Bản án số 05/2020/KDTM-ST ngày 15/04/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2020/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2020/KDTM-ST ngày 15/04/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 2 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 05/2020/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/04/2020
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUN 2
THÀNH PH H CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 05/2020/KDTM-ST
Ngày: 15-04-2020
V/v: Tranh chấp về hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Quốc Hưng
2. Ông Nguyễn Cửu Long.
- Thư phiên tòa: Thị Dung Thư Tòa án nhân dân Quận 2,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kim sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Bà Đoàn
Thị Thảo Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành ph
Hồ Chí Minh đã xét xử thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ
số: 02/2019/TLST-KDTM ngày 07 tháng 01 năm 2019, về việc “Tranh chấp về
hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
11/2020/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 02 năm 2020 Quyết định hoãn
phiên tòa số: 20/2020/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 3 năm 2020 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xây dựng và kinh doanh VT.
Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Cao Thị N, sinh năm:
1995; địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đại
diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 55/GUQ-HĐQT ngày 14/12/2018)
Bị đơn: Công ty Cổ phần Kỹ thuật nền móng và xây dựng PN.
Trụ sở: Đường A1, Phường B1, Quận C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Cao Thị Lê N vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), bị đơn vắng mặt
không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai các biên bản trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn Công ty Cphần Xây dng kinh doanh VT Cao Thị
Lê N đại diện trình bày:
Ngày 13/02/2012, nguyên đơn Công ty Cổ phần Xây dựng kinh doanh
VT (sau đây gọi tt là Công ty C & T) bị đơn Công ty Cổ phần Kỹ thuật nền
móng và xây dựng PN (sau đây gọi tắt là Công ty PN) ký kết Hợp dồng mua bán
số: 57-12/HĐMB-C&T-P2 về việc cung cấp vật xây dựng. Thực hiện Hợp
đồng nêu trên, Công ty C & T đã cung cấp cho Công ty PN các loại thép xây
dựng theo thỏa thuận. Tuy nhn, sau đó Công ty PN không thực hiện đúng cam
kết về việc thanh toán tiền cho Công ty C & T.
Ngày 02/02/2015, Công ty C & T Công ty PN đã vào Biên bản xác
nhận công nợ với nội dung xác nhận Công ty PN còn nợ Công ty C & T số tiền
là: 286.983.327 đồng.
Từ sau ngày 02/02/2015 đến nay, Công ty PN chỉ thanh toán cho Công ty
C & T số tiền 50.000.000 đồng, cụ thể:
- Ngày 14/02/2015 trả: 5.000.000 đồng
- Ngày 18/5/2015 trả: 15.000.000 đồng.
- Ngày 13/6/2016 trả: 10.000.000 đồng.
- Ngày 06/12/2016 trả: 20.000.000 đồng.
Sau đó, Công ty C & T đã nhiều lần yêu cầu thanh toán gửi các
Biên bản đối chiếu công nợ nhưng phía Công ty PN không xác nhận cũng
như không thanh toán tiền nợ cho Công ty C & T.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại phía Công ty PN còn nợ Công ty C &
T số tiền là: 236.983.327 đồng. Công ty C & T yêu cầu phía Công ty PN phải
thanh toán một lần toàn bộ số tiền 236.983.327 đồng nêu trên.
Phía bị đơn Công ty PN đại diện theo pháp luật của ng ty PN là ông
Nguyễn Anh T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng về việc giải quyết ván nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa phát biểu ý
kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ vụ án cho đến tại phiên
tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án phía
nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Tuy nhiên, ngày 07/01/2019 Tòa án thụ vụ án, đến ngày 24/02/2020
Tòa án mới ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm vthời hạn
chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng n sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Hợp đồng mua bán số: 57-12/HĐMB-
C&T-P2 về việc cung cấp vật xây dng được kết sự t nguyện thỏa
thuận giữa các bên, có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định của pháp
3
luật nên phát sinh hiệu lực pháp luật, ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Phía bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng, do đó căn cứ
khoản 1 Điều 440 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị
đơn trả số tiền 236.983.327 đồng là có cơ sở để chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản tiền do bị đơn
vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa, cả nguyên đơn bị đơn đều tổ chức
đăng kinh doanh và kết Hợp đồng mục đích lợi nhuận, do đó quan
hệ tranh chấp trong vụ án này “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa,
quy đnh tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công ty
PNtrụ sở tại Quận 2, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời hiệu khởi kiện: Phía nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét
về thời hiệu khỏi kiện, phía bị đơn vắng mặt không có lý do, đồng thời không có
văn bản yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, Tòa án không
xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn
Công ty PN người đi diện theo pháp luật của Công ty PN ông Nguyễn
Anh T, cụ thể: Tòa án triệu tập Công ty PN ông Nguyễn Anh T mặt tại
Phòng số 06, Lầu 01 Tòa án nhân dân Quận 2 vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày
27/8/2019 09 giờ 00 ngày 16/10/2019 để cung cấp tài liệu, chứng cứ trình
bày lời khai; Tòa án triệu tập Công ty PN ông Nguyễn Anh T mặt tại
Phòng số 06, Lầu 01 Tòa án nhân dân Quận 2 vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày
03/02/2020 để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ. Tòa án sẽ không tiến hành hòa giải vụ án thuộc trường hợp không tiến
hành hòa giải được do phía nguyên đơn đơn đề nghị Tòa án không tiến hành
hòa giải; Tòa án triệu tập Công ty PN ông Nguyễn Anh T tham gia phiên tòa
sơ thẩm xét xử lần 01 vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 16/3/2020, tham gia phiên tòa
sơ thẩm xét xử lần 2 vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 15/4/2020.
Tuy nhiên, bị đơn Công ty PN ông Nguyễn Anh T vẫn vắng mặt trong
quá trình giải quyết vụ án tại các phiên tòa sơ thẩm không do. Căn
cứ điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành t xử vắng mặt bị đơn Công ty PN ông Nguyễn Anh
T.
4
Đối với việc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Cao Thị N
đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của N không ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mt bà Lê N.
Xét thấy đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Cao Thị N
đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Công ty PN đi diện theo pháp luật ông
Nguyễn Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ
khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự m 2015, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa
lời trình bày của phía nguyên đơn, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 13/02/2012, nguyên đơn Công ty C & T bị đơn Công ty PN
kết Hợp dồng mua bán số: 57-12/HĐMB-C&T-P2 về việc cung cấp vật xây
dựng (sau đây gọi tt là Hợp dồng). Thực hiện Hợp đồng nêu trên, Công ty C &
T đã cung cấp cho Công ty PN các loại thép xây dựng theo thỏa thuận. Tuy
nhiên, sau đó Công ty PN không thực hiện đúng cam kết về việc thanh toán tiền
cho Công ty C & T.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng kinh doanh của nguyên đơn, bđơn thì
các bên đều các tổ chức đăng kinh doanh. Xét Hợp đồng nêu trên giữa
các bên tự nguyện, nội dung hình thức đúng với các quy định của pháp
luật, việc các bên ký kết Hợp đồng là hợp pháp nên có giá trị ràng buộc các bên
về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.
Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 02/02/2015 đã giữa Công ty
C & T Công ty PN đủ sở để xác định tính đến ngày 02/02/2015 thì
Công ty PN còn nợ Công ty C & T số tiền là: 286.983.327 đồng. Từ sau ngày
02/02/2015 đến ngày 06/12/2016, Công ty PN chỉ thanh toán cho Công ty C & T
số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại là: 236.983.327 đồng thì Công ty PN
không thanh toán Công ty C & T đã nhiều lần yêu cầu thanh toán gửi các
Biên bản đối chiếu công nợ, do ng ty PN đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán
tiền theo quy định tại Điều 50 Luật Thương mại năm 2005.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại phía Công ty PN còn nợ Công ty C &
T số tiền là: 236.983.327 đồng. Công ty C & T yêu cầu phía Công ty PN phải
thanh toán một lần toàn bộ số tiền 236.983.327 đồng nêu trên là có cơ sở để xem
xét chấp nhận và phù hợp với các quy định của pháp luật. Ghi nhận việc nguyên
đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi.
Xét đề nghị của đi diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tại phiên tòa
hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận tn bộ yêu cầu
của nguyên đơn Công ty C & T, buộc bị đơn Công ty PN phải trả cho Công ty C
5
& T số tiền là: 236.983.327 đồng ngay sau khi bản án của Tòa án hiệu lực
pháp luật.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo:
Về án phí thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ
nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu toàn bộ
án phí. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho
nguyên đơn.
Về quyền kháng cáo: Các đương s quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt,
thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điu 271; Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 24, 25, 50 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc bđơn Công ty Cổ phần Kỹ thuật nền móng và xây dng PN phải
thanh toán cho Công ty Cổ phần Xây dựng và kinh doanh VT số tiền là:
236.983.327 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn,
ba trăm hai mươi bảy đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tt cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
2. Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại thẩm 11.849.166 đồng (Mười một
triệu, tám trăm bốn mươi chín nghìn, một trăm sáu mươi sáu đồng) ng ty Cổ
6
phần Kỹ thuật nền móng xây dựng PN phải chịu. Công ty Cổ phần Kỹ thuật
nền móng và xây dựng PN chưa nộp án phí.
Hoàn lại cho Công ty Cổ phần Xây dựng kinh doanh VT stiền tạm
ứng án phí đã nộp là: 5.924.583 đồng (Năm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn,
năm trăm tám mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
AA/2017/0015955 do Chi cc Thi hành án dân sự Quận 2 lập ngày 07/01/2019.
3. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, nời phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hin theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần Xây dựng kinh doanh VT, Công ty Cổ phần Kỹ thuật
nền móng xây dựng PN quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bn án được cấp, tống đạt, niêm yết,
thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 2;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ – VP.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trung Thực
Tải về
Bản án số 05/2020/KDTM-ST Bản án số 05/2020/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất