Bản án số 01/2020/TCDS-ST ngày 14/02/2020 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2020/TCDS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2020/TCDS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2020/TCDS-ST ngày 14/02/2020 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về việc tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 01/2020/TCDS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 01/2020/TCDS - ST
Ngày: 14/02/2020
Về việc "Tr/c liên quan đến yêu cầu
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu".
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY TIÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Sỡi.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Vũ Quốc Phòng.
+ Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tú – KSV.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST- DS ngày
02 tháng 7 năm 2019 về việc kiện "Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
10/2019/QĐXXST - DS ngày 31 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, thị xã D, tỉnh Hà Nam.
* Bị đơn: Văn phòng công chứng Duy Tiên;
Địa chỉ: A2 - Lô1 Khu đô thị mới Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1 - Trưởng văn phòng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị L, sinh năm 1956;
- Anh Kiều Hạnh C, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam.
- Anh Kiều Ngọc K, sinh năm 1980;
2
Địa chỉ: Thôn Tr, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam.
- Anh Kiều Thiện Duy, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Khu đô thị Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam;
Phiên tòa: Có mặt ông T; bà T1 (có đơn xin xử vắng mặt); bà L, anh C, anh K,
anh D (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tại các bản khai và tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn
Xuân T trình bày:
Ngày 07/12/2012, ông và bà Bùi Thị L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và các tài sản trên đất, với nội dung: Bà L chuyển nhượng cho ông
72 m2, tại thửa số 83 tờ bản đồ PL 08 thuộc thôn Trịnh, xã Duy Minh, huyện
Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE
529777 ngày 06/6/2006 mang tên hai vợ chồng là ông Kiều Tiến Tự và bà Bùi
Thị L cùng các tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng chuyển nhượng này đã được
công chứng tại Văn phòng công chứng Duy Tiên theo số công chứng 1029 quyển
số 02 – TP/CC - SCC/HĐCC ngày 07/12/2012.
Sau khi làm thủ tục và công chứng, ông mới phát hiện thửa đất cùng các
tài sản gắn liền với đất mà bà L chuyển nhượng thì ông Kiều Tiến T2 đã chết.
Như vậy diện tích đất và tài sản trên đất phần của ông T2 phải chia theo thừa kế,
trong khi đó bà L tự ý chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất
cho ông và ông không được thông báo biết việc này. Do vậy, việc công chứng
Hợp đồng chuyển nhượng đó của Văn phòng công chứng D là vi phạm pháp luật.
Ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên tuyên bố văn bản công
chứng số 1029 quyển số 02 – TP/CC – SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 của Văn
phòng công chứng D vô hiệu. Ông không đề nghị Tòa án giải quyết về hậu quả
của việc tuyên bố văn bản công chứng số 1029 ngày 07/12/2012 vô hiệu.
Theo bà Nguyễn Thị T1, đại diện theo pháp luật cho Văn phòng công
chứng D, trình bày:
Ngày 07/12/2012, bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Xuân T đến Văn phòng
công chứng D, yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất giữa bà L và ông T. Sau khi nghiên cứu hồ sơ bà thấy,
chồng bà L là Kiều Tiến T2 đã chết và ông T2 với bà L có ba người con chung
là: Kiều Hạnh C, Kiều Ngọc K, Kiều Thiện D. Bà đã giải thích cho ông T, bà L
biết một mình bà L không thể thực hiện được việc chuyển nhượng tài sản này nên
bà đã từ chối. Nhưng bà L trình bày, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng và yêu
cầu công chứng, thực chất là việc vay tiền giữa bà L và ông T, ông T đã giao cho
bà 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng). Việc công chứng Hợp đồng chuyển

3
nhượng chỉ để hai bên tin tưởng nhau và ràng buộc trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ của mình. Do bà L là người quen và đã nhiều tuổi nên bà nể nang mà công
chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
giữa bà L và ông T tại số công chứng 1029 quyển số 02 - P/CC - SCC/HĐCC
ngày 07/12/2012. Bà thấy việc bà công chứng Hợp đồng chuyển nhượng trên là
sai, bà xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: Bà Bùi Thị L, anh Kiều Hạnh
C, anh Kiều Ngọc K và anh Kiều Thiện D, cùng có quan điểm đề nghị Tòa án
giải quyết theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bà.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại
phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, quan điểm phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên. Sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng: Ông Nguyễn Xuân T khởi kiện tranh chấp liên quan đến yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với văn bản công chứng số 1029
quyển số 02 – TP/CC – SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 của Văn phòng công
chứng D có địa chỉ tại Khu đô thị mới Đ, huyện D, tỉnh Hà Nam, về Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn
Xuân T và bà Bùi Thị L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam theo quy định tại điểm 11 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm m khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị L, anh Kiều Hạnh C,
anh Kiều Ngọc K và anh Kiều Thiện D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến
làm việc và triệu tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa nhưng không thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định
tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung: Xét việc khởi kiện của ông Nguyễn Xuân T liên quan đến
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 1029 quyển số 02 – TP/CC -
SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 của Văn phòng công chứng D vô hiệu, thấy rằng:
Ông Nguyễn Xuân T và bà Bùi Thị L có xác lập Hợp đồng chuyển
nhượng diện tích đất 72 m2 và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 83 tờ bản đồ PL
08 thuộc thôn T, xã D1, huyện D, tỉnh Hà Nam, đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng là ông Kiều Tiến T2 và bà Bùi Thị L.
Hợp đồng chuyển nhượng này đã công chứng tại Văn phòng công chứng D theo
số công chứng 1029 quyển số 02 – TP/CC - SCC/HĐCC ngày 07/12/2012. Qua
4
xem xét các tài liệu thu thập, theo Công văn số: 01/CV - TNMT ngày 06/01/2020
của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Duy Tiên thì diện tích đất 72 m2 tại
thửa số 83 tờ bản đồ PL 08 thuộc thôn T, xã D1, huyện D, đã được Ủy ban nhân
dân huyện Duy Tiên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AE 529777 ngày
06/6/2006, thuộc quyền sử dụng chung của ông Kiều Tiến T2 và bà Bùi Thị L.
Ông Kiều Tiến T2 chết ngày 11/10/2012, đến ngày 07/12/2012 ông
Nguyễn Xuân T và Bùi Thị L mới xác lập Hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất
và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 83 nêu trên. Lẽ ra, khi tiếp nhận Hồ sơ xin
công chứng hợp đồng chuyển nhượng đó thì Văn phòng công chứng D phải xem
xét tài liệu trong hồ sơ đã đầy đủ chưa, có hợp pháp không; người chuyển
nhượng có quyền chuyển nhượng hay không? Rõ ràng đại diện Văn phòng công
chứng D đã phát hiện diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng và tài
sản trên đất có cả quyền sử dụng của ông Kiều Tiến T2 thì Văn phòng công
chứng D phải yêu cầu hai bên làm rõ những vấn đề mà việc giao kết hợp đồng
còn chưa rõ ràng hoặc áp dụng các biện pháp mà Luật công chứng cho phép để
xác minh. Nếu thấy tài liệu đã đầy đủ, hợp lệ thì thụ lý và công chứng, nếu không
làm rõ được thì Công chứng viên có quyền từ chối công chứng theo khoản 4 Điều
35 Luật công chứng năm 2006.
Ở đây, ông T2 đã chết trước khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng và công
chứng tại Văn phòng công chứng D. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
có đứng tên ông Kiều Tiến T2, trên đất còn có nhà ở, các công trình xây dựng
khác. Đồng thời, ông T2 và bà L có ba người con chung là anh Kiều Hạnh C, anh
Kiều Ngọc K và anh Kiều Thiện D. Như vậy, cần phải xem xét ông T2 có quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất hay không? Ba người con của ông
T2, bà L có công sức đóng góp đối với tài sản yêu cầu công chứng hay không?
Văn phòng công chứng D vẫn chưa làm rõ những vấn đề nêu trên mà đã thực
hiện việc công chứng tại số công chứng 1029 quyển số 02 – TP/CC -
SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 đối với Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông
Nguyễn Xuân T và bà Bùi Thị L là vi phạm Điều 35 Luật công chứng năm 2006.
Quan điểm của bà Nguyễn Thị T1 - đại diện theo pháp luật Văn phòng
công chứng D thừa nhận, bà L không có quyền chuyển nhượng toàn bộ diện tích
đất và tài sản gắn liền với đất của vợ chồng và có giải thích cho đương sự hiểu.
Nay bà xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc công chứng không đúng quy
định của Luật công chứng. Đối với lý do hai bên đã giao tiền, do nể nang nên bà
công chứng là không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, việc ông Nguyễn Xuân T
khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng số 1029 quyển số 02 –
TP/CC - SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 về việc công chứng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà L và ông T vô hiệu
là đúng pháp luật.
5
Về hậu quả của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nêu trên, ông
Nguyễn Xuân T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Văn phòng công chứng D phải chịu theo Nghị quyết
326/NQ - UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án án
phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Điều 697, 698 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 688 Bộ luật dân sự năm
2015.
- Điều 27, 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Điểm b khoản 1, khoản 3, khoản 5 Điều 35; Điều 45 Luật công chứng
năm 2006.
- Khoản 11 Điều 26; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 39 Bộ
luật tố tụng năm 2015.
- Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội về án án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Tuyên bố văn bản công chứng số 1029 quyển số 02 – TP/CC -
SCC/HĐCC ngày 07/12/2012 về việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa
bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Xuân T đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 83, tờ bản đồ PL 08 thuộc thôn T,
xã D1, huyện D vô hiệu.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Văn phòng công chứng D phải chịu 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng). Hoàn lại cho ông Nguyễn Xuân T 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003036 tại Chi cục
thi hành án dân sự huyện Duy Tiên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
6
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Viện kiểm sát huyện Duy Tiên;
- Chi cục THADS huyện Duy Tiên;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
PHẠM VĂN SỠI
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm