Bản án số 05/2025/HC-ST ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2025/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2025/HC-ST ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 05/2025/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: KHiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực Bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 05/2025/HC-ST Bản án số 05/2025/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2025/HC-ST Bản án số 05/2025/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – HẢI PHÒNG
Bản án số: 05/2025/HC-ST
Ngày 22-9-2025
V/v khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ
giải phòng mặt bằng khi thu hồi đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiện;
Ông Đỗ Văn Minh,
- Thư phiên tòa: Lưu Hải - Thư Tòa án nhân dân khu vực 4 -
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trần Đức Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng
xét xử thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 08/2025/TLST-HC ngày 04
tháng 8 năm 2025 về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường,
hỗ trợ giải phòng mặt bằng khi thu hồi đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
10/2025/QĐXXST-HC ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Kiều Thị B, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ 6, phường
KK, thành phố Hải Phòng; vắng mặt,
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Phùng H1, sinh
năm 1976; trú tại: Thôn Đ, phường Đ, thành phố Nội và Ông Dương Trung K,
sinh năm 1994; trú tại khu đấu giá quyền sử dụng đất phía B, P, thành phố Hà
Nội (theo Giấy uỷ quyền ngày 15/8/2025); ông H1 vắng mặt, ông K có mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng; địa chỉ
trụ sở: Số 15A đường Lê Hồng Phong, phường H, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân phường H: Ông Bùi
Quang N - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng, (theo
2
Giấy ủy quyền số 683/GUQ - UBND ngày 20/8/2025); vắng mặt và có đơn xin xét
xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa,
người khởi kiện và đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Ngày 10/12/2016, Kiều Thị B Hợp đồng giao khoán đất để sản xuất
nông nghiệp số 08a/PLHĐ với ng ty cổ phần Đầu Phát triển Nông nghiệp
(sau đây gọi tắt là Công ty). Theo đó Công ty giao khoán đt sn xut nông nghip
cho Kiu Th B để trng hoa màu chung tri, VAC, ao th cá, cây thc
phm. Diện tích đất: 1.502 m
2
tại địa ch X đồng: Khu đầm đà 1 thuộc Đội 1, Công
ty C phn Đầu Tư Phát trin Nông nghip trên địa bàn Phường Thành Tô, qun
H, thành ph Hải Phòng (nay là phường H, thành ph Hi Phòng) vi thi hn giao
khoán 20 năm từ ngày 10/12/2016 đến ngày 31/12/2036.
Việc ký kết giao khoán là cá nhân bà Kiều Thị B tự nhận khoán với Công ty,
không liên quan đến hộ gia đình nhà bà Kiều Thị B.
Thực hiện dự án xây dựng nhà ga hàng hóa cảng hàng không Quốc tế Cát Bi
tại phường Thành Tô, quận H. UBND quận H (nay phường H), thành phố Hải
Phòng đã xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ đối với các nhân nhận giao
khoán đất của Công ty, theo đó diện tích B nhn giao khoán b thu hi 1.502m
2
đất được bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền 951.062.545 đồng, trong đó cụ thể
như sau: Bồi thường, hỗ trợ về đất: 52.570.000 đồng; Bồi thường, hỗ trvề vật kiến
trúc: 466.954.945 đồng; Bồi thường, hỗ trợ về hoa màu trên đất: 265.675.600 đồng;
Bồi thường, hỗ trợ về mặt nước: 10.800.000 đồng; Hỗ trợ khác: 155.062.000
đồng.Hiện nay bà B vẫn chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, chưa bàn giao mặt bằng
cho UBND phường H.
Do không đồng ý với phương án bồi thường của UBND quận H (nay
phường H) xây dựng nên bà B đã khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- Hủy một phần Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của UBND
quận H, thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi
thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng nhà ga hàng hoá - Cảng hàng không Quốc
tế Cát Bi tại phường Thành (gọi tắt Quyết định 314) đối với việc đền bù, hỗ
trợ chuyển đổi nghề.
- Buộc UBND phường H, thành phố Hải Phòng phải thực hiện tính hỗ trợ
chuyển đổi nghề theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2024 Nghị định
88/2024/NĐ-CP: Tính hỗ trợ theo diện tích thu hồi là 1.502m
2
,
số tiền hỗ trợ chuyển
đổi nghề tính đúng đủ là 908.800.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, B bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà
án:
3
- Huỷ một phần Quyết định số 314, đối với diện tích thu hồi không thu hồi
toàn bộ 1.502m
2
,
chỉ thu hồi diện tích trong chỉ giới của dự án 1.283,4m
2
đối
với diện tích 218,6m
2
ngoài chỉ giới để bà B được giữ lại tiếp tục canh tác.
- Buộc Uỷ ban phường H thực hiện tính hỗ trợ chuyển đổi nghề theo đúng quy
định của Luật Đất đai năm 2024 Nghị định 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ tính
hỗ trợ theo diện tích thu hồi đất 1.283,4m
2
, số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề tính
đúng là: 834.210.000 đồng.
- Buộc UBND phường H tính lại và bổ sung các hạng mục vật kiến trúc gồm:
Bổ sung hạng mục cải tạo, tôn cao nền đất 70cm; Tính toán đầy đủ, chi tiết số tiền
đền đối với hạng mục kiến trúc: Sân, lối đi btgv, láng xm, kt=
(2,7*7,3+3,2*4,2+1,3*42)*0,15; Láng xm; Sân lát gạch block tự chèn, kt= 1,3*10;
Tường bao xgc 110 có bổ trụ, kt = 14,0*1,5+1,0*8; Tường rào dưới xgc 110 có bổ
trụ cao 0,7m, trên tôn mạ mầu sườn gỗ cao 1m, dài 21md.
- Buộc UBND phường H tính lại phương án bồi thường đối với hoa màu
cây tùng La hán. Số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với cây Tùng được áp dụng 100%,
đơn giá 100.000 đồng/cây x 810 cây = 81.000.000 đồng.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chng cứ và đối thoại
và tại phiên thôm nay, người khởi kiện đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
các yêu cầu cụ thể như sau:
- Huỷ một phần Quyết định 314 đối với diện tích thu hồi, không thu hồi toàn
bộ 1.502m
2
,
chỉ thu hồi diện tích trong chỉ giới của dán 1.283,4m
2
đối với
diện tích 218,6m
2
ngoài chỉ giới để bà B được giữ lại tiếp tục canh tác.
- Buộc UBND phường H tính lại và bổ sung các hạng mục vật kiến trúc gồm:
Bổ sung hạng mục cải tạo, tôn cao nền đất 70cm; Tính toán đầy đủ, chi tiết số tiền
đền đối với hạng mục kiến trúc: Sân, lối đi btgv, láng xm, kt=
(2,7*7,3+3,2*4,2+1,3*42)*0,15; Láng xm; Sân lát gạch block tự chèn, kt= 1,3*10;
Tường bao xgc 110 có bổ trụ, kt = 14,0*1,5+1,0*8; Tường rào dưới xgc 110 có bổ
trụ cao 0,7m, trên tôn mạ mầu sườn gỗ cao 1m, dài 21md.
- Buộc UBND phường H tính lại phương án bồi thường đối với hoa màu
cây tùng La hán. Số tiền đền đối với y Tùng được áp dụng 100%, đơn giá
100.000 đồng/cây x 810 cây = 81.000.000 đồng.
Tại phiên toà hôm nay, người khởi kiện yêu cầu Toà án những nội dung cụ
thể như sau:
- Huỷ một phần Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của UBND
quận H, thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi
thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng nhà ga hàng hoá Cảng hàng không Quốc
tế Cát Bi tại phường Thành Tô đối với việc đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
- Buộc UBND phường H nh lại phương án bồi thường liên quan đến việc hỗ
trợ chuyển đổi nghề nghiệp, yêu cầu tính đủ phương án hỗ trợ chuyển đổi nghề
1.283,4m
2
(đây là diện tích đất thu hồi trong chỉ giới thực hiện dự án) số tiền hỗ trợ
chuyển đổi nghề tính đúng là : 834.210.000 đồng.
4
Các căn cứ phía người khởi kiện đưa ra đó là căn cứ khoản 1 Điều 109; điểm
b khoản 1 Điều 176 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 22 Nghị định số 88/2024/NĐ-
CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ; khoản 1 Điều 13 Quyết định số 28/2024/QĐ-
UBND ngày 22/10/2024 của UBND thành phố Hải Phòng, xác định việc hỗ trợ
chuyển đổi nghề phải tính: Mức h trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc
làm được tính bằng 5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại, cùng vị trí trong bảng giá
đất do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành đối với toàn bộ diện tích thu hồi, diện
tích hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương theo quy
định tại Điều 176 Luật Đất đai năm 2024: không quá 02 ha cho mi loại đất đối với
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Việc UBND quận H chỉ tính 180m
2
hạn mức giao đất nông nghiệp
Đằng Lâm năm 1994 khi thực hiện Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính
phủ về giao đất nông nghiệp lâu dài cho người dân là không phù hợp. Quy định này
chỉ có giá trị tại thời điểm chia ruộng năm 1994 không có hiệu lực ở thời điểm hiện
tại. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại Văn bản trình bày ý kiến, trong quá trình giải quyết vụ án người bị kiện
là Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng trình bày:
Dự án xây dựng nhà ga hàng hoá - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi tại phường
Thành Tô, quận H, thành phố Hải Phòng được UBND thành phố Hải Phòng chấp
thuận chủ trương đầu tại Quyết định số 3067/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 về vic
chấp thuận chủ trương đầu đồng thời chấp thuận nhà đầu tư Dự án; Quyết định s
2127/QĐUBND ngày 21/7/2023 về việc chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu
đồng thời chấp thuận nhà đầu tư Dự án. Ngày 31/12/2024, UBND quận H có Thông
báo số 825/TB-UBND về việc Thông báo thu hồi đất để thực hiện Dự án tại phường
Thành Tô. Ngày 24/01/2025, UBND quận H ban hành Quyết định 314/QĐ-UBND.
Ngày 03/02/2025, UBND quận H ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND về việc
thu hồi đất để thực hiện Dự án, thu hồi 19.354,7m
2
đất nông nghiệp của Công ty
Nông nghiệp tại tổ dân phố số 7, phường Thành Tô, quận H (nay phường H),
thành phố Hải Phòng.
Trong quá trình thực hiện Dự án, UBND quận H đã thường xuyên tổ chức hội
nghị đối thoại, tiếp công dân và trả lời công khai các kiến nghị của công dân về quy
hoạch, mốc giới thu hồi đất thực hiện Dự án.
Hội đồng bồi thường bồi thường, hỗ trợ tái định cư quận H đã tiến hành tiến
hành kiểm đất đai, cây cối hoa màu, vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất đối
với các hộ dân, trong đó có bà Kiều Thị B, sau đó lập phương án bồi thường, hỗ trợ.
Tại Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của UBND quận H về việc phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của Công ty Cổ phần đầu
Phát triển nông nghiệp để thực hiện Dự án xây dựng Nhà ga hàng hóa Cảng hàng
không quốc tế t Bi tại phường Thành Tô, quận H và Quyết định số 376/QĐ-UBND
ngày 12/3/2025 về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi
đất của Công ty cổ phần đầu phát triển nông nghiệp để thực hiện Dự án xây
dựng Nhà ga hàng hóa Cảng hàng không quốc tế Cát Bi tại phường Thành Tô,
quận H, bà Kiều Thị B được bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền 990.873.545 đồng.
5
Đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, người bị kiện cho biết:
Xét về nguồn gốc diễn biến quá trình sử dụng đất: Nông trường Thành
(Nay là Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển nông nghiệp) được UBND thành phố
Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0051 ngày 22/12/1995 với
diện tích sử dụng là 583.995,0m
2
, trong đó có 393.092,0m
2
đất nông nghiệp.
Các hdân hiện nay đang sử dụng đất nông nghiệp nằm trong chỉ giới thu hồi
thực hiện dự án Xây dựng Nhà ga hàng hóa Cảng hàng không Quốc tế Cát Bi được
Công ty giao khoán đất bằng các Hợp đồng giao khoán, phụ lục Hợp đồng giao
khoán đất. Ngày 10/12/2016, Kiều Thị B Hợp đồng giao khoán đất để sản xuất
nông nghiệp số 08b/PLHĐ với Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp.
Diện tích đất giao khoán của B 1.283,4m
2
nằm trong chgiới thu hồi thực hiện
Dự án xây dựng Nhà ga hàng hóa - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 176 của Luật Đất đai năm 2024 về
hạn mức giao đất nông nghiệp; khoản 1 Điều 13 Quyết định số 28/2024/QĐ-UBND
ngày 22/1/2024 của UBND thành phố về mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề
tìm kiếm việc làm; Căn cứ Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về
vệc ban hành bản quy định vviệc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, nhân
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Căn cứ Quyết định số
03/QĐ-UB ngày 04/01/1994 của UBND thành phố Hải Phòng về hạn mức giao đất
nông nghiệp tại địa phương. Phường Thành được tách ra từ Đằng m, hạn
mức giao đất nông nghiệp của xã Đằng Lâm trước đây (nay là phường Thành Tô) là
180m
2
/nhân khẩu. Do đó UBND quận H phê duyệt phương án hỗ trợ chuyển đổi
nghề nghiệp khi thu hồi đất thực hiện dự án theo hạn mức giao đất nông nghiệp tại
địa phương là 180m
2
/nhân khẩu đúng quy định pháp luật các chính sách về bồi
thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề.
Do đó, người bị kiện đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
người khởi kiện.
Đối với yêu cầu của người khởi kiện về việc thiếu một số hạng mục, công
trình, vật kiến trúc trong phương án bồi thường, htrợ và đề nghkhông thu hồi diện
tích ngoài chgiới. Về yêu cầu này, UBND phường H stiến hành điều chỉnh Quyết
định thu hồi đất sau khi hoàn thiện các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời UBND phường H sẽ yêu cầu Ban Quản lý dự án khu vực H kiểm tra,
soát lập bổ sung các hạng mục còn thiếu điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ
theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết ván, Tòa án đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của
đại diện Công ty Cổ phần đầu phát triển nông nghiệp, Công ty xác nhận việc
giao khoán đất sản xuất nông nghiệp cho các nhân bằng các Hợp đồng giao
khoán, việc giao khoán là giao cho từng nhân chứ không phải giao khoán đất cho
hộ gia đình. Đồng thời, phía Công ty cho rằng đây là việc khởi kiện của nhân liên
quan đến việc hỗ trợ chuyển đổi nghề, Công ty không có yêu cầu gì trong vụ án nên
đề nghị Tòa án không đưa Công ty vào tham gia ttụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã tuân thủ đúng
quy định của pháp luật từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm nghán. Các
đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định
của Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Đối với yêu cầu khởi kiện: Căn cứ Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 04/01/1994
của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thì hạn mức giao đất nông nghiệp tại xã
Đằng Lâm giao cho các hộ gia đình, cá nhân để sản xuất nông nghiệp là 180m
2
/khẩu
được Đảng y, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Hợp tác đã triển khai họp
thống nhất. Năm 1996, Ủy ban nhân dân huyện An Hải cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất nông nghiệp đồng loạt cho các hộ gia đình được giao đất nông
nghiệp để sản xuất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho
các hộ gia đình được giao đất nông nghiệp để sản xuất tại địa phương 180m
2
/khẩu
được xã Đằng Lâm lập Sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để quản lý. Hiện
chưa văn bản quy phạm pháp luật nào khác thay thế Quyết định số 03/QĐ-UB
ngày 04/01/1994 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. vậy, quyết định trên
vẫn còn giá trị và hạn mức giao đất nông nghiệp tại phường Thành Tô được tách ra
từ phường Đằng Lâm là 180m
2
/khẩu.
Theo biên bản làm việc ngày 14/8/2025 với Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát
triển Nông nghiệp: Công ty căn cứ theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 về việc
giao khoán đất sản xuất nông nghiệp, đây việc giao khoán cho từng nhân chứ
không phải giao khoán đất cho hộ gia đình. Do đó, Ủy ban nhân dân quận H ban
hành Quyết định số 314 trong đó áp dụng việc tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề
tìm kiếm việc làm cho 01 chủ thể đủ điều kiện đứng tên hợp đồng đúng quy
định.
Như vậy, UBND quận H (nay phường H) tính hỗ trợ chuyển đổi nghề
tìm kiếm việc làm đối với Kiều Thị B với diện tích 180m
2
là đúng quy định của
pháp luật. Việc bà B đề nghị UBND phường H tính hỗ trợ chuyển đổi nghề và m
kiếm việc làm theo toàn bộ diện tích thu hồi trong chỉ giới là 1.283,4m
2
với số tiền
834.210.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều
30; Điều 31; Điều 29; 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 79, 83, 87 Luật Đất đai
2024; khoản 3 Điều 22 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính
phủ; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Kiều Thị B về việc yêu cầu hủy
một phần Quyết định số 314 đối với việc đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và
tính hỗ trợ theo diện tích thu hồi là 1.283,4m
2
với số tiền là 834.210.000 đồng.
Về án phí: Bà Kiều Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án khiếu kiện
quyết định hành chính trong lĩnh vực quản đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án theo quy định tại Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính. Người bị kiện là
Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 31 Luật tố tụng
hành chính, Điều 3 Nghị Quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân
khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực tvụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Hải Phòng.
[2] Về quyền khởi kiện: Trong Quyết định 314 về phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất có danh sách đối tượng áp dụng trong đó có
Kiều Thị B. vậy, B quyền yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần quyết
định trên.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Đơn khởi kiện của người khởi kiện gửi đến Tòa
ngày 26/5/2025 khởi kiện Quyết định s314 ngày 24/01/2025 của UBND quận H.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính, đơn khởi kiện
của bà B là còn thời hiệu.
[4] Về tư cách tham gia tố tụng: Quyết định bị khiếu kiện do UBND quận H,
thành phố Hải Phòng ban hành. Căn cứ Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định v
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp
trong lĩnh vực đất đai thì kể từ ngày 01/7/2025, UBND phường H kế thừa quyền và
nghĩa vụ của UBND quận H trong việc Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Do đó việc xác định cách người bị kiện
là UBND phường H là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Việc ký kết hợp đồng giao khoán là việc ký kết giữa cá nhân người khởi
kiện với Công ty. Căn cứ theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 109 luật Đất đai
2024 hướng dẫn tại Nghđịnh số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 quy định về
bồi thường, hỗ trợ, tái định khi nhà nước thu hồi đất thì chngười được giao
khoán đất và trực tiếp sản xuất nông nghiệp mới được hưởng tiền hỗ trợ chuyển đổi
nghề theo quy định. Đồng thời Công ty đề nghị Tòa án không đưa Công ty vào tham
gia tố tụng với tư cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong ván này. Do
đó, Tòa án không đưa các thành viên trong hộ Kiều Thị B Công ty Cổ phần
Đầu Phát triển nông nghiệp tham gia ttụng với tư cách người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[6] Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện UBND
phường H, thành phố Hải Phòng vắng mặt đơn xin xét xử vắng mặt. Người
khởi kiện vắng mặt nH1 mặt của người đại diện theo ủy quyền của người khởi
kiện. Do vậy HĐXX căn cứ vào Điều 157, Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính
tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện, người khởi kiện.
[7] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện rút một
phần yêu cầu khởi kiện đối với các nội dung sau:
8
- Huỷ một phần Quyết định 314, đối với diện tích thu hồi, yêu cầu chỉ thu hồi
diện tích trong chỉ giới 1.283,4m
2
, không thu hồi toàn bộ 1.502m
2
, diện tích
218,6m
2
ngoài chỉ giới để người khởi kiện được giữ lại tiếp tục canh tác.
- Buộc UBND phường H tính lại và bổ sung các hạng mục vật kiến trúc: Bổ
sung hạng mục cải tạo, tôn cao nền đất 70cm; Tính toán đầy đủ, chi tiết số tiền đền
đối với hạng mục kiến trúc: Sân, lối đi btgv, láng xm, kt=
(2,7*7,3+3,2*4,2+1,3*42)*0,15; Láng xm; Sân lát gạch block tự chèn, kt= 1,3*10;
Tường bao xgc 110 có bổ trụ, kt = 14,0*1,5+1,0*8; Tường rào dưới xgc 110 có bổ
trụ cao 0,7m, trên tôn mạ mầu sườn gỗ cao 1m, dài 21md.
- Buộc UBND phường H tính lại phương án bồi thường đối với hoa màu
cây tùng La hán. Số tiền đền bù đối với cây Tùng được áp dụng là 100%, đơn giá
100.000 đồng/cây x 810 cây = 81.000.000 đồng.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét
xử đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu nêu trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện:
[8] Ngày 03/02/2025, UBND quận H ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND
về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng nhà ga hàng hóa – cảng hàng không
quốc tế Cát Bi tại phường Thành Tô, quận H (sau đây gọi Quyết định 330) với nội
dung thu hồi diện ch 19.354,7m
2
đất nông nghiệp của Công ty (nằm trong diện tích
đất đã được UBND thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận cho Nông trường
Thành Tô nay là Công ty Nông nghiệp vào ngày 22/12/1995) để bồi thường, hỗ trợ
giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án. Danh sách diện tích đất thu hồi của các hợp
đồng giao khoán đất đsản xuất nông nghiệp của Công ty Kiều Thị B. Như
vậy, việc thu hồi đất để thực hiện Dự án phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều
62 của Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 79 Luật đất đai năm 2024. Về thẩm
quyền, Ủy ban nhân dân quận H ban hành quyết định thu hồi đất như trên đúng
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai năm 2024.
[9] Ngày 24/01/2025, Ủy ban nhân dân quận H ban hành Quyết định số
314/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển nông nghiệp để thực hiện Dự án xây
dựng nhà ga hàng hóa Cảng hàng không quốc tế Cát Bi tại phường Thành Tô, quận
H (trong đó có phương án của bà B) đúng quy định tại Điều 87 của Luật Đất đai
năm 2024.
[10] B người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đang sdụng đất nông
nghiệp do nhận khoán của Công ty nên thuộc đối tượng được hỗ trợ chuyển đổi nghề
và tìm kiếm việc làm khi thu hồi đất theo quy định tại c khoản 1 Điều 109 của Luật
Đất đai. Theo Phương án bồi thường, htrợ đã được phê duyệt, ngoài việc bồi
thường vật kiến trúc, hoa màu trên đất, B còn được hỗ trợ về chuyển đổi nghề,
tìm kiếm việc làm với hạn mức 180m
2
x 130.000 đồng/m
2
x hệ số 5,00 =
117.000.000 đồng. B đồng ý với giá đất, cách tính hỗ trợ. Tuy nhiên, B cho
rằng việc UBND quận H thu hồi của 1.283,4 m
2
trong chỉ giới thì phải được
áp dụng toàn bộ số đất bị thu hồi để tính hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
9
chứ không phải là theo hạn mức 180m
2
/khẩu như phương án bồi thường, hỗ trợ của
UBND quận H.
[11] Do không đồng ý với hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
180m
2
/khẩu nên Công ty và các cá nhân nhận giao khoán đất nông nghiệp của Công
ty kiến nghị về công tác bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, cụ thể: Kiến nghị khoản
hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm phải tính áp dụng cho 100%
diện tích đất nông nghiệp nhận khoán bị thu hồi. Sau khi kiểm tra, UBND quận H
đã Văn bản số 1125/UBND-TTPTQĐ&QLDA trả lời kiến nghị nội dung: Đối
với hạn mức giao đất nông nghiệp tại thành phố Hải Phòng, cụ thể phường Thành
Tô được tách ra từ phường Đằng Lâm (trước đây là xã Đằng Lâm) là 180m
2
/khẩu.
Nên kiến nghị của Công ty Nông nghiệp và các hộ nhận giao khoán đất là không có
cơ sở xem xét giải quyết”.
[12] Về hạn mức giao đất nông nghiệp để nh bồi thường, hỗ trợ theo quy
định tại Điều 109 Luật Đất đai toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi nH1
không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương theo quy định tại Điều
176 Luật Đất đai. Tại địa bàn thành phố Hải Phòng và cụ thể tại xã Đằng Lâm (nay
phường H) về hạn mức giao đất nông nghiệp được thực hiện theo Nghị định số
64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ về việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định
vào mục đích sản xuất Nông nghiệp và Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 04/01/1994
của UBND thành phố Hải Phòng (sau đây gọi tắt Quyết định 03). Hiện chưa
văn bản quy phạm pháp luật nào khác thay thế Quyết định số 03/QĐ-UB ngày
04/01/1994 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Vì vậy, Quyết định trên vẫn
còn giá trị.
[13] Tại Điều 5 Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 04/01/1994 của UBND thành
phố Hải Phòng (sau đây gọi tắt là Quyết định 03) quy định: Hạn mức giao đất nông
nghiệp của mỗi hộ gia đình, cá nhân ở từng xã, phường, thị trấn được quy định n
sau: 1. Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: a- Căn cứ vào tổng quỹ đất
nông nghiệp của từng địa phương. Sau khi đã để lại 5% làm quỹ đất công ích do
UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý còn lại giao cho hộ gia đình, các nhân
theo quy định ở các điều 6-7-8 của quy định này”. Như vậy, việc quy định hạn mức
đối với từng hộ gia đình, nhân do mỗi địa phương quy định trên sở quỹ đất của
địa phương mình.
[14] Thực hiện Quyết định 03/QĐ-UB ngày 04/01/1994 của UBND thành phố
Hải Phòng; Đảng ủy, HĐND, UBND HTX Đằng Lâm đã triển khai họp
thống nhất hạn mức giao đất nông nghiệp 180m
2
/khẩu. Đến năm 1996, UBND
huyện An Hải đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đồng loại
cho các hộ gia đình, cá nhân để sản xuất nông nghiệp với hạn mức giao là
180m
2
/khẩu. Việc này đã được UBND Đằng Lâm (sau này tách phường Thành
Tô) lập Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp để quản lý, đều thể
hiện hạn mức giao đất nông nghiệp cho mỗi cá nhân là 180m
2
.
[15] Theo lời khai của những người dân sống tại địa phương được giao đất đ
sản xuất nông nghiệp đều xác nhận: Khoảng năm 1993, UBND Đằng Lâm giao
đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp là 180m
2
/khẩu.
10
Các hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất này
đã bị Nhà nước thu hồi khi thực hiện Dự án xây dựng sân bay Cát Bi. Hạn mức này
phù hợp với thực tế quỹ đất nông nghiệp của Đằng Lâm (sau phường Thành
Tô, nay là phường H) không quá 02 ha được quy định tại Điều 176 luật Đất đai
2024.
[16] Như vậy, có căn cứ xác định hạn mức giao đất nông nghiệp tại xã Đằng
Lâm thời điểm từ năm 1994 trở về đây 180m
2
/nhân khẩu. Việc UBND quận H
(nay phường H) căn cứ vào hạn mức này để tính hỗ trợ chuyển đổi nghề tìm
kiếm việc làm đối với B là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử
thấy rằng, yêu cầu khởi kiện của bà B về việc hủy một phần Quyết định 314 buộc
UBND phường H tính hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo 100% diện
tích thu hồi trong chỉ giới là 1.283,4 m
2
với số tiền là 834.210.000 đồng là không
cơ sở chấp nhận.
[17] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên người khởi
kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điều 30, 31, 116, 143, 193, 194, 206 348 của Luật Tố tụng
hành chính;
- Căn cứ vào các điều 78, 79, 83, 87, 91, khoản 1 Điều 92 Luật Đất đai năm
2024;
- Căn cứ Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phQuy
định về Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị B về việc:
- Huỷ một phần Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của UBND
quận H, thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi
thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng nhà ga hàng hoá - Cảng hàng không Quốc
tế Cát Bi tại phường Thành Tô, đối với diện tích đất thu hồi, không thu hồi toàn bộ
1.502m
2
,
chỉ thu hồi diện tích trong chỉ giới là 1.283,4m
2
, đối với diện tích 218,6m
2
ngoài chỉ giới để bà B được giữ lại tiếp tục canh tác;
- Buộc UBND phường H tính lại và bổ sung các hạng mục vật kiến trúc gồm:
Bổ sung hạng mục cải tạo, tôn cao nền đất 70cm; Tính toán đầy đủ, chi tiết số tiền
đền đối với hạng mục kiến trúc gồm: Sân, lối đi btgv, láng xm, kt=
(2,7*7,3+3,2*4,2+1,3*42)*0,15; Láng xm; Sân lát gạch block tự chèn, kt= 1,3*10;
11
Tường bao xgc 110 có bổ trụ, kt = 14,0*1,5+1,0*8; Tường rào dưới xgc 110 có bổ
trụ cao 0,7m, trên tôn mạ mầu sườn gỗ cao 1m, dài 21md;
- Buộc UBND phường H tính lại phương án bồi thường đối với hoa màu
cây tùng La hán. Số tiền đền đối với cây Tùng La hán được áp dụng 100%,
đơn giá 100.000 đồng/cây x 810 cây = 81.000.000 đồng.
2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị B về việc:
- Hủy một phần Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của UBND
quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất để thực hiện
Dự án xây dựng nhà ga hàng hóa - Cảng hàng không quốc tế Cát Bi tại phường
Thành Tô đối với việc đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp;
- Buộc Ủy ban nhân dân phường H phải thực hiện tính hỗ trợ chuyển đổi nghề
theo đúng quy định của Luật Đất đai 2024 và Nghị định 88/2024/NĐ-CP của Chính
phủ. Theo đó, tính hỗ trợ chuyển đổi nghề theo diện tích thu hồi của B
1283,4m
2
, số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề là: 834.210.000 đồng.
2. Về án phí thẩm: Bà Kiều Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng
án phí hành chính sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000548 ngày 04/8/2025 tại Thi hành án dân sự
thành phố Hải Phòng. Bà B đã nộp đủ tiền án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị kiện quyền kháng o bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND TP. Hải Phòng;
- VKSNDTP. Hải Phòng;
- VKSND khu vực 4 – Hải Phòng;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4- Hải
Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Như Quỳnh
12
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Như Quỳnh
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 05/2025/HC-ST Bản án số 05/2025/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2025/HC-ST Bản án số 05/2025/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất