủ tịch UBND huyn T quyết định thu hồi Quyết định số
1653/QĐ-UBND ngày 13/6/2015, do Mỗ Thị T đã chết từ m 2016n hông
Mỗ Minh T (con đẻ bà Mỗ Thị T) lập hồ đề nghgiao đất, UBND huyện đã
Ttrình số 104/TTr-UBND ngày 29/10/2020, trình Thường trực Huyện ủy T xin
chtrương giao đất thu tiền sử dụng đt cho hộ ông MMinh T tại B, thuộc
thôn N, Đ đã được Huyện ủy nht t về chtrương giao đất có thu tiền sử
dụng đất cho hộ gia đình, nhân tại Thông o số 78-TB/HU ngày 12/11/2020
với nội dung: Nhất trí về chủ trương tại Tờ tnh số 104/TTr-UBND ny
29/10/2020Giao UBND huyện chỉ đạo phòng Tài ngun i tờng, Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện hướng dẫn hộ gia đình hoàn thin các thủ
tục giao đất trước ngày 15/11/2020.
Ngày 02/12/2020 hộ gia đình ông Mỗ Minh T Thị N đơn xin
giao đất đối với thửa đất số 686, diện tích 298,3m
2
, tờ bản đồ địa chính số 51
Đ, mục đích đất ở tại nông thôn, nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa UBND huyện
T. Sau khi kiểm tra, thẩm định nhu cầu sdụng đất, điều kiện giao đất theo quy
định, phòng Tài nguyên Môi trường huyện T đã Tờ trình số 521/TTr-
PTNMT ngày 19/12/2020 đề nghị giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T Thị
N, địa chỉ số nhà 78, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T đối với thửa đất số 686,
4
diện tích 298,3m
2
, tờ bản đồ địa chính số 51 Đ, mục đích sử dụng đất tại
nông thôn, hình thức giao đất “Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất”.
Ngày 24/12/2020, UBND huyện T ban hành Quyết định số 2746/QĐ-
UBND ngày 24/12/2020 về việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N.
n cứ giao đất theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013, về trình
tự thủ tục được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông 30/2014/TT-BTNMT
ngày 02/6/2014 của Bi nguyên i tờng.
Ngày 04/01/2021, hộ ông Mỗ Minh T đã có đơn đăng ký, cấp GCNQSDĐ
đối với thửa đất nêu trên, được các quan chuyên môn thẩm định đầy đủ theo
quy định. Sau khi quyết định được giao đất hộ ông Mỗ Minh T đã thực hiện
xong đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai in bìa chuyển phòng Tài nguyên Môi trường thẩm định trình UBND
huyện Giấy CNQSDĐ. Ngày 08/01/2021 UBND huyện GCNQSDĐ số
seri CI 638841, số vào sổ cấp GCN: CH-07638, cấp ngày 08/01/2021 cho hộ
ông Mỗ Minh T Thị N đối với thửa đất số 686, diện tích 298,3m
2
, tờ
bản đồ địa chính số 51 Đ, mục đích sử dụng đất tại nông thôn. Căn cứ
cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật đất đai 2013.
Còn đối với phần diện tích 56,1m
2
gia đình ông Đường Trọng H đang sử
dụng, hiện nay ông đã xây nhà, ông H không đến quan nhà nước lập các thủ
tục đăng đất đai, xin giao đất để được cấp GCNQSDĐ theo quy định. Do
vậy, phần diện tích 56,1m
2
này chưa được cấp GCNQSDĐ.
Trong qtrình thực hiện các thủ tục giao đất, cấp GCNQSDĐ cho hộ
ông Mỗ Minh T Thị N nêu trên, UBND Đ, UBND thị trấn T,
UBND huyện T không nhận được đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất hoặc
khiếu nại liên quan đến thửa đất số 686, diện tích 298,3m
2
, tờ bản đồ địa chính
số 51 xã Đ, huyện T đã cấp nêu trên.
Từ những căn cứ nêu trên UBND huyện T khẳng định việc thực hiện các
thủ tục giao đất tại Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 Cấp
GCNQSDĐ số seri CI 638841, số vào sổ cấp GCN: CH-07638, cấp ngày
08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với thửa đất số 686, diện
tích 298,3m
2
, tờ bản đồ địa chính số 51 Đ, huyện T đúng quy định pháp
luật. Do vậy UBND huyện không chấp nhận yêu cầu nêu trên của người khởi
kiện.
Đối với yêu cầu hủy Văn bản s1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020 của
Chtịch UBND huyện T, tỉnh Lạng n về việc trli đơn ông Đường Trọng H,
trú tại thôn N, Đ, huyện T, tỉnh Lạng n:
Sau khi nhận được n bản số 1234/UBND-PTNMT, ông Đường Trọng H
đã có đơn đề ngày 06/11/2020 gửi Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Chủ tịch
UBND huyện T đều nội dung: Khiếu nại Văn bản số 1234/UBND-PTNMT
ngày 13/10/2020 của Ch tịch UBND huyện T về việc trlời đơn ông Đường
Trọng H. Sau khi giao cơ quan chuyên môn xem t, kiểm tra, ngày 31/12/2020,
Ch tịch UBND huyện đã ban hành Tng báo số 179/TB-UBND ngày
5
31/12/2020 có nội dung: “Đơn khiếu nại không đủ điều kin để thụ giải quyết vì
do sau đây: Khu đất ông yêu cầu giải quyết tranh chấp tuy có nguồn gốc của gia
đình MThị T nhưng đã p o Hợp c m 1960, qua xem t h vụ
việc kng có tài liệuo thể hiện Nhà nước đã giao diện tích đất này cho tổ chức,
nn o, do đó khu đất tranh chấp là đất công do Nhà nước quản lý. Tại Bản
án số 05/2005/HC-PT ngày 05/12/2005 của a án nn n tỉnh Lạng Sơn đã
khẳng định khu đất thuộc quyền quản của Nhà nước n Nnước có quyền
giao cho hộ gia đình, nhân đđiều kiện theo quy định pp luật vđất đai.
Vì vậy việc ông khiếu nại Chủ tịch UBND huyện T không giải quyết tranh chấp đất
đại cũng như Văn bản số 1234/UBND-PTNMT ny 13/10/2020 của UBND huyện
kng sđể xem t giải quyết.
N vậy vic giải quyết đơnng n khiếu nại của ông Đường Trọng H đã
được UBND huyện trả lời, giải quyết đầy đủ theo quy định. Do vậy quan điểm của
UBND huyện khẳng định việc ban hành n bản s1234/UBND-PTNMT ny
13/10/2020 của Chtịch UBND huyện T về việc trả li đơn ông Đường Trọng H
đúng quy định pp luật nên UBND huyện kng chấp nhận hủy ng văn u
trên.
Nời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N
trình bày:
Mỗ ThT (là mẹ của ông Mỗ Minh T) Hoàng Thị V (là mẹ của
ông Đường Trọng H) xảy ra tranh chấp đất tại khu đất B, thôn N, xã Đ, huyện T,
tỉnh Lạng Sơn. Diện tích là 358,8m
2
trong đó 28,2m
2
đất ở nông thôn và
326,6m
2
đất trồng cây hàng năm khác (Theo kết quả đo đạc khu đất tranh chấp
năm 2004) từ những năm tan hợp tác xã.
Qua nội dung xác minh của UBND huyện T hồ giải quyết tranh
chấp đất đai số 1631/QĐ–UB ngày 20/10/2008, Quyết định s2038/QĐ-UBND
ngày 26/8/2010, Quyết định số 1653/QĐ–UBND ngày 13/6/2015 của UBND
huyện T, từ trước năm 1960 khu đất B của ông Mỗ Văn C (Bố đẻ Mỗ Thị
T) mua của ông Nông Ích Đ theo giấy tmua bán năm 1957 chứng thực của
Ủy ban hành chính thị trấn T. Năm 1960 theo chủ trương của Nhà nước vận
động nông dân tham gia đóng góp ruộng đất vào Hợp tác xã, ông Mỗ Văn C
đã đóng góp diện tích đất xứ B, N vào Hợp tác Đ, việc đóng góp được thể
hiện tại sổ giải thửa ruộng đất Đ lập năm 1960 theo Bản đồ s01 bản đồ
giải thửa thị trấn T đo vẽ năm 1986, diện tích đất nêu trên thuộc thửa số 36
100m
2
, thửa 37 124m
2
, thửa 38 146m
2
, quá trình quản sử dụng qua
các thời kỳ nên hình dạng bờ thửa không còn như bản đồ giải thửa ban đầu khi
đưa vào Hợp tác xã.
Từ năm 1960 đến năm tan Hợp tác xã (năm 1987) do đội sản xuất thôn
N Đ quản lý canh tác. Năm 1985 bà Hoàng Thị V đơn xin đất làm nhà ở
và được đội sản xuất, Hợp tác xã xác nhận và bố trí cho bà Hoàng ThV khoảng
50m
2
tại khu đất B để làm nhà nhưng không được làm nhà xuống ruộng mạ.
Năm 1987 gia đình V san ủi khu đất đã làm n tạm trên diện tích
khoảng 50m
2
. Đây cũng là thời điểm Hợp tác xã tan, không quản lý được đất đai
6
các hộ nông dân đã góp vào Hợp tác xã. Gia đình Hoàng Thị V cũng đã
đòi lại khu đất sân Hợp tác N, sau đó gia đình V bán lại cho ông Đào
Ngọc T trú cùng thôn N. Năm 2021 ông H lại tiếp tục bán đất cho chị C, trú tại
thôn N, xã Đ (chị C gần nhà ông H). Gia đình bà Mỗ Thị T cũng đến gia đình bà
Hoàng Thị V đòi lại khu đất B, nhưng gia đình bà Hoàng Thị V không trả lại mà
còn san ủi toàn bộ khu đất trồng rau. Lúc đó gia đình bà T chỉ một mình,
các con còn nhỏ, bố mẹ già yếu nên không thể tranh chấp bằng con đường bạo
lực như một số gia đình khác trên địa bàn huyện T đã làm để lấy lại đất. Vì thế
T chỉ còn cách tuân theo quy định của pháp luật, đề nghị các quan Nhà
nước giải quyết.
Trên sở tranh chấp đất đai nguồn gốc của gia đình Mỗ Thị T
đóng góp vào Hợp tác làm ăn tập thể, năm 1999 khi dự án làm đường T đi
Quốc Khánh, diện tích đất khu B bị ảnh hưởng, Nhà nước thu hồi một phần diện
tích để làm đường nên đã bồi thường cho bà Mỗ Thị T 10.500.000 đồng. Sau đó
ông Đường Trọng H gặp Mỗ Thị T đề nghị trả cho ông H công tôn tạo
5.000.000 đồng, ông H viết thành biên bản thừa nhận đất trên của gia đình
T nhưng đòi tiền công tôn tạo. Nhưng việc này chưa được thực hiện thì ông H
thay đổi lập trường của mình. Gia đình Hoàng Thị V đã làm đơn khiếu nại
đến UBND Tỉnh Lạng Sơn. Ngày 09/3/2004, Thanh tra tỉnh Lạng Sơn ra Thông
báo số 59/TB-TTr về việc thụ xem xét kết luận đơn của V. Thực hiện
thông báo số 59TB/TTr ngày 09/3/2004 của Thanh tra tỉnh Lạng Sơn, ngày
30/03/2004 UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 358/QĐ–UB về việc giải
quyết tranh chấp đất đai.
Quyết định 358/QĐ–UB của UBND huyện T đã giải quyết cho Hoàng
Thị V 65m
2
đất, giao cho UBND Đ 200m
2
số diện tích còn lại. Mỗ Thị T
đã khởi kiện tại Tòa án đối với Quyết định nói trên. Tại Bản án hành chính
thẩm số 01/HC-ST ngày 20/12/2004 tuyên hủy toàn bQuyết định 358/QĐ-UB
ngày 30/3/2004 của UBND huyện T. Tại Bản án phúc 58 thẩm số 05/2005/HC-
PT ngày 05/6/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng n đã x hủy điểm b, c Điều 1
Quyết định 358/QĐ–UB ngày 30/3/2004.
Ngày 13/6/2015, UBND huyện T tiếp tục ban hành Quyết định số
1653/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp giữa bà Mỗ Thị T với ông Đường
Trọng H, quyết định: "Công nhận Mỗ Thị T được quyền quản lý, sử dụng
diện tích 298,7 m
2
đất trồng cây hàng năm khác tại khu B, thôn N, Đ,
huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Công nhận ông Đường Trọng H được quyền quản lý, sử
dụng diện tích 56,1 m
2
đất, trong đó: 28,2 m
2
đất nông thôn 29,7 m
2
đất
trồng cây hàng năm khác, tại khu B, thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.”
Việc sử dụng diện tích 298,7m
2
đất khu B của ông Đường Trọng H do
gia đình ông H đã dựa trên Quyết định giả mạo số 205/UB-QĐ ngày 25/12/1998
của UBND huyện T nên san ủi và chiếm giữ đất của gia đình bà T. Trong trường
hợp này không căn cứ bất hợp pháp, không thuộc trường hợp “Đất đã
giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của
Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời miền nam
7
Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại khoản 2 Điều
2 Luật đất đai. vậy Quyết định 1653/QĐ–UBND ngày 13/6/2015 của UBND
huyện T công nhận Mỗ Thị T được quyền quản sử dụng diện tích đất nêu
trên là đúng quy định của Luật đất đai năm 2013.
Trong thời hạn pháp luật cho phép khiếu nại ông Đường Trọng H không
khiếu nại. Các nhân liên quan tại Điều 2 Điều 3 của Quyết định
1653/QĐ-UBND ngày 13/6/2015 đã tiến hành xuống thực địa cắm mốc phân
định ranh giới và diện tích sử dụng cho gia đình ông Mỗ Minh T và gia đình ông
Đường Trọng H. Cả hai bên gia đình cũng đã đang xây dựng công trình ổn
định trên đất.
Tuy nhiên ngày 15/11/2019 Chủ tịch UBND huyện T lại ban hành Quyết
định số 3051/QĐ-UBND thu hồi hủy bỏ Quyết định số 1653/QĐ-UBND ngày
13/6/2015 vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 203, khoản 1 Điều 204 Luật đất
đai. Sau khi nhận được quyết định Quyết định số 3051/QĐ-UBND, gia đình ông
Mỗ Minh T đã đến UBND huyện T làm việc, khiếu nại thì Phòng Tài nguyên và
Môi trường ban hành Công văn 235/UBND-TPNMT ngày 11/3/2021, hướng
dẫn gia đình ông Mỗ Minh T nếu nhu cầu sử dụng đất thì m đơn xin cấp
đất. Sau đó gia đình ông T xét thấy việc tranh chấp đã quá lâu nên chấp nhận
làm đơn xin giao đất thu tiền sử dụng đất làm các thủ tục theo quy định
của pháp luật. Ngày 24/12/2021 UBND huyện T ban hành Quyết định số
2746/QĐ-UBND về việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T và Bà Hà Thị N. Ngày
8/1/2022, gia đình ông Mỗ Minh T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận
quyền sử đất số CI638841.
Như vậy, việc ông Đường Trọng H Khởi kiện UBND huyện T và yêu cầu
tòa án hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND huyện
T; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI638841 là không có căn cứ thực
tế pháp lý, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu của ông
Đường Trọng H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối thoại. Tại phiên họp, người khởi kiện
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người bị kiện vắng mặt lần hai tại phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối thoại. Các đương sự
mặt đều đề nghị Tòa án không tiến hành mở phiên đối thoại nữa đưa vụ
án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn
sẽ đưa vụ án ra xét xử công khai để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phn tòa: Người khởi kin yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND huyn
T, tỉnh Lạng Sơn về việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà ThN, trú tại
số nhà 87, phố C, Khu 3, thtrấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 638841 vào sổ cấp GCN:
CH-07638 do UBND huyện T cấp cho ông Mỗ Minh T Thị N, ngày cấp
08/01/2021.
8
- Hủy Văn bản số 1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020 của Chủ tịch
UBND huyn T, tỉnh Lng Sơn về việc trả lời đơn ông Đường Trọng H, trú tại thôn
N, Đ, huyện T, tỉnh Lng n.
Người đi din hp pháp của ngưi b kin vn gi ngun quan đim
không chp nhn yêu cu ca ngưi khi kiện đưa ra, đ ngh hội đng xét x
gii quyết theo quy đnh ca pháp lut.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Lạng Sơn phát biu ý kiến v vic
gii quyết v án:
Về vic tuân theo pháp luật ttụng: Thẩm phán được phân công thụ
giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Luật tố tụng hành chính
và các văn bản quy phạm có liên quan về thụ lý vụ án, xác minh thu thập tài liệu
chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ đối thoại; chấp hành
việc giao gửi thông báo thụ các n bản tố tụng của vụ án cho các đương
sự Viện kiểm sát; chấp hành quy định của Luật Tố tụng hành chính về thời
hạn thụ lý giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng,
đầy đquy định của Luật Tố tụng hành chính các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan về việc xét xử thẩm vụ án. Người khởi kiện, người bị kiện,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã lời khai gửi Tòa án, giao nộp tài
liệu chứng cứ, thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Luật Tố
tụng hành chính.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đường Trọng H là không sđể
chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các áp dng Điều 30, Điều 32,
Điu 116, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện ca ông Đường Trọng H.
Về án phí: Ông Đường Trọng H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do
yêu cầu khởi kiện không được a án chấp nhận. Tuy nhiên ông H người cao
tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí hành cnh thẩm theo quy định tại điểm
đ, khoản 1, Điều 12 Nghquyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban tờng vQuốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản và sử
dụng án phí lệ phí a án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Quyết định số 2746/QĐ-
UBND ngày 24/12/2020 của UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn (gọi tắt Quyết
định số 2746); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 638841 vào sổ cấp
GCN CH-07638 do UBND huyện T cấp cho ông Mỗ Minh T ThN;
Văn bản s1234/UBND-PTNMT ny 13/10/2020 của Chủ tịch UBND huyện T,
tỉnh Lạng Sơn về việc trả lời đơn ông Đường Trọng H, trú tại thôn N, Đ, huyện
T, tỉnh Lạng n (gọi tắt là n bản số 1234) các quyết định hành chính thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật Tố
tụng hành chính. Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn thụ lý, giải quyết vụ án hành
chính đúng thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành
chính năm 2015. Tại phiên tòa, xét đơn vắng mặt của người quyền lợi nghĩa
9
vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do vậy hội đồng xét xử
tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158
Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Về thời hiệu khởi kiện hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày
24/12/2020 của UBND huyện T, tỉnh Lạng n về việc giao đất cho hộ ông Mỗ
Minh T bà Hà Thị N, trú tại số nhà 87, phC, Khu 3, thtrấn T, huyện T, tỉnh
Lạng n hủy GCNQSDĐ số CI 638841 vào sổ cấp GCN: CH-07638 do
UBND huyện T cấp cho ông Mỗ Minh T Hà Thị N, ny cấp 08/01/2021.
Hội đồng xét x thấy rằng: Căn cứ nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số
02/2022/DS-ST ngày 7/7/2022 của TAND huyện T, Bản án dân sự phúc thẩm số
56/2022/DS-PT ngày 13/12/2022 của TAND tỉnh Lạng Sơn, Bản án dân sự
thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 01/12/2023 của TAND huyện T, Bản án dân sự
phúc thẩm số 23/2024/DS-PT ngày 12/4/2024 của TAND tỉnh Lạng Sơn, xét
thấy các quyết định hành chính khiếu kiện liên quan đến yêu cầu khởi kiện
của vụ án dân sgiữa nguyên đơn ông Đường Thanh H và bị đơn ông Đường
Trọng H mà Tòa án đã thụ lý. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, ngay sau
khi biết các văn bản, quyết định hành chính thì ông Đường Trọng H ông
Đường Thanh H đã yêu cầu bổ sung về việc hủy các văn bản, quyết định
hành chính nói trên và thực tế qua 02 lần Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục
thẩm đều xem xét, quyết định nhưng không dứt điểm. Do vậy thời gian Tòa
án xem xét, giải quyết đối với vụ án dân sự nêu trên không được tính vào thời
hiệu khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật tố tụng
hành chính. Ngày 04/01/2024, ông Đường Trọng H đã nộp đơn khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ điểm a khoản 2 điều 116
Luật tố tụng hành chính, việc nộp đơn khởi kiện của ông Đường Trọng H còn
trong thời hiệu khởi kiện. Căn cứ Quyết định số 26/2025/QĐ-PT ngày 06/3/2025
của TAND cấp cao tại Nội, nay TAND tỉnh Lạng Sơn thụ tiếp tục giải
quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
[3] Về thể thức của quyết định nh chính bị khiếu kiện: Quyết định số
2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 đúng mẫu số 02 Phụ lục ban hành kèm theo
Thông số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 quy định về hồ giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất. GCNQSDĐ số CI
638841 vào sổ cấp GCN: CH-07638, ngày cấp 08/01/2021 đúng thể thức quy
định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
[4] Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 2746: Căn cứ đơn xin giao đất
ngày 02/12/2020 của hộ gia đình ông Mỗ Minh T, căn cứ kế hoạch sử dụng đất
năm 2020 của UBND huyện T được phê duyệt tại Quyết định số 2734/KH-UBND
ngày 30/12/2019 của UBND tỉnh Lạng Sơn và các quy định của Luật Đất đai cùng
các văn bản pháp luật liên quan, Chtịch UBND huyện T ban hành Quyết
định giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T Thị N đúng thẩm quyền quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013. Đối với thẩm quyền ban
nh GCNQSDĐ số CI 638841 vào sổ cấp GCN CH-07638 của UBND huyn T,
tỉnh Lạng Sơn: n cứ Quyết định giao đất số 2746 và hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ
10
của ông Mỗ Minh T đã đảm bảo đúng quy định nên UBND huyện cấp
GCNQSDĐ số Seri CI 638841, số vào sổ cấp GCN CH-07638 ngày 08/01/2021
cho hộ ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N đối với thửa đất số 686 tờ bản đồ địa chính
số 51 Đ, huyện T, diện tích 298,3m
2
mục đích sử dụng đất tại nông thôn
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013.
[5] Về nội dung quyết định nh cnh bị khiếu kiện: Nguồn gốc thửa đất có
tranh chấp của gia đình Mỗ Thị T (mẹ ông Mỗ Minh T) đã đóng góp vào
Hợp tác xã Đ làm ăn tập thể từ năm 1960. Năm 1990, Hợp tác xã tan, tranh chấp
đất giữa gia đình bà Mỗ Thị T Hoàng Thị V (mẹ ông Đường Trọng H) đã
được các quan nhà nước giải quyết nhiều ln. Sau khi T và V chết, ông
Mỗ Minh T và ông Đường Trọng H tiếp tục tranh chấp. Tại Bản án phúc thẩm số
05/2005/HC-PT ngày 05/6/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã nhận định
khu đất thuộc quyền quản của Nớc nên Nhà nước có quyền giao cho h gia
đình, cá nhân đủ điều kiện theo quy định pháp luật về đất đai. Ngày 13/6/2015,
UBND huyện T ban hành Quyết định số 1653/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định
1653) về việc giải quyết tranh chấp giữa Mỗ Thị T với ông Đường Trọng H
nội dung: Công nhận Mỗ Thị T được quyền quản sử dụng diện tích
298,7m
2
đất trồng cây hàng năm khác công nhận ông Đường Trọng H
được quyền quản lý sử dụng diện tích 56,1m
2
đất (trong đó có 28,2m
2
đất ở nông
thôn và 27,9m
2
đất trồng cây hàng năm khác) tại khu đất B, thôn N, xã Đ, huyện
T”. Sau khi Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định 1653, hộ ông H hộ
gia đình T đều y dựng công trình trên diện tích đất được giao. Đến năm
2019 ông H đơn khiếu nại Quyết định số 1653 gửi Chủ tịch UBND tỉnh, sau
khi xem xét, Chủ tịch UBND tỉnh đã ý kiến kết luận tại Thông báo số
228/TB-UBND ngày 10/11/2019 với nội dung: Khu đất tranh chấp là đất công
do Nhà nước quản lý, Chủ tịch UBND huyện T thụ giải quyết tranh chấp đất
là không đúng quy định, yêu cầu Chủ tịch UBND huyện tự thu hồi lại Quyết định
số 1653…Trường hợp các hộ gia đình đơn xin giao đất thì UBND huyện T
xem xét giải quyết theo quy định của Luật Đất đai…”.
[6] Nvậy, diện tích thửa đất 686 tuy nguồn gốc của gia đình Mỗ
Thị T nhưng đã góp vào Hợp tác xãm 1960, không có tài liệu nào thể hiện tớc
đó Nớc đã giao diện ch đất y cho tổ chức, nhân nào, do đó khu đất
tranh chấp đất ng do Nhà nước quản . Ý kiến của ông H cho rằng đất có
nguồn gốc của Nhà nước nhưng đã giao cho gia đình ông bằng Quyết định số
205/UB- ngày 15/12/1985. Tuy nhiên tại bản Kết luận giám định số
109/PC21 ngày 12/8/2003 của Phòng Kỹ thuật hình sCông an tỉnh Lạng Sơn
kết luận “Quyết định số 205 UB/QĐ ngày 25/12/1985 cấp đất xây dựng nhà
cho Hoàng Thị V quyết định giả”. vậy, lời trình bày của người khởi
kiện cho rằng đất đã được cấp cho Hoàng Thị V đến nay lại cấp cho hộ gia
đình ông T, N bằng Quyết định số 2746 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của gia đình ông không căn cứ. Tại phiên tòa thẩm, ông H
thừa nhận từ năm 2016 gia đình ông xây ncố định trên đất, hộ gia đình ông T
xây móng nhà và nhà kho trên phần diện tích đất các bên tự phân định cho nhau,
quá trình sinh sống không có tranh chấp giữa hai gia đình.
11
[7] vậy, việc UBND huyện T căn cứ nguồn gốc đất là đất công do Nhà
nước quản lý, căn cứ đơn xin giao đất thu tiền sử dụng đất đơn xin cấp
GCNQSDĐ của hộ ông Mỗ Minh T, căn cứ các quy định về giao đất thu tiền
sử dụng đất hiện hành để tiến hành các thủ tục thẩm định hồ sơ, đo đạc thửa đất;
hộ ông Mỗ Minh T cũng đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính về đất đai
đã thực hiện đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 55, điểm b khoản 1 Điều 99
Luật Đất đai m 2013, việc giao đất có thu tiền sử dụng đất thực hiện đúng trình
tự quy định tại Điều 4 Thông 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ
Tài nguyên Môi trường, phù hợp với thực tế hộ gia đình đang quản sử dụng,
nhu cầu sử dụng đất. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Đường Trng H vviệc hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020
GCNQSDĐ số seri CI 638841, số vào sổ cấp GCN: CH-07638, cấp ngày
08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với thửa đất số 686, diện
tích 298,3m
2
, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T.
[8] Đối với u cầu hủy Văn bản số 1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020
của Chủ tịch UBND huyn T, tỉnh Lạng Sơn về việc trả lời đơn ông Đường Trọng
H, t tại thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn: Xét thấy đây là văn bn tr li
đơn đề ngh ca UBND huyn T đối với đơn ngày 04/9/2020 ni dung ông
Đưng Trng H không đồng ý việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đt đai huyện
T tiến hành đo đc các thửa đt 36, 37, 38 t bản đồ gii thửa năm 1986 đ làm
th tc cấp GCNQSDĐ cho h ông M Minh T đề ngh UBND huyn T gii
quyết tranh chp diện ch đất nêu trên. Đơn của ông H không phải đơn khiếu
ni. Thời điểm ông H đơn, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T
đang tiến hành đo đạc đất theo chức năng nhim v. Vì vy UBND huyn T ban
hành văn bản s 1234 tr li ông H đúng thẩm quyn. Xét nội dung văn bản
s 1234, căn cứ Quyết định s3051/-UBND ngày 15/11/2019 về việc thu hồi,
hủy bỏ Quyết định số 1653/-UBND ngày 13/6/2015 vviệc giải quyết tranh
chấp đất đai giữa Mỗ ThT với ông Đường Trọng H; t thấy khu đất tranh
chấp là đấtng do Nhà nước quản lý, không th là đối tượng tranh chp gia các
cá nhân, h gia đình với nhau hoc tranh chp gia cá nhân, h gia đình với Nhà
c. Nội dung đưc nêu tại n bản s 1234 khẳng định việc Văn phòng đăng
đất đai đo đạc đất là đúng chức năng nhiệm v nêu li ni dung din tích
đất ông H yêu cu gii quyết tranh chấp đất công do Nhà nước qun lý,
UBND huyện không có cơ sở xem xét gii quyết tranh chp đất là có căn cứ.
[9] Trên sở đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị
khiếu kiện thấy rằng, UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện đúng trình tự,
thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định; nội dung các quyết định đều căn
cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông
Đường Trọng H không có cơ sở chấp nhận.
[10] Ý kiến phát biu ca đại din Vin kim sát nhân dân tnh Lng
n p hp vi nhn đnh ca Hi đng t x nên đưc chp nhn.
[11] V án phí: u cầu khởi kiện của ông Đường Trọng H kng được
a án chấp nhận, tuy nhn ông H không phải chịu án p hành cnh sơ thm
do thuc tờng hợp được miễn np tiền án p theo quy định ti đim đ
12
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ny 30/12/2016 của y
ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gim, thu nộp, quản lý
s dng án p và lphí a án.
[12] Các đương sự có quyn kháng o Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, 32, 116, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành
chính 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 55, điểm b khoản 1 Điều 99, điểm a khoản 2 Điều 59,
khoản 2 Điều 105 Lut Đất đai 2013;
n c điểm đ khoản 1 Điu 12, Khoản 1 Điu 32 Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quc hội
quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, np, qun lý và s dng án phí l
phí Tòa án, xử:
1. Về u cầu khi kin: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đường Trọng
H đối với c yêu cầu sau:
- Hủy Quyết định số 2746/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của UBND huyn
T, tỉnh Lạng Sơn về việc giao đất cho hông Mỗ Minh T Hà ThN, trú tại
số nhà 87, phố C, Khu 3, thtrấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 638841 vào sổ cấp GCN:
CH-07638 do UBND huyện T cấp cho ông Mỗ Minh T Thị N, ngày cấp
08/01/2021.
- Hủy n bản số 1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020 của Ch tịch
UBND huyn T, tỉnh Lng Sơn về việc trả lời đơn ông Đường Trọng H, trú tại thôn
N, Đ, huyện T, tỉnh Lng n.
2. Về án p sơ thẩm: Ông Đường Trọng H được miễn án phí hành
chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng
cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng
mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Thi hành án tỉnh Lạng Sơn;
- Đương sự;
- Phòng GĐKTTT&THA;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP, THC.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Văn Tu
13
Tải về
Bản án số 06/2025/HC-ST Bản án số 06/2025/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 06/2025/HC-ST Bản án số 06/2025/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất