Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 25/02/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 05/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp giữ bà T và bà H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Các Thẩm phán: 1. Bà Giang Thị ng.
2. Ông Vũ Đức Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhật Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 2 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu
mở phiên toà dân sự phúc thẩm vụ án dân sthụ lý số: 05/2025/TLPT-DS, ngày
31 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng hợp tác”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST, ngày 26/9/2025 của Toà án
nhân dân Khu vực 1 - Lai Châu bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa ván ra xét
xử phúc thẩm số: 06/2025/QĐ-PT, ngày 30/12/2025, theo quyết định hoãn phiên
toà số: 08/2026/QĐ-PT ngày 27/01/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Diệp T, sinh năm 19XX. Địa chỉ: Bản M, thị
trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nay là Bản M, xã B, tỉnh Lai Châu ( có mặt).
2. Bị đơn: Tăng Thị H, sinh năm 19XX. Địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Lai
Châu. Nay là xã T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Hợp tác C - T. Địa chỉ: H, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay T,
tỉnh Lai Châu). Đại diện: Bà Tăng Thị H - Chức vụ Giám đốc (có mặt).
3.2. Ông Văn T, sinh năm 19XX. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản M, thtrấn T
huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là Bản M, xã B, tỉnh Lai Châu) (vắng mặt có lý do).
4. Những người làm chứng:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 05/2026/DS- PT
Ngày: 25/02/2026
V/v “Tranh chấp về hợp đồng
hợp tác”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - H phúc
2
4.1. Ông Tạ Bạch M, sinh năm 19XX. Địa chỉ: Bản S, thtrn T, huyện T,
tỉnh Lai Châu (nay là Bản S, xã B, tỉnh Lai Châu) (vắng mặt không có lý do).
4.2. Ông Nghiêm Xuân T1, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Bản N, thtrn T, huyện
T, tỉnh Lai Châu (nay là Bản N, xã B, tỉnh Lai Châu) (vắng mặt không có lý do).
4.3. Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 19xx. Địa ch: Bản M, xã C, huyện M,
tỉnh Sơn La (Nay là Bản M, xã M, tỉnh Sơn La ) (vắng mặt không có lý do).
4.4. Ông Lò Văn S, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Bản Cx, C, huyện M, tỉnh
Sơn La (nay là Bản C xã P, tỉnh Sơn La) (vắng mặt không có lý do).
Người kháng cáo: Bị đơn bà Tăng Thị H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Nguyễn Diệp T trình bày:
Nguyễn Dip T Tăng Thị H thỏa thuận dùng cách pháp nhân
của Hợp tác (viết tắt HTX) C-T (việc hợp tác giữa T H việc cá nhân
của bà T và bà H không liên quan đến các thành viên của hợp tác xã C-T) để hp
thức hóa thủ tục thực hiện dự án chanh leo theo Nghị quyết của HĐND tỉnh Lai
Châu, thỏa thuận mỗi người góp 50% vốn gốc bằng tiền để đầu dán chanh
leo triển khai trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu sau khi trtiền gốc,
lãi quỹ tín dụng nhân dân Tam Hồng, lợi nhuận mỗi người sẽ ởng một nửa
(50%) trên tổng lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh dự án chanh leo. Việc hợp
tác giữa bà T và bà H không lập thành văn bản nhưng có các bản ghi âm thể hin
việc thỏa thuận hợp tác.
Tháng 3 năm 2023, T bà H dùng tư cách pháp nhân của HTX C-T đại
diện T H để kết hợp đồng mua bán giống Chanh leo số:
2111/2022/HĐKT/CLNF-BL với Hợp tác Nông nghiệp Bảo S (viết tắt HTX
B); theo hợp đồng thì HXT Nông nghiệp B bán cây giống Chanh leo Đài nông 1
số ợng 35.000 cây, đơn giá 32.000 đồng, thành tiền 1.120.000.000 đồng; việc
giao cây giống chanh leo chia làm 02 đợt (Trong 02 đợt giao này mỗi tháng thể
chia làm 1 hoặc 2 lần giao):
Đợt 1: Tháng 4 năm 2023
Đợt 2: Tháng 5 năm 2023
Do chưa vốn nên T H thỏa thuận vay tiền của ông Văn
Tấn, sinh năm 1974 với số tiền là: 163.200.000 đồng để thanh toán số tiền đặt cọc
giống chanh leo đợt 01 (theo Giấy biên nhận tiền đặt cọc ngày 28/03/2023) cho
HTX B. Việc vay tiền giữa T, H ông T không văn bản gì, chỉ tha
thuận bằng lời nói. Ngày 28/3/2023, Nguyễn Diệp T đã chuyển số tin
163.200.000 đồng vào tài khoản số: 7904205251884 Ngân hàng Agribank mang
tên Lò Văn S ( ông S là Chủ tịch HĐTQ – Giám đốc của HTX B).
Do thiếu tiền thanh toán tiền giống Chanh leo cho HTX Nông nghiệp B
tiền nông Văn T nên T và bà H thỏa thuận để bà T dùng Giấy chứng nhận
3
quyền sử dụng đất số DC 312681 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc
cấp ngày 07/09/2021 tài sản của T để thế chấp vay tại Quỹ Tín dụng nhân
dân Tam Hồng theo hợp đồng tín dụng số K.Ư: 245/23 ngày 13/04/2023 vi
tổng số tiền vay là: 700.000.000 đồng với lãi suất tại thời điểm hợp đồng
12%/năm. Việc thỏa thuận vay số tiền 700.000.000 đồng giữa TH không
văn bản nhưng Tcác bản ghi âm thể hiện việc bà H đồng ý vay và trả nợ;
Số tiền 700.000.000 đồng dùng vào các mục đích sau:
- Thanh toán 163.200.000 đồng cho ông Văn T - khoản vay chung của
bà T và bà H.
- Thanh toán tin giống Chanh leo còn lại theo Giấy biên nhận tiền đặt cc
ngày 28/03/2023 cho HTX Bảo S vào ngày 01/5/2023 với số tiền 390.400.000.
- Số tiền còn lại là: 146.400.000 đồng, trong đó: H vay 100 triệu đồng
còn 46.400.000 đồng bà T sử dụng trả dự án mua bán phân gà. Nhưng số tiền này
bà T không đề nghị giải quyết trong vụ án.
Trên thực tế, đợt 1: Việc nhận cây giống chanh leo với HTX Bảo S đưc
chia làm hai ngày:
+ Ngày 16/4/2023 nhận 67 thùng, mỗi thùng 100 cây, tổng là 6.700 cây
giống chanh leo;
+ Ngày 29/4/2023 nhận 106 thùng, mỗi thùng 100 cây, tổng là 10.600 cây.
Tổng hai lần nhận cây giống là 17.300 cây. Việc giao nhận cây cho bà con
nhân dân được thực hiện sau mỗi lần nhận cây giống khoảng 4, 5 ngày tùy thuộc
vào điều kiện thời tiết.
Đến ngày 17/5/2023, bà H không choT hợp tác làm ăn nữa nên bà T đã
đòi 553.600.000 đồng tiền gốc, lãi bà T bà H vay để T trlại cho Quỹ
Tín dụng nhân dân xã Tam Hồng nhưng bà H tchối trả bà T.
Ngày 28/10/2023, bà T được biết cơ quan chức năng đã thanh toán tiền lợi
nhuận 138.400.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của HTX C-T do H làm
giám đốc. Sau khi nhận tổng stiền lãi toàn btiền gốc đã đầu tư đợt 01 từ các
cơ quan chức năng nhưng Tăng Thị H không trả cho bà T đồng nào. Sau nhiều
lần bà T đòi tiền thì đến ngày 08/11/2023, bà Tăng Thị H đã chuyển trả T đủ
số tiền gốc là: 553.600.000 đồng (Năm trăm năm mươi ba triệu sáu trăm nghìn)
để bà T trả gốc nợ cho khoản vay chung của bà T và bà H tại Quỹ Tín dụng nhân
dân xã Tam Hng.
Tổng stiền lãi một mình T bỏ tiền nhân ra đtrcho Quỹ tín
dụng xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với số tiền: 553.600.000 (Năm trăm năm
mươi ba triệu sáu trăm nghìn) đồng T H vay đmua giống Chanh
leo tngày 13/04/2023 đến ngày 09/11/2023 với tổng thời gian là 07 tháng là:
553.600.000 x 1%/tháng x 7 tháng = 38.752.000 (Ba mươi tám triệu bảy trăm năm
mươi hai nghìn) đồng.
4
Tổng số tiền lãi từ việc kinh doanh Chanh leo giữa T và bà H sau khi trừ
chi phí còn lại là: 138.400.000 đồng - 38.752.000 đồng = 99.648.000 (Chín mươi
chín triệu u trăm bốn mươi tám nghìn) đồng, T H mỗi người nhận được
số tiền lãi là: 99.648.000 đồng: 2 = 49.824.000 (Bốn mươi chín triệu tám trăm hai
mươi bốn nghìn) đồng.
Như vậy, tổng số tiền Tăng Thị H phải trả lại cho T là: 38.752.000
đồng + 49.824.000 đồng = 88.576.000 (Tám mươi tám triệu năm trăm bảy mươi
sáu nghìn) đồng; Số tiền này bà T đã liên hH để đòi rất nhiều lần làm
đơn gửi ra Công an xã HThầu đgii quyết yêu cầu nhưng bà H từ chi trả cho
bà T.
T xác nhận Tăng Thị H đã trả cho 3.450.000 đồng tiền lãi vào
khoảng cuối tháng 5/2023 (đây là một nửa tiền lãi của số tiền vay quỹ tín dụng
Tam Hồng là 700.000.000 đồng).
Quá trình giải quyết, T trình bày thêm trong quá trình hợp tác, T
H thuê thuật làm giấy tờ thtục hết số tiền 10.000.000 (ời triệu) đồng,
ngoài ra không bỏ thêm bất cứ chi phí nào khác.
Tại đơn khởi kiện T yêu cầu Tăng Thị H phải trả lại cho bà số tiền là:
38.752.000 đồng + 49.824.000 đồng = 88.576.000 (Tám mươi tám triệu năm trăm
bảy sáu nghìn) đồng. Vì bà H đã trả cho bà T số tiền 3.450.000 đồng tiền lãi của
khoản vay chung giữa bà T H tại quỹ tín dụng nhân dân xã Tam Hồng nên
T yêu cầu bà H trả cho bà T tng số tiền 85.126.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay
sau khi trừ đi chi phí 10.000.000 đồng (tiền thuê kthuật làm giấy tờ th
tục) cả hai bên đều phải chịu, bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện, nay bà T
yêu cầu bà H trcho bà T số tiền 80.126.000 đồng (Tám mươi triệu một trăm hai
mươi sáu nghìn đồng).
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 22 tháng 7
năm 2024 bà Tăng Thị H trình bày:
Khoảng tháng 02/2023, hai vchồng bà Nguyễn Diệp T lên nhà H nói
chuyện có bà chị gái ông Tấn (ông T là chồng bà T) cho vay 1.000.000.000 đồng
không lãi suất đlàm ăn. T hỏi H năm nay anh chị làm chanh leo
không cho em xin vào hợp tác trồng trọt - chăn nuôi của chị để cùng làm ăn.
Bà Ti với bà H chị làm giám đốc hợp tác xã thì cho em xin vào làm phó giám
đốc, chị con dấu thì chị làm giấy tờ dán còn em bỏ tin ra làm dự án, xong
dự án trừ tất cả chi phí còn lại thì chị em mình chia đôi. Bà H nht trí với đề nghị
của bà T.
Ngày 25/3/2023, H bnhiệm T m phó giám đốc của HTX Chăn
nuôi- trồng trọt để hỗ trợ mọi mặt trong HTX do H làm giám đốc. Sau khi b
nhiệm bà T làm phó giám đốc thì chúng tôi tiến hành bàn bạc mua bán giống cây
chanh leo với Hợp tác Nông nghiệp B (viết tắt HTX B). Đến tháng 3 năm 2023,
H T tha thuận kết hợp đồng mua bán giống cây chanh leo số
211/2022/HĐKT-CLNF-BL với HTX B.
5
Sau khi kí hợp đồng ngày 28/3/2023, bà H, bà T, ông S đại diện HTX B
đã bàn bạc thống nhất: Hợp tác xã C-T đặt cọc 30% tổng giá trị hợp đồng tương
ứng stiền 163.200.000 đồng cho HTX B và T đã chuyển tiền đặt cọc cho ông
Văn S – Giám đốc HTX B.
Sau khi bà T chuyển tiền cho ông Lò Văn S thì mấy ngày sau bà T lên nhà
H nói về việc ông T không đồng ý cho T vay số tiền 1 tỷ đồng nữa đề
nghị vay tiền ngân hàng để làm. Tiếp nhận thông tin từ bà T trao đổi, bà H có trao
đổi lại với bà T là nếu vay Ngân hàng để làm tiếp thì bà H không đồng ý.
Từ đó bà H đã yêu cầu bà Nguyễn Diệp T phải góp vốn vào HTX C-T theo
Điều lHTX C-T và Luật hợp tác xã. Tuy nhiên, T không đồng ý. vậy, ngày
25/04/2023 bà H ban hành Quyết định bãi nhiệm chức vụ Phó giám đốc của bà T.
Ngày 26/04/2023 H giao Quyết định bãi nhiệm chức vụ Phó giám đốc
của bà T. Khi đó T mới cho H biết vviệc bà T đã chuyển thêm tiền cho
HTX B. Tổng số tiền bà T đã chuyển cho HTX B là 553.600.000 đồng. Bà T yêu
cầu bà H phải trả tin lãi cho T và không liên quan đến nhau nữa.
Ngày 27/04/2023 ông Văn S - Giám đốc HTX B H - Giám đốc
HTX C-T đã thỏa thuận, thống nhất hủy Hợp đồng số 2111/2022/HĐKT-CLNF-
BL đã vào tháng 03/2023. do hủy hợp đồng 2111/2022/HĐKT-CLNF-BL
đã ký vào tháng 03/2023:
Thnhất, số din tích không đúng với số diện tích đi đo cho bà con
Thứ hai, Số cây giống không đúng với số bà con được đăng ký và cấp cho
bà con
Thứ ba, Giá cây giống đã tăng lên rất cao.
Như vậy, hợp đồng 2111/2022/HĐKT-CLNF-BL đã ký vào tháng 03/2023
đã chấp dứt hiệu lực vào ngày 27/04/2023.
Ngày 28/4/2023 ông Văn S - Giám đốc HTX B H - Giám đốc
HTX C-T đã thỏa thuận, thống nhất Hợp đồng mua bán cây giống chanh leo.
Ngày 05/06/2023 bà H và ông S đã giao nhận tiền và cây giống cho nhau.
Ngày 07/11/2023, ông Văn S đã gửi cho bà H số tin 553.600.000đ, số tin
đặt cọc theo hợp đồng 2111/2022/HĐKT-CLNF-BL đã o tháng 03/2023
ngày 08/11/2023, Hợp c C-T đã chuyển số tiền 553.600.000 đồng cho T.
Bà H trình bày:
- Bà Nguyễn Diệp T khai về vic bà Tthỏa thuận với bà để vay tiền quỹ
tín dụng nhân dân xã T và buộc bà phải trả tiền lãi cho khoản vay đó là không có
căn cứ, bởi vì T không tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc T vay Ngân
hàng có thỏa thuận và được sự đồng ý của bà H;
- T khai vào ngày 28/10/2023 HTX C-T nhận được tổng số tiền lợi nhuận
của Hợp đồng mua bán giống cây Chanh leo Số: 2111/2022/HĐKT-CLNF-BL với
HTX B 163.200.000 đồng không căn cứ, bởi Hợp đồng số
6
2111/2022/HĐKT-CLNF-BL đã ký vào tháng 03/2023. do hủy hợp đồng
2111/2022/HĐKT-CLNF-BL đã vào tháng 03/2023 đã bhủy bỏ vào ngày
28/4/2023; Sao kê ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi
nhánh huyện T đối với số tài khoản 7801201004186 - HTX C-T thì không có số
tiền 138.248.000đ được chuyển vào tài khoản ngày 28/10/2023;
- Bà Nguyễn Dip T khai ngày 17/4/2023 T và H cùng quan thm
quyền của cấp huyện, cấp xã giao 17.300 cây cho bà con là không có căn cứ.
Quá trình giải quyết tại Tòa án, ngày 30/5/2025 Tăng ThH trình
bày:
Bà H không nhớ ngày nhưng khoảng tháng 2 năm 2023, vợ chồng bà T lên
nhà bà H ăn cơm và nói bà chị gái cho vay 1 tỷ để làm ăn nhưng đang không biết
làm ăn gì, bà T nói nếu có dự án trồng chanh thì cho bà T trồng chung, bà T sẽ bỏ
vốn còn H lo giấy tờ. Bà H nói rõ trồng chanh không có lãi nhưng sau này
mua quả mới lãi mua trong vòng 03 năm, năm nay bà H trồng ít nên tự
H làm. Sau đó T lên nhiều lần xin làm cùng, chồng H ông Khoa động
viên H nên H làm cùng T. Hai bên thỏa thuận hai chị em làm dán chanh
leo trong 3 năm, trồng xong đến lúc ra quả rồi thu quả cho bà con lãi sẽ chia đôi.
Đến ngày 26 hay 27/3/2024, ông Văn S sang làm hợp đồng cây chanh
leo g32.000 đồng/cây. T là người bỏ tiền ra khoảng hơn 160 triệu để đặt cọc
lấy cây giống. Giữa bà T có kí hợp đồng với ông S. Thời điểm đó bà H bổ
nhiệm cho bà T làm phó giám đốc hp tác xã (viết tắt HTX). Khoảng vài hôm sau
bà T có đi theo bà H hai buổi để đo đất. Đến ngày nào bà H không nhớ cụ thể thì
có chị Hằng vợ anh Nghiêm Xuân T1 gọi điện cho bà nói chuyện bà T nhận phân
lân chỗ T1 của T. Sau đó, gọi T để nói chuyện cho T nghỉ
không làm cùng dự án chanh leo với bà nữa và bà làm thủ tục bãi nhiệm bà T.
Đối với file ghi âm vào lúc 06 gisáng ngày 13/3/2023 bà H thừa nhận
đúng giọng nói của bà H, đây giọng nói của H anh Văn S
Nguyễn Diệp T thỏa thuận về việc mua giống cây chanh leo.
Đối với hình ảnh họp dân ngày 19/4/2023, video hình ảnh đi đo đất ngày
30/3/2023 mà bà T cung cấp bà H thừa nhận đó là hình ảnh họp dân, bà H không
nhớ ngày, video và hình ảnh đi đo đất ngày 30/3/2023 đúng là có bà T tham gia.
Đối với hình ảnh bàn giao giống cho con nhân dân và ảnh T chụp vào
ngày 29/4/2023 cùng với các thùng giống: Hình ảnh này là đúng nhưng việc giao
cây do bà H thực hiện lúc đó bà H đã bãi nhiệm phó giám đốc với bà T rồi và lúc
này hai bên không làm ăn chung nhau na.
Đối với 02 file Video quay vào 12 giờ 38 phút ngày 27/10/2023 bà H tha
nhận đúng giọng nói hình ảnh của H, video này quay vào trưa ngày nào
thì H không nhớ, bà T đến nhà H nội dung nói chuyện trong video
đúng thực tế.
Bản ghi Mới 6 thể hiện ghi âm thời lượng 06 phút 35 giây vào ngày
17/5/2023 bản ghi Mới 7 thời lượng 03 phút 11 giây ngày 17/5/2023 bà H tha
7
nhận đúng giọng nói của H, đây hôm bà H T tính tiền với nhau để
H trlãi cho T, lãi vay quỹ tín dụng của stiền 553.600.000 đồng trong tổng
số 700.000.000 đồng bà T vay, bà H đã trả cho T số tiền lãi là hơn 3 triệu
đồng và 900.000 đồng tiền token (chữ số) hẹn từ nay trđi tiền của ai
người đấy lo, tuy nhiên ghi âm này đã bcắt bớt đoạn sau T H nói chuyện.
Đối với file ghi âm Tang Thi Hanh, H thừa nhận đúng là giọng nói của
H, đoạn này H bà T nói chuyện vào hôm thanh toán tiền lãi mà bà H
đã trả cho bà T hơn 3 triệu đồng và 900.000 đồng tiền token (chữ kí số).
Đối với video quay về hình ảnh bà H đang bàn giao giống cho bà con nhân
dân ngày 30/4/2023 video quay việc đo đất ngày 30/3/2023: H thừa nhận
đúng hình ảnh H đang bàn giao giống cho bà con nhân dân vào ngày bao
nhiêu thì bà H không nhớ, còn việc đo đất đúng như thực tế.
Đối với bản ghi âm H 1 thời lượng 01 phút 51 giây ngày 17/5/2023 và bn
ghi âm H 2 thời lượng 26 giây thời gian 17/5/2023: bà H thừa nhận đúng là giọng
nói của bà H và bà H với bà T đang trao đổi, bà T hỏi bà H tháng trước có trả lãi
cho chị T không bà H trlời tức T yêu cầu bà H trlãi của stiền 163
triệu đồng (đặt cọc giống cây) thì bà H đã trả cho bà T.
Từ năm 2023 H dùng zalo sđiện thoại 0963094376 dùng cho đến
nay, bà H đã dùng số điện thoại này 14-15 năm nay và không dùng sđiện thoại
khác. Các đoạn tin nhắn zalo T cung cấp cho Tòa án: Tin nhắn zalo H
không nhớ, khi được Tòa án cho xem các đoạn tin nhắn giữa bà H và bà T nhưng
bà H không nhớ.
Đối với lời khai của ông Lò Văn S ngày 24/4/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân
dân huyện Tam Đường mà Tòa án đã cho bà H tiếp cận: đối với lời khai của ông
S về việc giao cây giống lần 1 67 thùng ngày 16/4/2023 sai, ngày giao cây
giống 67 thùng ngày 27/5/2023, H biên bản giao nhận hàng do ông
Văn S ông Nguyễn Hữu Tứ kí. Việc ông S nói đợt 1 xong với T sai,
đợt 2 thực hiện sau khi hủy hợp đồng sai, thực hiện 1 đợt đến ngày
31/5/2023 mới xong. Hai bên thực hiện việc giao cây làm 04 lần, lần 1 vào ngày
29/4/2023 với 106 thùng, mỗi thùng 100 cây; lần 2 ngày 22/5/2023 với 74 thùng,
mỗi thùng 100 cây; lần 3 ngày 27/5/2023 với 67 thùng, mỗi thùng 100 cây; lần 4
ngày 31/5/2023 với 96 thùng, mỗi thùng 100 cây. Tổng 343 thùng với 34.300
cây giống. Việc ông S khai giá 32.000 đồng/cây lúc làm hợp đồng giữa H
với ông S T là đúng nhưng sau đó cây giống lên giá hai bên chưa giao
nhận cây giống thì ông S báo giá 40.000 đồng/cây nên chúng tôi đã hủy hợp
đồng kí lại với giá 40.000 đồng/cây. Trong hợp đồng hai bên thỏa thuận giao
giống cây làm hai đợt nhưng thực tế không có giống cây nên hai bên đã giao làm
4 lần mới xong.
Đối với lời khai của ông Nguyễn Hữu T2 ngày 24/4/2025 Tòa án cho
H tiếp cận: lời khai của ông T2 sai, việc giao 67 thùng vào lần 3 ngày
27/5/2023 chứ không phải ngày 16/4/2023, giao lần 2 ngày 29/4/2023 lúc này bà
8
H đã không cho bà T hợp tác cùng rồi và bà H đã bãi nhiệm bà T rồi thì không có
việc bà T tham gia giao nhận cây.
Đối với lời khai của ông Tạ Bạch M ngày 17/3/2025 mà bà H được Tòa án
cho tiếp cận: Việc ông M khai các đợt giao cây giống đều có mặt bà T là sai, bà T
chlên nhà H quay video giao nhận cây một lần nhưng H không nhớ ngày
nào. Việc ông M khai 03 đợt giao cây không đúng, hai bên giao làm 04 lần như
bà H đã khai ở trên.
Số tiền thanh toán cho hợp đồng với ông Văn S do bà H là người trả,
H trả bằng tiền mặt của bà H và tr qua tài khoản do bà H nhờ anh Nghiêm Xuân
T1 chuyển khoản cho ông S.
Việc T vay số tiền 700.000.000 đồng: H biết việc T vay số tin
700.000.000 đồng, bà T trao đổi với H hiện nay ông Tấn đòi số tiền đặt
cọc là hơn 160 triệu (bà H không nhớ số tiền cụ thể), T bảo vợ chng T phi
về xã T vay tiền để làm ăn, khi vay tiền xong thì bà T bảo lấy stiền vay của Quỹ
tín dụng này để bà T và bà H trtiền thanh toán cho ông T trước và bà T và bà H
phải chịu lãi của số tiền hơn 160 triệu này. Lúc đó bà H đồng ý với ý kiến của bà
T trả hơn 160 triệu cho ông T H phải trả tiền lãi của số tiền này. Vào ngày
nào bà H không nhớ thì bà T (không rõ nhắn tin hay gọi điện cho bà H) báo là đã
gửi số tiền hơn 300 triệu cho ông Lò Văn S. Cho nên H đã phải trả lãi cho
T hơn 3 triệu đồng cho số tiền hơn 500 triệu bà T bảo đã thanh toán cho ông
S. Tổng bà H đã trả lãi cho bà T 01 lần cho số tiền lãi của số tiền hơn 160 triệu
01 lần cho số tiền hơn 500 triệu, tuy nhiên bà H đã trả lãi bao nhiêu tiền thì bà H
không nhớ. Sau khi trả xong tiền lãi H T không còn hợp tác với nhau.
Đối với số tiền hơn 500 triệu T chuyển cho ông S bà H không liên quan.
Tuy nhiên, sau nhiều lần bà T cãi nhau với bà H thì bà H cũng gọi cho ông S nên
ông S đã trtiền mặt của số tiền hơn 500 triệu và bà H đã nhận và chuyển vào tài
khoản của hợp tác xã C-T và chuyển trả cho bà T.
Số tiền bà bỏ ra để thc hiện dự án là tiền của cá nhân bà H chứ không liên
quan đến tiền của hợp tác xã C-T.
* Quá trình giải quyết ván nời quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Văn T trình bày:
Thời điểm tháng 3/2023 Tăng ThH bà Nguyễn Diệp T bàn bc
với nhau hợp đồng trồng cây chanh leo lợi nhuận, nhưng không vn
nên H và T vay ông T số tiền 163.200.000 đng mục đích để trtiền cây
giống. Số tiền 163.200.000 đồng ông Tấn để trong tài khoản của vợ ông T là
Nguyễn Diệp T, sau khi ông Tấn nhất trí cho vay thì T đã chuyển khoản cho
ông Lò Văn S. Sau đó H cùng chồng H là ông Khoa bà T cùng đến nhà
ông T bàn bạc để nhờ ông T vay 700.000 triệu đồng từ Quỹ tín dụng nhân dân xã
T (trong đó mục đích trlại cho ông T 163.200.000 đồng số tiền còn lại sẽ giao
tiền cho ông Văn S để mua giống cây chanh leo). Khi Tăng Thị H
Nguyễn Diệp T nhông T vay tiền từ Qutín dụng nhân dân xã T với vai trò
Hợp tác C-T. Hợp đồng vay vốn tqutín dụng Qutín dụng nhân dân xã T
9
do hai vợ chồng ông T, T vay. Giữa ông T bà H, ông Khoa bà T không
lập hợp đồng, chỉ do quen biết nên nói chuyện với nhau. Ông Lê Văn T đã nhận
được số tiền 163.200.000 đồng do T bà H trả, n lại số tiến 700.000.000
đồng là ông Tấn đứng tên vay hộ bà T và bà H chứ không liên quan đến ông.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các
văn bản tố tụng đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hợp tác C-T
theo đúng quy định của pháp luật nhưng người quyền lợi, nghĩa vliên quan
Hợp tác xã C-T không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có yêu cầu gì (thành
viên của HTX Chăn nuôi- Trng trọt ông Nguyễn Xuân S trình bày HTX không
dự án Chanh leo, quy trình bnhiệm T phó giám đốc HTX ông không
biết).
* Những người làm chứng:
Ông Văn S trình bày: ông giám đốc của Hợp tác Nông nghip B
(viết tắt HTX B). Vào khoảng đầu tháng 3 năm 2023 (ông không nhngày)
ông đại diện cho HTX B kết hợp đồng mua bán cây giống chanh leo số
2111/2022/HĐKT/CLNF-BL (không có ngày, ghi tháng 3 năm 2023) với Hợp tác
xã C-T do bà Tăng Thị H làm giám đốc và bà Nguyễn Diệp T. Các bên thực hiện
mua bán cây chanh leo do HTX B cung cấp cho HTX C-T do Tăng Thị H
giám đốc và bà Nguyễn Diệp T. Ông Lò Văn S cung ứng 35.000 cây giống chanh
leo Đài Nông 1 với giá 32.000 vnđ/cây chia được hai đợt giao cây, đợt 1 vào
tháng 4/2023 đợt 2 tháng 5/2023. Số tiền đặt cọc đợt 1 của hợp đồng
163.200.000 đồng, số tiền này ngày 28/3/2023 bà T là người chuyển tiền cọc cho
ông vào số tài khoản 7904205251884 mang tên Văn S mở tại Ngân hàng nông
nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh Mai Sơn. Ông S đã chuyển cây giống
đợt 1 cho Tăng Thị H và bà Nguyễn Diệp Tchia làm hai lần giao, lần 1 giao
67 thùng, mỗi thùng 100 cây vào ngày 16/4/2023 có mặt của chị T lúc giao nhn
cây, đợt 2 vào ngày 29/4/2023 giao 106 thùng, mỗi thùng 100 cây (đợt 2 này do
thời gian đã lâu nên ông S không nhớ mặt chị T hay không). Ông Văn S
thừa nhận số zalo 0962343149 này là của ông và các đoạn tin nhắn do chị T cung
cấp cho Tòa án đúng nội dung tin nhắn giữa ông và bà T. Ngày 01/5/2023, ông đã
được nhận thêm từ T 390.400.000 đồng do T chuyển khoản qua số tài khoản
41110000690105 mang tên Lò Văn S mở tại Ngân hàng BIDV huyện Mai Sơn.
Tổng số cây giống của đợt 1 ông S đã bàn giao là 17.300 cây, chia làm hai
đợt giao cây như ông S đã khai trên ông đã nhận toàn bộ giá trị của hợp đng
đợt 1 553.600.000 đồng do Nguyễn Dip T chuyển khoản (ông S chnhn
tiền thanh toán tbà T cho giá trị hợp đồng đợt 1 là 553.600.000 đồng ngoài ra
ông S không nhận của ai khác).
Ngày 27/4/2023 ông S đại diện cho HTX B biên bản hủy hợp đồng
mua bán cây giống 2111/2022/HĐKT/CLNF-BL với Tăng ThH. do hủy
hợp đồng do giá cây giống tăng lên. Khi bàn bạc để hủy hợp đồng trên thì chúng
tôi đã thực hiện xong việc giao nhận cây giống đợt 1 với số cây 17.300 cây
cũng đã thanh toán xong giá trị của đợt 1 và chúng tôi tiếp tục kí kết hợp đồng để
10
giao giống đợt 2 vào ngày 28/4/2023 và đợt kết này ông S thực hiện với riêng
bà H, không có sự tham gia của bà T.
Ngày 28/4/2023, ông S đại diện cho HTX B hợp đồng mua bán chanh
leo số 2111/2022/ HĐKT/CLNF-BL với Hợp tác trồng trọt do bà Tăng Thị H
làm giám đốc. Ông cung ứng 34.272 cây với giá 40.000 vnđ/cây, tổng giá trị của
đợt 2 1.370.880.000 đồng. Đợt kết này thay cho đợt 2 của hợp đồng số
2111/2022/HĐKT/CLNF-BL (không có ngày, tháng 3 năm 2023).
Ông Tạ Bạch M trình bày: ông viên chức của Trung tâm dịch vụ nông
nghiệp huyện Tam Đường. Quá trình làm việc tại trung tâm triển khai thực hiện
Nghị quyết 07/2021/NQ-HĐND ngày 22/3/2021 của HĐND tỉnh Lai Châu quy
định chính sách về phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2021-2025
nên ông Minh biết bà Tăng Thị H và Nguyễn Diệp T ông M biết họ
hợp tác với nhau để thực hiện dự án phát triển cây chanh leo trên địa bàn tỉnh Lai
Châu cụ thlà tại xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Vào năm 2023, giữa H bà T hợp tác với nhau, H bổ nhiệm
T làm phó giám đốc Hợp tác xã Chăn nuôi, trồng trọt xã H do bà H làm giám đốc,
T người góp vốn cùng với H còn H đứng ra liên hmua cây giống,
phân bón cấp hỗ trợ cho người dân. Cthể bà T góp vốn bao nhiêu, hai bên chia
nhau lợi nhuận như thế nào thì ông M không biết.
Mỗi khi giao cây cho con nhân dân thì ông đại diện cho Trung tâm
dịch vụ nông nghiệp huyện Tam Đường cùng với Ủy ban nhân dân H Phòng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện tiến hành giám sát việc giao nhận cây
ging. Giao giống cây khoảng ba lần, cụ th ngày bao nhiêu ông không nh
(khoảng tháng 5/2023 làm ba đợt khác nhau). Đợt 1 giao 17.100 cây, đợt 2 và đợt
3 ông M không nhớ nhưng tổng cả ba đợt 34.272 cây. Những thời điểm giao
giống cây đó thì ông M có thấy bà T cùng bà H giao giống cây. Do chương trình
này hỗ trsau đầu nên chúng tôi chỉ giám sát tiêu chuẩn cây giống số
ợng giao cho nhân dân đầy đủ đúng theo tiêu chuẩn thuật không còn
việc kết giao cây do hợp tác đơn vị cung ứng thực hiện, trong hồ
lưu tại Trung tâm dịch vụ nông nghiệp chỉ lưu giấy tờ giao tổng số cây của dự án
chkhông tài liệu giao cụ thtừng đợt. Thời điểm giao giống cây đợt 1
17.100 cây ông M có được thấy hợp đồng giữa các bên kí với nhau và ông M còn
được biếtT là người giao tiền số tiền hơn 500.000.000 đồng cho ông n
S giám đốc của HTX B đthanh toán tiền cây giống, các bên giao nhn
tiền với nhau nhưng chúng tôi không yêu cầu họ giao nộp hợp đồng đó đó
việc làm ăn ca các bên chúng tôi không can thiệp.
Ông Nguyễn Hữu T2 trình bày: Việc hợp tác giữa bà H và bà T ông có biết
ông làm ăn chung với ông Văn S hợp tác làm ăn với T H
trong việc mua bán cây giống chanh leo vào tháng 3/2023. Ông không trực tiếp
kết hợp đồng mua bán cây giống chanh leo với ông S, bà T H nhưng các đợt
kí kết hợp tác làm ăn và giao giống chanh leo ông đều đi cùng ông S và ông đưc
chứng kiến. Ông T2 làm chứng cho bà Tc vấn đề về: Giá cả của hợp đồng mua
11
bán đợt 1 giữa ông S, bà T, bà H là 32.000 đồng/cây, đợt 1 giao làm hai lần: lần 1
giao 67 thùng, mỗi thùng 100 cây vào ngày 16/4/2023 mặt của chị T lúc giao
nhận cây, đợt 2 vào ngày 29/4/2023 giao 106 thùng, mỗi thùng 100 cây cũng
mặt chị T tham gia vào giao nhận cây.
Ông Nghiêm Xuân T1 trình bày: ông không biết việc hợp tác làm ăn giữa
bà H và bà T. Ông làm chứng cho bà H về việc bà H có nhờ ông T1 chuyển hộ số
tiền 531.200.000 đồng để thanh toán tiền cây giống vào số tài khoản
41110000690105, ngân hàng BIDV mang tên Lò Văn S, chuyển ngày 05/6/2023,
ông chuyển làm 02 lần, lần 1 là 400.000.000 đồng, lần 2 là 131.200.000 đồng.
* Quá trình giải quyết ván, nguyên đơn Nguyễn Diệp T tiếp tục
cung cấp các tài liệu chứng cứ mới, trong đó gồm:
- Bản ghi mới 6 (ngày 17/5/2023), nội dung:
+ 0 giây đến 20 giây: Bà H nói: “Ví dụ thế còn 900 thì trừ tiền gốc, tiền lãi
đi mất 800 còn 100 chia đôi, ví dụ thế”. Bà T nói: Lúc đấy chia nhau thì tính sau.
H nói đấy là tớ nói thế”. Bà T nói: “Bây giờ chị vẫn muốn cho em chị em
mình là chả như đợt vừa rồi cây giống mà chị nhiều hơn em vẫn vào tiền với chị
hay là em nhiều hơn thì chị lại đưa cho em”. Bà H nói: “Không bây giờ là tớ làm
một mình”. Bà T nói: “ừ thế thì một mình thì dứt điểm đi liên quan gì”.
+ 22 giây đến 01 phút 06 giây: T nói: “Bây giờ hơn một tháng lãi em
chtính cho chị một tháng như chị em mình đã nói, 700 triệu trừ 553 triệu sáu
trăm em gitiền cây giống cho thằng S”. H nói: “Cái số này vẫn chịu 700
triệu”, T nói: “700 triệu cách đây mấy hôm phải đến 8 hôm nay rồi”. H nói:
“Không biết rồi chị em mình vẫn chịu 700 triệu. Sau này, cây giống cái số tin
này đến lúc thu vẫn chịu lãi, hai chị em chia đôi, đã mặc cả rồi thì như thế, tlàm
ăn thì như này cô vay 700 triệu hay cô vay 1 tỷ thế thôi, lãi là hai chị em đều phải
chịu, sau này lấy tiền về trvào đấy. Hợp đồng đúng như thế, dlấy tiền sau
này trừ gốc, trừ lãi đi còn bao nhiêu chia đôi. Nguyên tc đúng hợp đồng như
nào thì duyệt như thế, không thay đổi”.
+ 01 phút 07 giây đến 01 phút 35: T nói: “Giống lần đầu năm trăm
năm ba triệu sáu trăm thôi’’. Bà H nói: “Có tưng đấy nhưng chị em mình đã vay
700 triệu”. T nói “Vay bảy trăm triệu bây giờ thì chị không làm ăn với em nữa
thì là chị làm”. Bà H nói “Tiền dây điện nhá bây giờ là năm lăm chị em mình vẫn
chịu lãi của bảy trăm triệu đấy”, T nói “bảy trăm triệu cách đây tám hôm ri
chvẫn chưa hiểu chỗ đấy”. H nói “cách tám hôm rồi bảo chỉ tính một
tháng thôi đúng không, nhưng không thế cứ để cứ để cho đến lúc có tiền. Đến
lúc mà rút tiền ngân hàng ra, rút tiền nhà nước ra thì chia”.
+ 01 phút 36 giây đến 01 phút 50 giây: Bà T nói: “Nếu như chung với chị
lần tới nữa được, bây giờ dây điện không phải chung nhau, dây điện của ai người
đấy bán đúng không chthì tách riêng ra thế xong”. H nói: “Mua mua
chung nhau, còn tách ra, cái gì cũng chia đôi”.
12
+ 01 phút 53 giây đến 2 phút 10 giây: Bà T nói: “Bây giờ em chỉ bỏ ra năm
trăm năm ba triệu nhân tiền cây giống đợt vừa rồi chú S cấp bao nhiêu đấy thì chị
chia cho em chia đôi thế thôi, còn chị nhiều hơn thì tất của chị em cũng không gì
hết. Thôi chị không lấy tiền lãi, nếu mà chị nói thế thì tiền lãi hơn ba triệu chị cứ
cắt đi, chị vẫn chưa hiểu thôi cắt đi không nói chuyện”.
+ 2 phút 15 giây đến 2 phút 44 giây: Bà H nói: “Sao lại không hiểu, hiểu là
thế này này, đã vay 700 triệu, giấy ngân hàng ghi 700 triệu không sau này cô li
bảo”. T nói: “Bây giem chỉ biết em bỏ ra 553 triệu 600 chuyển tiền chanh
leo cS tnhân tiền lãi đấy thì chị em mình ít nữa chị bảo chia đôi, còn với sếp
đâu như nào chị em mình cùng cho sau”. H nói: “chị em mình cùng đi, cùng
cho”. Bà T nói: “Thế đã nói thế rồi, xong nhé”
+ 02 phút 45 giây đến 04 phút 00 giây: Bà T nói: Dây điện chị hôm nọ vay
em 100 triệu trừ đi, xong. Bà H nói: “Thì đây 144 triệu đúng không, 144 triệu trừ
đi 100 triệu, còn 44 triệu đúng không. Bà T nói “Không”. H nói: “ơ, còn gì”.
Bà T nói: “Tiền dây điện bảy mươi mấy triệu mà tiền dây điện là 72 triệu không
trăm bao nhiêu mà”. H nói: “Theo ý tiền dây điện tlấy riêng đúng không
bây giờ tớ gicô đúng không”. Chị T nói: “Hôm nọ chị vay em một trăm bây giờ
trừ đi 100 triệu trừ với bảy mươi mấy mấy triệu ông Tấn lấy tiền dây điện trừ đi
còn bao nhiêu thì chị gicho em”. Bà H nói: “Bây giờ là 100 triệu trừ đi..” Bà T
nói: “Bảy mươi hai triệu không trăm năm mươi, còn chị ra trồng dặm với cái
gì, không nói nhiều cho thoải mái. Chị trđi, lúc này chị không tiền, lúc nào
tiền chị đưa cho em ng được mà, phải ngay đâu phải lo”. H nói:
“Chị em cphải rành mạch ra”. T nói: “Vâng, rành như thế đấy chị, chị cứ tr
100 triệu đi”.
- Bản ghi mới 7 (ngày 17/5/2023), nội dung:
+ 57 giây đến 3 phút 11 giây: T nói: “Chị H ơi, tháng trước chgiả
tiền lãi em không” Bà H đáp: “Có”. Bà T nói: “Vâng, thế chị cộng luôn cho em”.
Bà T nói: “năm trăm năm ba triệu sáu trăm em chuyển tiền cây giống cho thng
S, không sai đâu”. Bà H nói: “tớ nhớ là 17.100 cây, tớ có hóa đơn mà nhân giá 32
là ra”.
- File 1 (Ngày 27/10/2023) nội dung trao đổi:
+ Từ 0 phút 0 giây đến 0 phút 10 giây: T nói: “Lãi chem đều mất
tiền lãi đúng không?” bà H nói: “đúng”.
+ Từ 1 phút 25 giây đến 1 phút 50 giây:T nói: “Tháng nào chị em mình
mất hơn 7,2 triệu tiền lãi”. H xác nhận: “Đúng”. T nói: “Tháng nào em
cũng phải nộp cho chị em có bảo gì” bà H xác nhận: “Đúng”. Bà T nói tiếp: “Chị
vẫn bảo rằng bao giờ tiền lãi về trlãi đi còn lãi đâu là chị em mình chia nhau”.
Bà H xác nhận: “Đúng”.
+ Từ 3 phút 16 giây đến 4 phút 20 giây: T nói “Một tháng hai chị em
mất 7,2 triệu tiền lãi Ngân Hàng Vĩnh Phúc, sót tiền không anh (nói với ông Khoa
chồng bà H) mà sắp phải đến đáo hạn Ngân Hàng rồi”. Bà H đáp: “Tôi cũng biết,
13
không phải tôi là con người không biết”. Bà T nói tiếp: “Một tháng mất 7.2 triệu
tiền lãi Ngân hàng”, H nói: “Tôi biết cái gì tôi cũng biết biết, cô vay tiền này
không phải một mình cô chịu lãi mà cô nói..tôi cũng chả mất à”.
- File 2 (ngày 27/10/2023) nội dung trao đổi:
+ Từ 0 phút 0 giây đến 1 phút 12 giây: Bà H nói: “Đáng ltiền cây giống
chanh leo phải chuyển vào Hợp tác tôi, rồi chuyển đi”. T nói: “Sao chị
không bảo”. H nói tiếp: “Tôi cũng người không biết, thằng Minh nói tôi mới
biết, thì tôi mới phải làm mấy cái này mới giải quyết xong”. T nói tiếp: “Em
vay lãi Ngân hàng Vĩnh Phúc 700 triệu, T ơi chuyển tiền cho S đi, chị ấy Giám
đốc sai phó giám đốc thì mình phải làm chứ. Tất cả mọi thứ chị nắm quyền đúng
không, em biết đâu, chị ấy bảo tại em” H nói: “Tôi bảo này, tiền 900.000
đồng chữ ký số cô lên cô đòi lại, cô bảo làm chung mà cái cô cũng đòi”.
+ Từ 3 phút 38 giây đến 4 phút 19 giây: T nói: Khi nào chị gitiền em”
H nói: Khi nào tôi làm xong tôi gitiền (T). H nói: Tôi làm xong tôi
gọi cô chú lên tôi thanh toán đầy đủ”.
+ Từ 04 phút 40 giây đến 04 phút 57 giây: Bà H nói tiếp: Tôi phải thanh
toán từng người một, kế toán bao tiền? người làm giấy tờ cho tôi bao tiền? còn
bao nhiêu tiền chị em chia nhau, lỗ thì cả hai cùng chịu”.
+ Từ 05 phút 01 giây đến 05 phút 40 giây: T nói: ChH nói nguyên
văn: đợt sau tôi làm như nào ktôi”. H xác nhận: “Đúng rồi”. Bà T nói tiếp:
“Trước chị em bỏ ra hơn 500 triệu đó, khi nào được tiền lãi số cây về, tiền lãi thì
trừ đi còn lãi thì chị em chia nhau”. Bà H xác nhận: “Đúng rồi, đúng đúng”.
* Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành c minh:
- Tại biên bản xác minh giữa Tòa án Trung tâm dịch vụ nông nghiệp
huyện Tam Đường thể hiện: Thực hiện Nghị quyết 07/2021/NQ-HĐND ngày
22/3/2021 của hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu, nghị quyết quy định chính sách
phát triển Nông nghiệp hàng hoá tập trung giai đoạn 2021-2025 trong đó về
việc trồng mới cây ăn quả tập trung. Cuối năm 2022 Hợp tác xã C-T đăng ký với
uỷ ban nhân dân xã H trồng 41 ha cây Chanh leo, trên sở đăng ký, uỷ ban nhân
dân tỉnh phân bổ nguồn kinh phí cùng các dán khác thực hiện năm 2023. Hợp
tác chăn nuôi trồng trọt phối hợp với uỷ ban nhân dân xã H, huyện Tam Đường
(liên quan đến quản diện tích đất) về tổ chức thực hiện, đăng trồng cây chanh
leo. Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp chủ đầu thực hiện hỗ trphát triển trồng
cây Chanh leo trên địa bàn huyện Tam Đường nội dung cụ thhỗ trợ sau đầu tư,
các thủ tục quy trình thực hiện liên kết tiêu thụ sản phẩm do hợp tác C-T Hồ
Thầu thực hiện. Trung tâm dịch v nông nghiệp tiến hành nghiệm thu htrợ cùng
các cơ quan chuyên môn của huyện: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Phòng tài chính kế hoạch, UBND xã H và các bên liên quan với quy mô hỗ tr
cụ thnhư sau: Diện tích đủ điều kiện hỗ tr40,6 ha (840 cây/ ha trong đó cây
trồng mới 800 cây/ha scây trồng dặm 40 cây/ha) với tổng scây được nghiệm
thu hỗ tr34.104 cây, tổng số tiền hỗ trcây giống: 1.364.160.000
đ
(40.000/
14
cây). Số tiền hỗ trợ phân bón: 251.632.304 đồng (trong đó phân đạm ure
40.715.304 đồng, Phân supe lân Lâm Thao: 59.377.500 đồng, Phân Kaliclorua
59.377.500 đồng, Phân Hữu cơ vi sinh: 105.560.000 đồng).
Quy trình thực hiện theo Nghị quyết 07/2021/NQ-HĐND ngày 22/3/2021
của hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu, nghị quyết quy định chính sách phát triển
Nông nghiệp hàng hoá tập trung giao đoạn 2021-2025 hướng dẫn số 2088/HD-
SNN ngày 15/10/2021 của sở Nông nghiệp phát triển nông thôn Lai Châu. Vic
nghiệm thu dán (Có hồ nghiệm thu) gồm các quan: Phòng Nông nghiệp
huyện Tam Đường, Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Tam Đường, uỷ ban nhân
dân H, huyện Tam Đường Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Tam
Đường. Sau khi nghiệm thu, Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu sẽ trình UBND huyn phê duyt kinh phí hỗ tr.
Hợp tác xã C-T sẽ tự bỏ tiền ra để thực hiện dự án trước, khi cây chanh leo
phát triển đủ điều kiện Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện sẽ tiến hành nghiệm
thu khối lượng hoàn thành và thực hiện hỗ trtheo quy định. Trung tâm sẽ cung
cấp hồ sơ cho Toà án theo quy định.
- Tại biên bản xác minh giữa Tòa án và UBND xã H thhiện: UBND xã H
hiện vẫn đang quản lý Hợp tác xã C-T do bà Tăng Thị H thành lập. Hiện Hợp tác
xã C-T vẫn đang hoạt động và có địa chỉ tại Bản Đội 4, xã H huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu. Việc hợp tác giữa bà Tăng Thị H và bà Nguyễn Diệp T, UBND xã
không nắm được. Tại thời điểm thực hiện dự án trồng cây chanh leo Hợp tác
Chăn nuôi - trồng trọt có 07 thành viên (có ông Nguyễn Xuân S). Thực hiện công
văn số 06/CV-TTDVNN ngày 18/01/2022 của Trung tâm dịch vụ nông nghiệp
huyện Tam Đường về việc đăng nhu cầu thực hiện hỗ trphát triển nông nghip
hàng hóa tập trung năm 2022 căn cứ nhu cầu của nhân dân thì UBND Hồ
Thầu chỉ lập tờ trình đăng nhu cầu thực hiện hỗ trphát triển nông nghiệp hàng
hóa tập trung năm 2022.
- Tại biên bản xác minh giữa Tòa án Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Tam Đường thể hiện: Hợp tác C-T, địa chỉ: Bản Đội 4, H huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu được thành lập ngày 15/10/2020 đăng thay đổi lần thhai
ngày 14/11/2024. Hợp tác xã Chăn nuôi - trồng trọt 07 thành viên do
Tăng Thị H là người đại diện theo pháp luật.
- Ngày 16/6/2025, được sự nhất trí của Nguyễn Diệp T Tòa án tiến hành
truy cập vào điện thoại của bà Nguyễn Diệp T. Lý do: Bà Nguyễn Diệp T đã nộp
các hình ảnh, video, file ghi âm làm tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện. Tòa án tiến hành xác minh nguồn gốc của các hình ảnh, video, file ghi
âm T đã giao nộp. Qua quá trình kiểm tra điện thoại iphone 7 Plus (có hình
ảnh kèm theo hồ sơ) ghi nhận 06 hình ảnh (có hình ảnh kèm theo). Qua quá trình
kiểm tra điện thoại iphone XS max (có hình ảnh kèm theo) ghi nhận 04 hình ảnh
(có hình ảnh kèm theo hồ sơ).
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Diệp T trình bày: Lãi của đợt hợp tác là
138.400.000 đồng trừ số tiền 10.000.0000 đồng tiền thuê thuật làm giy
15
tờ thủ tục và trả lãi quỹ tín dụng nhân dân xã Tam Hồng với stiền38.221.151
đồng thì mỗi người được hưởng 45.089.425 đồng. Do T đã phải bỏ tiền nhân
ra trả lãi nên H phải hoàn trả T số tiền lãi 38.221.151 đồng 3.450.000
đồng = 34.771.151 đồng. Do vậy, bà Tăng Thị H phải trả lại cho bà T tng số tin
là: 45.089.425 đồng + 34.771.151 đồng = 79.860.576 đồng (Bảy mươi chín triệu
tám trăm sáu mươi nghìn năm trăm bảy mươi sáu đồng). Tuy nhiên, quá trình thc
hiện dự án bà H đã bỏ nhiều công sức nên bà T sẽ hỗ trbà H và bà T yêu cầu rút
một phần yêu cầu khởi kiện, nay T yêu cầu H trcho T số tiền 45.089.425
đồng.
* Tại Bản án dân sự thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 ca
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 2 Điều 92, Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều
229, khoản 2 Điều 244, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 117, Điều 119, Điu 504, Điều 507, Điều 510, Điều 512 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 5, khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP
ngày 27/6/2025 của Hi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều
1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tng
dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá
sản Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Diệp T. Buc
Tăng Thị H phải trả cho Nguyễn Diệp T số tin 45.089.425 đồng (Bốn mươi
lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành
không đầy đ, thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm phần lãi suất đối với
số tiền chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Diệp T đối với số tin:
88.576.000 đồng – 45.089.425 đồng = 43.486.575 đồng.
[2] Về án phí:
Bị đơn Tăng Thị H phải chịu 2.254.471 đồng (Hai triệu hai trăm năm
mươi tư nghìn bốn trăm bảy mươi mốt đng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Nguyễn Diệp T được trả lại số tiền tm ứng án phí dân s
thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Lai Châu số tiền là 2.214.000đ (hai triệu
hai trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số:
AA/2021/000303 ngày 21/5/2024.
16
Ngoài ra Bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 21/10/2025 ng ThH kháng o toàn bộ bản án thẩm đề ngh
T án cấp pc thẩm hủy Bản án thẩm của a án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn
ginguyên nội dung kháng cáo đnghị hủy bản án thẩm, không việc hp
tác với bà T trong dự án Chanh leo.
giám đốc Hợp tác C-T bà H khẳng định dán Chanh leo tư cách
Hợp tác xã, do T không góp vốn vào HTX nên đã ban hành quyết định miễn
nhiệm bà T, việc bà T chuyển tiền cho ông S bà không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư Tán đã thực hiện
đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Bluật Tố tụng dân sự; các đương
sự đã chấp hành đúng nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ quyền hạn của mình
được quy định trong Bluật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Tăng Thị H; áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sthẩm số: 03/2025/DS-ST ngày
26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Đây vụ án tranh chấp hợp đồng hợp tác giữa các đương sự nhân,
trong đó bị đơn có địa chỉ tại huyện Tam Đường (cũ) nên Tòa án nhân khu vực 1-
đơn vị kế thừa quyền nghĩa vụ của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường cũ th
giải quyết theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 5, khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 7
Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung
một sđiều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp
người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án là đúng.
[1.2] Đơn kháng cáo của Tăng Thị H gửi trong thời hạn luật định, phù
hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn Tăng Thị H kháng cáo toàn b Bản án dân s thẩm số
03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu và đề
17
nghị hủy bản án sơ thẩm. Do đó, Hi đồng xét xử phúc thẩm xem xét toàn bộ nội
dung vụ án trong phạm vi kháng cáo theo quy định tại các Điều 293, 308 Bộ lut
Tố tụng dân sự.
[1.3] Đối với người liên quan những người làm chứng đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không do chính đáng. vậy, Hội
đồng xét xcăn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt
theo quy định.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Bị đơn bà Tăng Thị H cho rằng việc hợp tác làm ăn dự án chanh leo
giữa bà H và bà Nguyễn Diệp T không có sự thỏa thuận mỗi người góp vốn 50%
không có sự thỏa thuận lợi nhuận (sau khi trừ tiền gốc, lãi quỹ tín dụng nhân
dân xã Tam Hồng, lợi nhuận là mỗi người sẽ ởng một nửa (50%) trên tổng lợi
nhuận thu được từ vic kinh doanh dự án chanh leo). Hội đồng xét xử xét thấy:
Tháng 3 năm 2023 gia Nguyễn Diệp T Tăng ThH thỏa thuận
hợp tác thực hiện dán chanh leo (mua cây chanh leo vcung cấp cho các hộ dân
theo Nghị quyết 07/2021/NQ-HĐND ngày 22/3/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Lai Châu), thỏa thuận bằng lời nói không có hợp đồng. Việc hợp tác giữa Tăng
ThH Nguyễn Diệp T hợp đồng hợp tác theo quy định tại Điều 504 Bộ
luật Dân sự, không bắt buộc phải lập thành văn bản mà có thể được xác lập bng
hành vi thực tế các thỏa thuận bằng lời nói, nếu căn cứ chứng minh. Nguyên
đơn bị đơn đều thừa nhận việc thỏa thuận hợp tác, đây tình tiết, skin
không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Đối với việc phân chia lợi nhuận, Nguyễn Diệp T khai hai bên thỏa thuận
sau khi trừ tiền gốc, lãi quỹ tín dụng nhân dân Tam Hồng, lợi nhuận mỗi
người sẽ ởng một nửa (50%) trên tổng lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh
dự án chanh leo, tuy hai bên không có thỏa thuận bằng văn bản nhưng bà T cung
cấp 02 file ghi âm gồm bản ghi mới 6 và bản ghi mới 7 thể hiện việc nói chuyện
giữa bà T và bà H ngày 17/5/2023 và 02 file video thhiện việc nói chuyện gia
H T vào ngày 27/10/2023. Tăng Thị H đã thừa nhận giọng nói hình
ảnh trong 02 file ghi âm 02 file video trên của Tăng Thị H nội dung
nói chuyện trong video là đúng thực tế.
Quá trình giải quyết ván, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá đy
đủ các chứng cứ, trong đó có: Các file ghi âm do bà T cung cấp, được bà H tha
nhận giọng nói của mình, thhiện việc hai bên cùng bỏ vốn, cùng chịu lãi
vay và chia lợi nhuận sau khi trừ chi phí; Việc H bổ nhim T gichức vụ
Phó Giám đốc Hợp tác xã Chăn nuôi - Trồng trọt để cùng thực hiện dự án; Vic
T trực tiếp chuyển tiền thanh toán tiền giống chanh leo cho HTX Nông nghiệp
Bảo S.
Như vậy, đủ căn cứ xác định giữa H T thỏa thuận hợp tác,
cùng góp vốn và cùng hưởng lợi nhuận. Việc bà H cho rằng không có thỏa thuận
18
chia lợi nhuận không phù hợp với chứng cứ khách quan đã được xem xét. Do
đó, kháng cáo này không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Bà Nguyễn Diệp T khai với Tòa án rằng bà Tăng Thị H và bà T tha
thuận vay tiền của ông Văn T: 163.200.000 đồng (một trăm sáu mươi ba
triệu hai trăm nghìn đồng) để thanh toán tiền đặt cọc giống chanh leo đợt 1 cho
HTX Nông nghiệp B nhưng không có bất kỳ một văn bản, giấy tờ nào để làm căn
cứ chứng minh. Việc ông T (chồng T) khai với Tòa án rằng H T hỏi
vay ông Tấn số tin 163.200.000 đồng là sai sự thật. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về số tiền vay tqutín dụng nhân dân xã Tam Hồng, bà T khai do thiếu
tiền thanh toán tiền giống Chanh leo cho Hợp tác Nông nghiệp S tiền nợ
ông Lê Văn T nên bà T và bà H thỏa thuận để bà T dùng Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số DC 312681 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc cp
ngày 07/09/2021 tài sản của bà T đthế chấp vay tại Quỹ Tín dụng nhân dân
xã Tam Hồng theo hợp đồng tín dụng số K.Ư: 245/23 ngày 13/04/2023 với tổng
số tiền vay là: 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng với lãi suất tại thời điểm hợp
đồng là 12%/năm. Việc thỏa thuận vay số tiền 700.000.000 đồng giữa bà T và bà
H không có văn bản nhưng bà T có các bản ghi âm và các video thhiện việc
đồng ý vay và trả nợ. Cụ thể tại 02 file ghi âm gồm Bản ghi mới 6 và bản ghi mới
7 thể hiện việc nói chuyện giữa bà T và bà H ngày 17/5/2023 và 02 file video thể
hiện việc nói chuyện giữa H và bà T vào ngày 27/10/2023 đã thhiện việc bà
H và bà T đã thống nhất vay số tiền 700.000.000 đồng và thỏa thuận hai bên chịu
lãi của số tiền vay này. Đồng thời theo lời khai của H tại Tòa án thì khi T
vay số tiền 700.000.000 đồng của Quỹ tín dụng nhân dân xã Tam Hồng về thì bà
T bảo lấy số tiền vay của Quỹ tín dụng này để T H trtiền thanh toán cho
ông Tấn trước bà T H phải chịu lãi của số tiền hơn 160 triệu này. H
đồng ý với ý kiến của bà T. Tại bảng theo dõi nhận tiền vay và trả nợ của Quỹ tín
dụng nhân dân xã Tam Hồng thì vào ngày 12/5/2023, T đã thanh toán stin
lãi là 6.900.000 đồng của số tiền vay 700.000.000 đồng, điều này phù hợp với lời
khai của bà T cho rằng bà H đã trả lãi 3.450.000 đồng và lời khai bà H là bà H đã
trả lãi cho bà T hơn 3 triệu đng.
Như vậy, số tiền 163.200.000 đồng trong tổng số 553.600.000 đồng từ
khoản tiền vay của quỹ tín dụng nhân dân T được H T sử dụng để
thanh toán tiền đặt cọc mua giống chanh leo cho HTX Nông nghip B là sự kin
thật, được chứng minh bằng: Sao chuyển khoản của T cho ông Lò Văn
S; Lời khai của ông Lê Văn T tại Tòa án phợp với diễn biến thực tế; Các file
ghi âm thể hiện việc hai bên cùng thống nhất sử dụng khoản tiền này cho dự án.
Việc vay mượn giữa các bên không lập thành văn bản không làm mất giá trị pháp
lý của giao dịch nếu có đủ căn cứ chứng minh bằng chứng cứ khác theo quy định
tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo cho rằng nội dung này
“không có thật” là không có cơ sở.
[2.3] H cho rng Tòa án cấp thẩm nhận định H phải trách
nhiệm trả lãi cho quỹ tín dụng nhân dân Tam Hồng từ ngày 13/4/2023 đến
ngày 08/11/2023 là không có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy:
19
Số tiền 700.000.000 đồng T H vay chung tại Quỹ tín dụng nhân
dân xã Tam Hồng dùng vào các mục đích: Thanh toán khoản vay chung của bà T
H (thanh toán tiền nợ cho ông Văn T) 163.200.000 đng; Thanh toán
tiếp tiền giống còn lại cho HTX Nông nghiệp Bảo S 390.400.000 đồng theo Giấy
biên nhận tiền đặt cọc ngày 28/03/2023. Số tin 146.400.000 đồng còn lại: T
cho H vay 100 triệu đồng, 46.400.000 đồng T sử dụng trả dự án mua bán
phân gà (số tiền 146.400.000 đồng T không đề nghị giải quyết trong vụ án này).
Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Diệp T bà Tăng Thị H vay tại Qutín dụng
xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đmua giống Chanh leo được xác định là
tiền vốn góp đầu tư: 163.200.000 đồng + 390.400.000 đồng = 553.600.000 đồng.
H cho rằng ngày 25/04/2023 H đã ban hành Quyết định bãi nhiệm
chức vụ Phó giám đốc của bà Nguyễn Diệp T do T không đồng ý góp vốn theo
Điều lệ HTX C-T Luật Hợp tác xã. Hợp đồng mua bán giống chanh leo giữa
H, bà T và HTX Nông nghiệp B đã được hủy bỏ vào ngày 27/04/2023 nên bà
H không đồng ý trả cho bà T khoản lãi này. Tại bản ghi âm “bản ghi mới 6” ngày
17/5/2023 cũng thhin giữa bà T và bà H đã chấm dứt hợp tác với nhau. Nếu tại
thời điểm chất dứt hợp tác, H thanh toán số tiền vốn góp đầu tư chung
Thuý đã đứng ra vay ti Qutín dụng Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh
Phúc 553.600.000 đồng lợi nhuận tviệc hợp tác thì nghĩa vchịu lãi mới
chấm dứt. Tuy nhiên, đến ngày 08/11/2023 H mới chuyển trả số tin
553.600.000 đồng cho T T mới trả được cho quỹ tín dụng nhân dân
Tam Hồng. Do vậy, H T phải trách nhiệm trả lãi cho quỹ tín dụng nhân
dân xã Tam Hồng từ ngày 13/4/2023 đến ngày 08/11/2023 (553.600.000 x
12%)/365 x 210 ngày = 38.221.151 đng là hoàn toàn căn cứ. Thực tế, H
đã trả lãi cho bà T 3.450.000 đồng.
Như vậy, giữa Nguyễn Diệp T Tăng Thị H đã việc hợp tác trong
việc thực hiện dự án chanh leo và thỏa thuận về việc chia lợi nhuận của việc hợp
tác. Khoản vay tại Quỹ tín dụng nhân dân xã Tam Hồng mặc dù đứng tên bà T
ông Tấn, nhưng qua tài liệu, chứng cứ trong hvụ án thể hiện khoản tiền
vay được sử dụng trực tiếp vào mục đích thực hiện dự án chanh leo là dự án hợp
tác chung; Bà H biết rõ việc vay tiền, đồng ý cho sử dụng vào dự án và đã nhiều
lần trao đổi về việc trừ lãi khi quyết toán; Thực tế H đã thanh toán một phần
tiền lãi cho T, thể hiện việc thừa nhận nghĩa vụ. Theo quy định tại Điều 288 B
luật Dân sự, trường hợp nhiều người cùng hưởng lợi từ một nghĩa vụ thì phải cùng
chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà
H cùng chịu tiền lãi vay đúng pháp luật, không phụ thuộc vào việc hợp đồng
tín dụng đứng tên ai.
Theo đơn khởi kiện bà T đòi tổng số tiền 88.576.000 đồng, tại phiên tòa sơ
thẩm, T yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện và chỉ yêu cầu bà H trả số tin
45.089.425 đồng. Do vậy cấp thẩm đình chmột một phần yêu cầu kiện đúng
theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự căn cứ Điều 504,
Điều 507, Điều 510, Điều 512 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
20
T, buộc Tăng Thị H phải nghĩa vụ trcho T số tiền 45.089.425 đồng
đúng quy định pháp luật.
[2.4] Đối với số tiền lợi nhuận của việc mua cây chanh leo 45.089.425
đồng (bốn mươi lăm triệu không trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm hai lăm
đồng) mà T yêu cầu H phải trả đã được Tòa án cấp thẩm chấp nhận là
không có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Số tin lợi nhuận của việc mua cây chanh leo của bà T H là 17.300
cây x (40.000 đồng/cây- 32.000 đồng/cây) = 138.400.000 đồng.
T khai bà và bà H bỏ chi phí để thực hiện dự án là 10.000.000 đồng. Bà
H không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh phản bác nội dung này.
Tiền lãi phải trả cho quỹ tín dụng nhân dân Tam Hồng từ ngày 13/4/2023
đến ngày 08/11/2023 (553.600.000 x 12%)/365 x 210 ngày = 38.221.151 đng.
Số tiền lợi nhuận của việc mua cây chanh leo sau khi trừ chi phí bỏ ra thực
hiện dự án và tiền lãi của quỹ tín dụng nhân dân xã Tam Hồng được xác định là:
138.400.000 đồng - 10.000.000 đồng - 38.221.151 đồng = 90.178.849 đồng. Mỗi
người sđược hưởng số tin: 90.178.849 đồng/2 = 45.089.425 đồng.
Như vậy, số tiền lợi nhuận phát sinh tviệc mua cây giống chanh leo là kết
quả của toàn bộ quá trình đầu tư, mua giống, triển khai dự án từ đầu, trong đó có
phần vốn do T bỏ ra trước khi bị bãi nhiệm chức vụ. Việc bà H đơn phương bãi
nhiệm bà T và ký hợp đồng mới không làm chấm dứt nghĩa vụ thanh toán, quyết
toán đối với phần vốn và lợi ích mà bà T đã đóng góp. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn
cứ vào số liệu tài chính, chứng từ kế toán quá trình thu - chi của dự án để xác
định mức lợi nhuận T được hưởng 45.089.425 đồng, buộc H thanh
toán phần lợi nhuận tương ứng cho bà T là có căn cứ, đúng pháp lut.
[2.5] Về nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét,
đánh giá chứng cứ HTX Chăn nuôi trồng trọt cung cấp, không đánh giá chứng
cứ của bị đơn người làm chứng Nghiêm Xuân Thành; người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Văn Tấn, người làm chứng ông Tạ Bạch Minh, ông Nguyễn
Hữu Tứ khai nhận với Tòa án sai sự thật. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bản án thẩm đã xem xét viện dẫn, phân tích đầy đủ các tài liệu, chứng
cứ do bị đơn HTX C-T cung cấp; đã lấy lời khai của người làm chứng, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo đúng trình ttố tụng, lời khai phù hợp với
các chứng cứ khác trong hồ vụ án. Việc Tòa án không chấp nhận quan đim
của bị đơn không đồng nghĩa với việc không xem xét chứng cứ.
Tại cấp phúc thẩm, H không cung cấp được chứng cmới chứng minh
việc khai gian dối của nguyên đơn Nguyễn Diệp T, ông Văn S những
người tham gia tố tụng khác hoặc cấpthẩm có vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
Do đó, các nội dung kháng cáo này không có căn cứ.
[2.6] Bà Tăng Thị H cho rằng nguyên đơn bà Nguyễn Diệp T không có tài
liệu chứng cứ chứng minh ngày 17/04/2023 H T cùng c quan
21
thẩm quyền của huyện và xã bàn giao 17.300 cây giống chanh leo. Tòa án cấp
thẩm cũng không tiến hành lấy lời khai của người dân về việc được bàn giao cây
giống chanh leo không đúng sthật khách quan của vụ án. Hội đồng xét xử
thấy rằng:
Lời khai ca người làm chứng ông Văn S, ông Nguyễn Hữu T2, bản ghi
âm nói chuyện giữa T H ngày 17/5/2023 các tài liệu chứng cứ trong
hồ vụ án đều thể hiện đơn giá cây 32.000 đồng/cây, số tiền T đã chuyển
trcho ông S 553.600.000 đồng. Theo đó, số ợng cây các bên đã giao nhn
là: 553.600.000 đồng/32.000 đồng/cây = 17.300 cây.
Việc bàn giao cây giống được chứng minh bằng các tài liệu nghiệm thu của
cơ quan chuyên môn, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác trong hồ
sơ. Việc không lấy lời khai từng hộ dân không làm thay đổi bản chất v án, bởi s
ợng cây giống đã được quan thẩm quyền kiểm tra, xác nhận. Do đó, nội
dung kháng cáo này là không có căn cứ.
[3] Về án phí:
Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên Tăng Thị H phi
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tại phiên toà
là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Tăng Thị H, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vc
1 - Lai Châu, cụ thể:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 2 Điều 92, Điều 147; khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 244, Điều 271; Điều
273; Điều 293; khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 288, Điu 504, Điu 507, Điều 510, Điều 512 Blut Dân sự năm 2015;
Điều 5, khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP
ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điu
của Bộ luật ttụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa
thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án;
Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
22
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kin ca nguyên đơn bà Nguyễn Diệp T. Buộc bị
đơn bà Tăng Thị H phải trcho Nguyễn Dip T số tin 45.089.425 đồng (Bn
mươi m triệu không trăm tám mươi cn nghìn bốn trăm hai mươi lăm đng).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Diệp T đối với số tin:
88.576.000 đồng – 45.089.425 đồng = 43.486.575 đồng.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn Tăng Thị H phải chịu 2.254.471 đồng (Hai triệu hai trăm năm
mươi tư nghìn bốn trăm bảy mươi mốt đng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Nguyễn Diệp T được trả lại số tiền tm ứng án phí dân s
thẩm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Lai Châu số tiền là 2.214.000đ (hai triệu
hai trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số:
AA/2021/000303 ngày 21/5/2024.
-Án phí dân sự phúc thẩm:
Tăng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối
trừ với số tiền 300.000 đồng tm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ng
án phí, lphí Tán số 0000219, ngày 21/10/2025 của thi hành án dân stỉnh Lai
Châu.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi
hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a Điều 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- TAND khu vực 1- Lai Châu;
- Thi hành án tỉnh Lai Châu;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà
23
Tải về
Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất