Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 08/09/2025 của TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 08/09/2025 của TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Mô (TAND tỉnh Ninh Bình)
Số hiệu: 01/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị L yêu cầu xác nhận cha cho con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – NINH BÌNH
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08/9/2025
“V/v: xác nhận cha cho con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Tạ Thị Thế
ông Phạm Văn Toan
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Hải Hà - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình tham gia phiên
tòa: ông Đặng Xuân Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 08/9/2025 tại trụ sở Tán nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình xét xử
thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 50/2025/TLST-HNGĐ,
ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa
án nhan dân khu vực 2 - Ninh Bình) về việc “Xác nhận cha cho con”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2025 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 18/8/2025, giữa:
- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn V, Y,
huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) “có mặt”.
- Bị đơn: anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, xã Y, huyện Y,
tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) “có mặt”.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Văn T, sinh năm 1984;
địa chỉ: xóm A, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình (nay là: xóm A, L, tỉnh Ninh
Bình) “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2025, bản tự khai, các tài liệu khác
trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:
Chị kết n với anh Lê Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: xóm A, xã Y, huyện
K, tỉnh Ninh Bình (nay là: xóm A, xã L, tỉnh Ninh Bình) vào năm 2006 trên cơ sở
tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện K, tỉnh Ninh
Bình anh chị có 02 con chung tên Lê Huyền T1, sinh ngày 13/7/2007 và cháu Lê
Hoàng P, sinh ngày 31/8/2011. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2017 t
phát sinh mâu thuẫn nên chị anh T đã sống ly thân nhau từ năm 2017. Trong
thời gian sống ly thân nhưng chưa ly hôn với anh T, chị quan hệ tình cảm
đã thai với anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; nơi trú: thôn V, Y, huyện
Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) ngày 23/10/2020
chị L sinh được 01 cháu gái, sau khi sinh chị dự định đặt tên cháu là Đinh Hoàng
Diệu A (trong Giấy chứng sinh chưa đặt tên con dự kiến đặt).
Năm 2023, chị L và anh T ly hôn, quá trình giải quyết tại Tòa án chị L giấu
không cho anh T và Tòa án biết chị đã con riêng với người khác được sinh ra
trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L anh T. Do đó, tại Quyết định công nhận
thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương sự s74/2023/QĐST-HN
ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã quyết
định công nhận chị anh T ly hôn, về con chung, xác định anh chị 02 con
chung cháu T1 cháu P, hai bên thống nhất giao cả 02 con cho chung chị L
nuôi dưỡng và anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng 01 lần cho chị L.
Sau khi ly hôn, chị L anh B vẫn thường xuyên qua lại với nhau ng
chăm sóc con chung của anh chị, nhưng hai bên chưa đăng kết hôn chị cũng
không làm thủ tục khai sinh được cho cháu.
Ngày 16/6/2022, anh B đnghị Công ty TNHH D; địa chỉ: số C T, Y,
Cầu G, thành phố Nội xét nghiệm gen (ADN) của anh B gen (ADN) của
con do chị sinh ra ngày 23/10/2020 dự định đặt tên Đinh Hoàng Diệu A theo
Giấy chứng sinh số 08; quyển số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện
Y, tỉnh Ninh Bình, kết quả xét nghiệm ADN kết luận anh B quan hệ huyết
thống cha con với con do chị sinh ra ngày 23/10/2020.
Ngày 09/7/2025 chL có đơn yêu cầu Tòa án ra Quyết định tng cầu giám
định gen (ADN) của anh B gen (ADN) của con do chị sinh ra ngày 23/10/2020
theo Giấy chứng sinh s08; quyển số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế
huyện Y, tỉnh Ninh Bình tại Phòng khám C. Ngày 17/7/2025, Phòng khám Đ số
11 thuộc Công ty TNHH M đã kết luận anh Đinh Văn B con do chị sinh ra
ngày 23/10/2020 (tên dự định đặt Đinh Hoàng Diệu O) CÓ QUAN HỆ HUYẾT
THỐNG CHA - CON GÁI.
Về chi ptố tụng: chị L xin tự nguyện chịu toàn bộ, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Chị L u cầu Tòa án giải quyết xác định anh Đinh Văn B, sinh năm 1972;
nơi trú: thôn V, Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh
Ninh Bình) cha đẻ của con do chị sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy chứng
sinh số 08; quyển số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh
Bình.
Tại bản tự khai, các tài liệu khác có trong hồ vụ án và tại phiên tòa, bị
đơn anh Đinh Văn B trình bày: anh B xác nhận năm 2017, anh quen biết
phát sinh tình cảm với chị L như trình bày của chị L đúng, khi đó anh không
biết chị L anh T chưa ly hôn mới chỉ sống ly thân do anh T đang đi xuất
khẩu lao động tại Đài Loan. Quá trình quen biết anh và chị L có quan hệ tình dục
với nhau, chị L đã thai đến ngày 23/10/2020 chị L sinh 01 cháu gái tại
Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình, trong Giấy chứng sinh số 08; quyển số:
08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình ghi họ và tên
người mẹ là Hoàng Thị L, sinh năm 1981, nơi ĐKTT: Y, huyện Y, số
BHXH/thẻ BHYT số GB437372093329737604, dân tộc: kinh; họ tên cha
Đinh Văn B; khi đó anh và chị L cũng không đăng kết hôn; do anh T đang làm
việc tại nước ngoài nên anh T không biết về cháu Diệu A. Năm 2022 anh B
đưa cháu Diệu A đến Công ty TNHH D; địa chỉ: C T, phường Y, quận C, thành
phố Hà Nội để xét nghiệm AND. Công ty D đã tiến hành lấy mẫu và xét nghiệm
cho anh và cháu Diệu A như sau:
+ Họ và tên: Đinh Văn B, sinh ngày 10/6/1972; quan hệ: cha giả định; loại
mẫu: niêm mạc miệng; số CCCD:037072004215 cấp ngày 09/01/2022 tại Cục C1
Quản hành chính về trật tự hội; Quốc tịch: Việt Nam; hiệu mẫu:
B4897.GP.
+ Họtên: Đinh Hoàng Diệu A, sinh ngày 23/10/2020; quan hệ: con giả
định; loại mẫu: niêm mạc miệng; giấy chứng sinh: số 08 quyển số 08 cấp ngày
23/10/2020 tại Trung tâm y tế huyện Y; Quốc tịch: Việt Nam; hiệu mẫu:
B4897.GP.
Kết quả kết luận: “Người mẫu ghi tên Đinh Văn B quan hệ huyết
thống cha - con với người mẫu ghi tên Đinh Hoàng Diệu A với độ tin cậy
99,999999%.
Đến năm 2023, anh T về nước đã làm đơn khởi kiện lên Toà án nhân dân
huyện Yên xin ly hôn với chị Hoàng Thị L, Tán đã ra “Quyết định công
nhận thuận tình ly hôn sự thoả thuận của các đương sự số 74/2023/QĐST-
HNGĐ ngày 18/9/2023” công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn T chị
Hoàng Thị L. Về con chung anh T chị L xác định anh chị có 02 con chung là
cháu Lê Huyền T1 cháu Hoàng P, chị L người trực tiếp nuôi dưỡng cả
hai cháu. Còn cháu Diệu A thì anh T không biết nên không trình bày với Tòa án
khi giải quyết việc ly hôn giữa anh T và chị L.
Nay chị L đơn khởi kiện yêu cầu xác nhận cha con, anh B đề nghị Tòa
án xem xét xác nhận cháu Đinh Hoàng Diệu A, sinh ngày 23/10/2020 (tên này
của cháu do anh chị L dự định đặt sau khi sinh, khi sinh cháu chưa dự
định đặt tên cháu) do chị Hoàng Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn V, Y,
huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) sinh ra ngày
23/10/2020 theo Giấy chứng sinh: số 08 quyển số 08 cấp ngày 23/10/2020 tại
Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình là con đẻ của anh, anh B sẽ trách
nhiệm chăm c, nuôi dưỡng giáo dục cháu Diệu A cho đến khi cháu thành
niên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Văn T, sinh năm 1984; địa
chỉ: xóm A, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình (nay là: xóm A, L, tỉnh Ninh Bình)
đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo vviệc thụ vụ án, giấy triệu tập,
thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
hòa giải, nhưng vẫn vắng mặt không do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ
hai để anh T có mặt tại phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không
có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị L. Tòa
án chính quyền địa phương nơi trú của anh T đã đến nhà anh T làm việc,
nhưng anh T và gia đình không hợp tác, không nhận bất kỳ văn bản nào của Tòa
án.
Tại biên bản xác minh của Tòa án đối với ông Văn T2 (bố đẻ anh T)
cung cấp: anh T chị L có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã Y, huyện K,
tỉnh Ninh Bình sinh sống tại với gia đình nhà ông. Anh T chị L 02 con
chung là cháu Huyền T1, sinh năm 2007 và cháu Hoàng P, sinh năm 2011.
Đến năm 2014 thì anh T chị L sang Đài Loan làm việc. Đến năm 2017 chị L
về nước nhưng không sinh sống với gia đình ông mà sinh sống trên Y, huyện
Y; còn anh T vẫn làm việc bên Đài Loan. Do chị L không sinh sống cùng gia đình
ông và anh T lúc đó đang làm việc bên Đài Loan, nên gia đình ông không biết chị
L quan hệ với người khác con riêng. Đến năm 2023 anh T vnước
anh T, chị L đã giải quyết ly hôn. Tại “Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và
sự thoả thuận của các đương sự” anh T chị L chỉ 02 con chung cháu T1
cháu P. Nay chị L gửi đơn lên Toà án nhân dân huyện Yên yêu cầu giải
quyết về việc “Xác nhận cha cho con”, anh T nhận được Thông báo thụ lý vụ án
của Toà án thì anh T gia đình ông mới biết chị L đã con chung với người
khác. Ông T2 xác nhận anh T, chị L chỉ 02 con chung cháu T1 cháu P,
còn chị L con với người khác tyêu cầu Tán giải quyết theo quy định pháp
luật. Các giấy tờ của Toà án gửi cho anh T, anh T đã nhận được nhưng do anh T
đi làm ăn nên không có thời gian đến Toà án làm việc.
Tại biên bản xác minh ngày 25/7/2025, UBND phường Y cung cấp như
sau: anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; nơi trú: thôn V, Y, huyện Y, tỉnh
Ninh Bình (nay thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) quan hệ quen biết với
chị Hoàng Thị L, sinh năm 1981; nơi trú thôn V, Y, huyện Y, tỉnh Ninh
Bình (nay là thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình). Anh B hiện đã ly hôn vợ, chị L
đã ly hôn chồng, tuy nhiên anh B và chị L đến nay chưa đăng ký kết hôn.
Trong thời gian quen biết anh B và chị L 01 con chung, tại giấy chứng
sinh có ghi họ tên mẹ: Hoàng Thị L, năm sinh 1981, nơi ĐKTT: Y, Y; họ và tên
cha: Đinh Văn B; đã sinh con ngày 23/10/2020 tại Trung tâm y tế huyện Y; giới
tính con: nữ. Năm 2020 sau khi sinh con, chị Hoàng Thị L lên UBND xã Y
(nay UBND phường Y) làm giấy khai sinh cho con, tuy nhiên do khi chị L sinh
con vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân với chồng cũ và nếu làm giấy khai sinh cho
cháu thì trong giấy khai sinh sẽ mang họ của chồng cũ, nhưng chị L muốn làm
giấy khai sinh cho con mang họ của anh Đinh Văn B, nên UBND không làm
được giấy khai sinh cho cháu.
Nay chị L yêu cầu Toà án giải quyết xác định cha cho con, UBND phường
đề nghị Toà án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án, sau khi Toà án
giải quyết xong vụ án bản án hiệu lực pháp luật thì UBND phường sẽ căn
cứ vào bản án để làm giấy khai sinh cho con chung của anh B và chị L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử đã
tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn là chL và bị đơn
là anh B trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự vquyền, nghĩa vụ của mình; Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không
thực hiện đầy đủ các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của
mình. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147, điểm b khoản 2
Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sựcác Điều 88, Điều 91, khoản
2 Điều 101 Điều 102 Luật Hôn nhân gia đìnhkhoản 2 Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pTòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị L, xác định anh Đinh Văn B,
sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V,
phường Y, tỉnh Ninh nh) là cha đẻ của con do chị Hoàng Thị L, sinh năm 1981;
địa chỉ: thôn V, Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh
Ninh Bình) sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy chứng sinh số 08; quyển số: 08
ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Về án phí: anh
Đinh Văn B phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Về chi phí tố tụng: ghi nhận sự tnguyện của chị L về việc không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: đây quan hệ tranh chấp về “Hôn nhân gia đình”
quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Ttụng dân sự; bị đơn anh Đinh Văn B,
sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V,
phường Y, tỉnh Ninh Bình) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Ninh Bình) theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Văn T đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có do. vậy
căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là anh T.
[2] Vyêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn: chị L yêu cầu Tòa án
giải quyết xác định anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, Y, huyện
Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) cha đẻ của con
do chị L sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy chứng sinh số 08; quyển số: 08 ngày
23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình (trong Giấy chứng sinh
chị L không điền thông tin về tên con dự định đặt); bị đơn là anh B yêu cầu Tòa
án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị L; người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan anh T không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là chị L. Xét chị L kết hôn với anh T vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện và
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình và có 02
con chung là cháu Huyền T1, sinh ngày 13/7/2007 cháu Hoàng P, sinh
ngày 31/8/2011. Ngày 18/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
giải quyết cho chị Lanh T được ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình
ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 74/2023/QĐST-HNGĐ ngày
18/9/2023 đã xác định anh T và chL chỉ có 02 con chung là cháu T1 và cháu P.
Ngày 23/10/2020 chị L sinh thêm 01 con theo Giấy chứng sinh số 08; quyển
số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Như vậy,
chị L có thai trong thời kỳ hôn nhân (thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng) với anh
T, mặc dù anh T không ý kiến đối với yêu cầu của chị L, nhưng chị L và anh
B thống nhất anh B cha đcủa con do chị L sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy
chứng sinh số 08; quyển số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh
Ninh Bình phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN ngày 18/6/2022 Công ty TNHH
D phù hợp với kết quả xét nghiệm ngày 17/7/2025, Phòng khám Đ số 11 thuộc
Công ty TNHH M đều kết luận anh Đinh Văn B con do chị L sinh ra ngày
23/10/2020 “CÓ QUAN HỆ HUYẾT THỐNG CHA - CON GÁI”.
Căn cứ vào các Điều 88, Điều 91, khoản 2 Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn
nhân gia đìnhHội đồng xét xử đủ schấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, xác định anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, Y,
huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) là cha đẻ
của con do chị L sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy chứng sinh số 08; quyển số:
08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng:
[3.1] Về chi phí tố tụng: nguyên đơn chị Hoàng Thị L tự nguyện chịu toàn
bộ, chị L đã thanh toán đầy đủ cho tổ chức giám định. Chị L không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Đây sự tự nguyện của đương sự, do đó Hội đồng xét xử không
xem xét giải quyết.
[3.2] Về án phí: căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án, anh B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 144, khoản 5 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều
271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sựcác Điều 88, Điều 91, khoản 2 Điều 101
Điều 102 Luật Hôn nhân gia đìnhkhoản 2 Điều 26 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L về việc
“Yêu cầu xác nhận cha cho con” đối với bị đơn anh Đinh Văn B.
Xác định anh Đinh Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, xã Y, huyện Y,
tỉnh Ninh Bình (nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) là cha đẻ của con do
chị Hoàng Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình
(nay là: thôn V, phường Y, tỉnh Ninh Bình) sinh ra ngày 23/10/2020 theo Giấy
chứng sinh số 08; quyển số: 08 ngày 23/10/2020 của Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh
Ninh Bình.
2. Về án phí: anh Đinh Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn; bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh NB;
- VKSND KV2-NB;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- UBND phường Yên Thắng;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Ngọc Hưng
Tải về
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất