Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp hôn nhân gia đình
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 04/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/04/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TềA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Phan Thị Nhung
Thư phiên tòa: Đỗ Thị Hiền Thẩm tra viên a án nhân dân thành
phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên tòa:
Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân n thành phố Phúc
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2020/TLST- HNGĐ ngày
08 tháng 10 m 2020 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình”, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 11/3/2021 quyết
định hoãn phiên a số 02/2021/ QĐXXST - HNGĐ ngày 30/3/2021 giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1982 (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Cùng trú tại: Thôn X, xã C, Tp. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 9 m 2021, bản tự khai quá
trình làm việc cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T trình bày:
Chị anh Nguyễn Trung H đăng kết hôn từ ngày 28/01/2003 tại UBND thị
trấn H (cũ) nay phường H, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi
cưới chị anh H tự do m hiểu, cưới đăng kết hôn. Cưới xong vợ
chồng thuê nhà trọ ở đến năm 2011 thì vợ chồng chung sống ổn định tại Thôn X,
C, thành phPhúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. nh cảm vợ chồng đầm m hạnh
phúc được thời gian đầu, sau đó vợ chồng chung sống không được hòa thuận, anh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 04/2021/HNGĐ- ST
Ngày 15-4-2021
“V/v: tranh chấp Hôn nhân gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
H thường xuyên rượu chè về nhà chửi bới vợ con, chị khuyên bảo nhiều lần
nhưng anh H không cải thiện. Đến tháng 9/2020 anh H đi uống rượu về tiếp tục
chửi bới vợ con ng chiếc chày bằng kim loại đánh vào đầu con trai cháu
Nguyễn Thành V, sinh ngày 16/8/2004, khiến cháu V phải khâu 06 mũi nằm viện
điều trị một tuần, ảnh hưởng lớn đến tâm của các con chị. Kể từ khi vchồng
ly thân, anh H không gặp chđể nói chuyện hàn gắn tình cảm, không thăm nom
các con nhiều lần gọi điện đe dọa chị. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng
không còn chị không thể tiếp tục chung sống vợ chồng cùng anh H nên đề nghị
Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng 02 con chung là cháu Nguyễn
Thành V, sinh ngày 16/8/2004 Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 27/5/2008 hiện
với chị. Ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, chị không
yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị làm ng buôn bán hàng
tạp hóa tại chợ thu nhập khoảng 12.000.000đồng/tháng, bố mẹ đẻ chị nhà cửa
đàng hoàng, tạo mọi điều kiện về (chỗ ở) nơi ăn chốn ở cho mẹ con chị.
Về quan hệ tài sản: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Nguyễn Trung H bày: Quá
trình chung sống vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày
không đúng. Khoảng một m nay anh thường xuyên nhà, do công việc
dịch bệnh nên tôi không thu nhập. vậy thỉnh thoảng rượu chè vnhà
nói to tiếng với vợ con. Ngày 18 tháng 9 m 2020 do anh uống rượu về cãi
nhau với chị T, cháu V vào can ngăn du đẩy anh ra, do rượu trong người
nên anh cầm chiếc chày đánh một cái (vào đầu cháu V) nên cháu phải đi viện
điều trị. Nay anh thấy vẫn còn tình cảm với chị T, mong chị T và Tòa án hòa giải
để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Bản thân anh cũng nhận thấy mình lỗi với vợ
con, thường xuyên rượu chè về nhà chửi bới vợ con, nhưng vợ con anh hứa sẽ
sửa đổi bản thân chăm lo tốt hơn cho vợ con. Trong trường hợp chị T kiên quyết
không đoàn tụ vợ chồng muốn ly hôn thì anh nhất tly hôn với chT nhưng
phải chờ cho c cháu vào đại học thì vợ chồng mới ly hôn còn vợ chồng vẫn
sống ly thân như hiện nay.
Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn
Thành V, sinh ngày 16/8/2004 Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 27/5/2008 hiện
với chị T. Trong trường hợp ly hôn anh muốn trực tiếp nuôi cả hai cháu nếu
không được thì anh nuôi cháu nào cũng được, anh không yêu cầu chị T phải cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa từ khi thụ vụ án đến thời điểm t xử đã thực hiện các nhiệm vụ,
3
quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp nh pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70
Điều 71 của Bluật tố tụng dân sự. Bị đơn đã chấp hành đúng quy định về
mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, nhưng tham gia không đầy đủ các phiên họp
kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Về nội dung ván: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đnghị
Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, khoản 1, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, Xử:
1. Cho chị Lê Thị Hồng T được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành V, sinh ngày 16/8/2004
Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 27/5/2008 cho chị Thị Hồng T trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh H
có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 20 tháng 9 năm 2020 chị
Thị Hồng T đơn khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Trung H, sinh m 1982;
Địa chỉ trú: Thôn X, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nên a án
nhân dân thành phố Phúc Yên thụ giải quyết đúng thẩm quyền theo quy
định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tống
tụng dân sự;
[2] . Về tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đquyền nghĩa vụ của
mình, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
[3]. Về nội dung ván, đây vụ án Hôn nhân gia đình về ly hôn theo
quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét đơn xin ly hôn của chị Thị Hồng T với anh Nguyễn Trung H. Hội
đồng xét xử thấy: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng
kết hôn ngày 28/01/2003 tại UBND thị trấn H (cũ) nay phường H, thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đâycuộc hôn nhân hợp pháp.
Trong vụ án này chị Thị Hồng T anh Nguyễn Trung H đều xác định
vợ chồng mâu thuân từ lâu, đỉnh điểm là ngày 18 tháng 09 năm 2020 do anh H có
uống rượu say về chửi mắng vợ con, dùng 01 chiếc chày đánh vào đầu con trai
cháu Nguyễn Thành V, sinh ngày 16/8/2004, làm cháu V phải đi viện điều trị. Vợ
chồng va chạm cãi vã, chị T đã đưa hai con vnhà bố mđẻ sinh sống từ đó
4
cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau. Chị Thị Hồng T xin ly hôn, anh
Nguyễn Trung H không nhất trí ly hôn chị T. Trong trường hợp chị T kiên quyết
không đoàn tụ vợ chồng mà muốn ly hôn thì anh H nhất trí ly hôn với chị T
nhưng phải chờ cho các cháu vào đại học thì vợ chồng mới ly hôn còn vợ chồng
vẫn sống ly thân như hiện nay. Tòa án Thông báo cho anh H nhiều lần đến để hòa
giải, nhưng anh H không hợp tác không đến Tòa án làm việc. Từ đó cho thấy anh
H thực sự không quan tâm đến tâm tư tình cảm của chị T, tình cảm vợ chồng giữa
anh chị đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân
không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận cho chị
Thị Hồng T được ly n anh Nguyễn Trung H phợp với quy định của
pháp luật.
Về con chung: Chị T anh H xác nhận vchồng 02 con chung
cháu Nguyễn Thành V, sinh ngày 16/8/2004 Nguyễn Thanh T1, sinh ngày
27/5/2008 hiện với chT. Từ khi vợ chồng sống ly thân từ tháng 09/2020 cho
đến nay, hai cháu vẫn sinh sống cùng chị T tại nhà bố mẹ đẻ chị và chị T cũng có
thu nhập ổn định khoảng 12.000.000đồng/tháng. Nguyện vọng của cháu V
cháu T1 đều muốn với chị T. Mặt khác, ngày 15/10/2020 anh H bị Chủ tịch
UBND C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính về hành vi
bạo lực gia đình (đánh cháu V thương tích phải điều trị tại bệnh viện). vậy, ly
hôn cần tiếp tục giao cháu V cháu T1 cho chị T được trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị không yêu cầu anh H cấp ỡng nuôi con
là phù hợp cần chấp nhận.
Về quan hệ tài sản: Các đương sự không đề nghị, nên giải quyết bằng một
vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.
[4]. Về án phí thẩm: Chị Thị Hồng T phải nộp theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82
Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử
1. Cho chị Lê Thị Hồng T được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành V, sinh ngày 16/8/2004
Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 27/5/2008 (hiện ở với chị T) cho chị Lê Thị Hồng T
trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Trung H không phải cấp
dưỡng nuôi con chung cùng chị T; anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con
5
chung không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có đơn
đề nghị.
4. Về án phí sơ thẩm:
Chị Lê Thị Hồng T phải nộp 300.000đ tiền án phí thẩm, nhưng được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai số: AA/2017/0008716 ngày 05 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Phúc Yên; chị T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình
thẩm.
Nguyên đơn mặt quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát thành phố Phúc Yê
n;
- Thi hành án thành phố Phúc Yên;
- UBND phường H;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ, VP;
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phiên - Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Văn Bích
Tải về
Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất