Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST ngày 05/02/2020 của TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp ly hôn, giải quyết nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST ngày 05/02/2020 của TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp ly hôn, giải quyết nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lăk (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 01/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/02/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 02 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, giải quyết nuôi
con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LK - TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phụng Ayun.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Thủy.
2. Ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bách; Thư ký Toà án nhân dân huyện
Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Y Ker BKrông - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đắk
Lắk xét xử thẩm công khai vụ án n nhân gia đình thụ số:
89/2019/TLST-HN ngày 06 tháng 9 năm 2019 v tranh chấp “Ly hôn, giải
quyết nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi contheo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 01/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn M, B,
huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện
L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua đơn khởi kiện ngày 13/8/2019, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải cũng như tại phiên tòa
2
nguyên đơn chị Mai Thị T trình bày: Chị Mai Thị Tanh Nguyễn Văn T1 đã lấy
nhau dựa trên cơ sở hoàn toàn tnguyện, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân
B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 23/7/2002. Sau khi kết hôn, quá trình vợ
chồng sống chung với nhau chỉ được hạnh phúc khoảng một thời gian đầu; đến khi
sinh con đầu lòng cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 26/12/2002 thì vợ chồng
luôn phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, nhất anh T1 không chịu
đi lao động lo làm ăn xây dựng kinh tế gia đình thường xuyên hay đi theo bạn
rủ rê tụ tập, chơi bời, ăn nhậu và có quan hệ trai gái ngoại tình ở bên ngoài; mặc
chị T cả hai bên gia đình nội, ngoại đã nhiều lần nhắc nhở, khuyên can
nhưng anh T1 vẫn tính nào tật đó không thay đổi, không quan tâm chăm sóc đến
gia đình, vợ con chỉ một mình chị T lo toan đến cuộc sống gia đình, từ đó vợ
chồng xảy ra phát sinh mâu thuẫn. Thời gian gần đây nhất trong năm 2019 vừa
qua, vợ chồng đã xảy ra phát sinh mâu thuẫn cãi xích mích nhau, nguyên nhân
cũng xuất phát do vợ chồng làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần tiền bạc chồng chất,
anh T1 thì không có trách nhiệm đối với số tiền nợ đi vay mượn người khác để làm
ăn hoặc chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, chỉ một mình chị T lo làm ăn kiếm
tiền để nuôi sống gia đình trả nợ. Đến ngày 05/5/2019 vợ chồng lại xảy ra phát
sinh mâu thuẫn quá lớn, anh T1 hành vi đập phá đồ đạc tài sản trong nhà và có
đánh chị T, đến ngày hôm sau thì chị T đi làm khoai lang cùng với em gái huyện
E, tỉnh Đắk Lắk, từ đó vợ chồng đã sống ly thân với nhau cho đến nay, không còn
sống chung với nhau nữa. Tại thời điểm này giữa chị T anh T1 không liên
lạc với nhau nữa, mỗi người sống mỗi nơi. Mặc , mâu thuẫn vợ chồng đã
được hai bên gia đình nội ngoại khuyên nhủ, hòa giải nhưng không kết quả; vì
vậy, chị Mai Thị T xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nữa, sống
chung với nhau không hạnh phúc nên chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết
được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 để giải phóng cho hai người được tự do
yên tâm làm ăn sinh sống để nuôi dưỡng, chăm sóc con cái trưởng thành.
Quá trình giải quyết ván cũng như tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T1 trình
bày: Hoàn toàn nhất trí với ý kiến của chị Mai Thị T đã trình y trên đây về quan
hệ n nhân. Sau khi kết hôn trong cuộc sống gia đình, việc vợ chồng xảy ra phát
sinh mâu thuẫn cãi vã, xích mích nhau thì điều đó không thể tránh khỏi được, anh
T1 vẫn thừa nhận mình không chịu khó đi lao động lo làm việc đến nơi đến
chốn, đôi khi hay nghe theo bạn bè rủ rê đi chơi bời ăn nhậu, yêu đương với các cô
gái khác bên ngoài, ít khi quan tâm đến gia đình, vợ con, đó thời gian trở về
trước. Đến khoảng năm 2013 anh T1 đã thay đổi tính tình không còn nghe theo
bạn rủ đi chơi bời, ăn nhậu nữa tu chí đi lao động lo làm ăn để nuôi
dưỡng con cái, luôn quan tâm chăm sóc đến vcon, lo cho cuộc sống gia đình.
3
Tuy nhiên, trong cuộc sống thường ngày nhiều lúc do thói quen khi có tức giận thì
chửi bới vợ con vài lần rồi thôi. Đến ngày 05/5/2019, anh T1 thừa nhận vợ
chồng có xảy ra phát sinh mâu thuẫn cãi vã, xích mích nhau và anh T1 có đánh chị
T vài cái, sau đó chị T đã bỏ về nhà em gái ngủ. Đến ngày hôm sau thì chị T đi làm
khoai lang ng với em gái huyện E, tỉnh Đắk Lắk, giữa anh T1 và chị T không
liên lạc với nhau nữa chị T cũng không trở về nhà với chồng con, hai vợ
chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, thỉnh thoảng mỗi lần chT về nhà chỉ đi
thăm các con thôi nhưng không trong nhà với chồng con sang nhà bố m
ruột hoặc nhà em gái ngủ. Theo anh T1, mặc hai vợ chồng đã sống ly thân với
nhau gần một năm nay, nhưng anh T1 xét thấy thực tế tình cảm của hai vợ chồng
thực sự vẫn còn, anh T1 vẫn yêu thương vợ con, luôn quan tâm chăm sóc cho cuộc
sống gia đình; mâu thuẫn vợ chồng cũng chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn theo
như chị T đã trình bày, anh T1 mong muốn được vợ chồng quay về đoàn tụ để
cùng nhau trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái trưởng thành và anh
T1 không đồng ý ly hôn với chị Mai Thị T; ngoài ra anh T1 không ý kiến gì
khác.
Căn cứ biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân gia đình của chị Mai Thị
T anh Nguyễn Văn T1 ngày 08/10/2019 ngày 31/12/2019 của Tòa án nhân
dân huyện L, ông Trần Văn L - Thôn Trưởng thôn M, B, huyện L cho biết: Vợ
chồng chị Mai Thị T anh Nguyễn Văn T1 lấy nhau đăng kết hôn tại
UBND xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống
chung với nhau tại thôn M, xã B, huyện L tđó đến nay; tkhi hai vợ chồng kết
hôn sống chung với nhau tại địa phương cho đến nay gia đình chị T và anh T1
vẫn sinh hoạt bình thường, không có chuyện gì xảy ra bất thường, ông L chưa nghe
thông tin phản ánh liên quan đến việc xảy ra phát sinh mâu thuẫn vợ chồng chị
Tvà anh T1 lần nào cả, hơn nữa chị T anh T1 cũng không thấy báo cáo chính
quyền thôn để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Đến khoảng tháng 7/2018, thì vợ
chồng chị T anh T1 đi vào Sài Gòn làm công nhân, nhưng làm được khoảng 02
đến 03 tháng đó thì thấy anh T1 về nhà làm ruộng; còn chị T tiếp tục lại Sài
Gòn làm công nhân; thỉnh thoảng chị T về nhà thăm các con nhưng không có
trong nhà với chồng con mà lại sang nhà bố mẹ ruột hoặc nhà em gái mình để ngủ;
sau đó tiếp tục xuống Sài Gòn đi làm công nhân tiếp. Đến khoảng 04 tháng trở lại
đây thấy chị T nghỉ làm công nhân, nhưng cũng không trở về nhà cùng em gái
đi làm khoai lang ở huyện E, thỉnh thoảng mới về nhà thăm con cái vài lần, rồi đến
tối sang nhà em gái ngủ. Đến tháng 10/2019 thì thấy chị T ít khi sinh sống ở tại địa
phương nghe thông tin chị T cùng em gái đi làm khoai lang tại huyện E, tỉnh
Đắk Lắk không trở về nhà; thỉnh thoảng mỗi lần chị T về nhà chỉ về thăm con cái.
4
Còn việc xảy ra phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng của gia đình chị T anh
T1, thì chị T, anh T1 không thấy báo cáo chính quyền thôn để hòa giải nên ông L
thôn Trưởng thôn M, xã B, huyện L hoàn toàn không biết.
Về con chung: Vợ chồng chị Mai Thị T anh Nguyễn Văn T đã có với nhau
02 đứa con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh ngày 26/12/2002 Nguyễn Thị
Thanh T3, sinh ngày 17/11/2005. Quá trình giải quyết vụ án, chị T muốn được trực
tiếp trông nom, nuôi dưỡng 02 đứa cháu T2 cháu T3 yêu cầu anh T1 phải
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cho 02 cháu theo hàng tháng với mức là 300.000
đồng/tháng/1 cháu, tức 600.000 đồng/tháng/2 cháu cho đến khi các cháu đủ 18
tuổi. Sau đó, hai bên lại thỏa thuận, sau khi ly hôn mỗi người sẽ trực tiếp nuôi
dưỡng một đứa con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành, hơn nữa
cũng phải tôn trọng theo ý kiến của các cháu Nguyễn Văn T2 cháu Nguyễn Thị
Thanh T3; tức cháu Nguyễn Văn T2 thích sống với anh Nguyễn Văn T1 cháu
Nguyễn Thị Thanh T3 thích sống với chị Mai Thị T. vậy, chị Mai Thị T trực
tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm c, giáo dục cháu Nguyễn Thị Thanh T3, sinh
ngày 17/11/2005 cho đến khi cháu T3 đủ tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn T1
trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Văn T2, sinh
ngày 26/12/2002 cho đến khi cháu T2 đủ tuổi trưởng thành. Vvấn đề cấp dưỡng
nuôi con, hai bên không yêu cầu bên nào phải nghĩa vụ cấp ỡng nuôi con
cho bên nào.
Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ vụ án, mặc đã được Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải cũng như tại phiên tòa, đã giải
thích, động viên, để các bên quay về đoàn tụ với nhau phân tích hệ quả pháp
của việc hòa giải đoàn tụ thành nhưng các bên vẫn không thống nhất quay về đoàn
tụ được.
Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu của mình
cũng như đã khai trong bản tự khai, trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải. Các đương sự không xuất trình
chứng cứ mới hoặc phát sinh những tình tiết mới của vụ án tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phát
biểu ý kiến: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Thẩm phán đã áp dụng đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ vụ án, Hội đồng xét xử đã áp dụng
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vtrình tự, thủ tục của phiên tòa
thẩm. vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, 144, 147, 220, Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều
5
18, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử
giải quyết vụ án theo hướng:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị T. Ch
Mai Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 17/11/2005 cho
chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi
cháu T3 đủ tuổi trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 26/12/2002
cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho
đến khi cháu T2 đủ tuổi trưởng thành. Vấn đcấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa
hai bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
3. Về tài sản chung nợ chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và
gia đình thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí mà chị Tâm đã nộp tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Anh
Nguyễn Văn T1 không phải chịu tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết: Chị Mai Thị T
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp“Ly hôn, giải quyết nuôi con và
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với anh Nguyễn Văn T1. Bđơn anh Nguyễn Văn
T1 có nơi cư trú tại huyện L; do đó, Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp của
vụ án là: Tranh chấp về hôn nhân gia đình”, thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện L theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: ChMai Thị T anh Nguyễn Văn T1 đã lấy nhau
dựa trên sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B,
huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 23/7/2002; vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Mai
Thị Tanh Nguyễn Văn T1 hợp pháp, được pháp luật Nhà nước ta ng nhận.
Sau khi kết hôn, quá trình sống chung với nhau tvợ chồng thường xuyên xảy ra
6
nhiều mâu thuẫn quá lớn, xích mích, cãi vã nhau, bất đồng về quan điểm sống,
nguyên nhân từ khi bắt đầu chị T sinh con đầu lòng cháu Nguyễn Văn T2, sinh
ngày 26/12/2002, thì anh T1 không quan tâm chăm sóc đến gia đình, vợ con,
không chịu đi lao động lo làm ăn y dựng kinh tế gia đình thường xuyên hay
đi nghe theo bạn rủ rê, tụ tập, chơi bời, ăn nhậu hoặc quan htrai gái với
người khác bên ngoài; mặc chị T cả hai bên gia đình nội, ngoại đã nhiều
lần nhắc nhở, khuyên can, hòa giải nhưng anh T1 vẫn tính nào tật đó không thay
đổi, từ đó vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn. Đến ngày 05/5/2019 vợ chồng lại xảy
ra phát sinh mâu thuẫn quá lớn, anh T1 có hành vi đập phá đồ đạc tài sản trong nhà
đánh chị T vài cái, sau đó chị T sang nhà em gái ngủ; đến ngày hôm sau thì
chị T đi làm khoai lang ng với em gái huyện E, tỉnh Đắk Lắk, từ đó vợ chồng
không còn liên lạc gì với nhau nữa và đã sống ly thân cho đến nay. Nếu có về đoàn
tụ vợ chồng sống chung với nhau cũng khó khả năng hạnh phúc lâu dài, mục
đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn
với anh T1 là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét việc anh Nguyễn Văn T1 cho rằng, hiện nay anh vẫn còn tình cảm yêu
thương vcon, luôn quan tâm chăm sóc cho cuộc sống gia đình, mâu thuẫn vợ
chồng cũng chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn, mong muốn được vợ chồng
quay về đoàn tụ để cùng nhau trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái
trưởng thành nên anh T1 không đồng ý ly hôn với chị Mai Thị T không có cơ sở.
Bởi vì, trong khi đó thực tế xét về tình cảm giữa anh T1 chị T thực sự không
còn nữa, hai vchồng đã sống ly thân với thời gian quá lâu từ tháng 5/2019 cho
đến nay, mỗi người sống mỗi nơi, mạnh ai nấy lo cho cuộc sống riêng mình; do
đó, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn, không biện pháp
thích hợp để hàn gắn mâu thuẫn vchồng, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ
của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào
khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm
2014; Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị T. Chị Mai Thị T được ly
hôn với anh Nguyễn Văn T1 là phù hợp.
[4] Qua xác minh thực tế ngày ngày 08/10/2019 ngày 31/12/2019 của Tòa
án nhân dân huyện L, ông Trần Văn L - Thôn Trưởng thôn M, B, huyện L đã
cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân và gia đình của chị Mai Thị T anh
Nguyễn Văn T1 hoàn toàn phợp với lời khai của chị T anh T1 đã trình
bày.
[5] Về con chung: Vợ chồng chị Mai Thị T anh Nguyễn Văn T1 đã có với
nhau 02 đứa con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh ngày 26/12/2002 Nguyễn
7
Thị Thanh T3, sinh ngày 17/11/2005. Xét quá trình giải quyết vụ án, chị T muốn
được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng 02 đứa cháu T2 cháu T3 yêu cầu anh
T1 phải nghĩa v cấp dưỡng nuôi cho 02 cháu theo hàng tháng với mức
300.000 đồng/tháng/1 cháu, tức 600.000 đồng/tháng/2 cháu cho đến khi các
cháu đủ 18 tuổi. Sau đó, hai bên lại thỏa thuận, sau khi ly hôn mỗi người sẽ trực
tiếp nuôi dưỡng một đứa con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành,
hơn nữa cũng phải tôn trọng theo ý kiến của các cháu Nguyễn Văn T2 cháu
Nguyễn Thị Thanh T3; tức cháu Nguyễn Văn T2 thích sống với anh Nguyễn Văn
T1 cháu Nguyễn Thị Thanh T3 thích sống với chị Mai Thị T. Do đó, chị Mai
Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị
Thanh T3, sinh ngày 17/11/2005 cho đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn T1
trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Văn T2, sinh
ngày 26/12/2002 cho đến tuổi trưởng thành. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tại phiên
tòa hai bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Các bên đưc quyn đi lại tm nom con chung, không ai đưc cn tr. Vì lợi ích
của con, theo u cu ca mt trong hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngưi
trc tiếp ni con.
[6] Về tài sản chung nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải
quyết.
[7] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện L về việc tuân theo pháp luật cũng như đề nghị hướng giải quyết vụ án tại
phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân
gia đình thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T1 không phải
chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, 147, Điều 211, 220, 235, điểm c khoản 2 Điều 266 của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014;
Áp dụng: Điều 18, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc Hội khóa 14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị T. Chị Mai Thị T được ly hôn
với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh T3, sinh ngày 17/11/2005 cho
chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm c, giáo dục cho đến tuổi
trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Văn T2, sinh ngày 26/12/2002 cho anh Nguyễn
Văn T1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi trưởng
thành. Vấn đề cấp ỡng nuôi con, tại phiên tòa hai bên không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Các bên được quyền đi li tm nom con chung, không ai đưc cn tr. Vì lợi ích
của con, theo u cu ca mt trong hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngưi
trc tiếp ni con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân
gia đình thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí mà chị Tâm đã nộp theo biên lai số AA/2017/0013599 ngày 06/9/2019 của Chi
cục thi hành án Dân shuyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Anh Nguyễn Văn T không phải
chịu tiền án phí.
5. Đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Đắk Lk; Đã ký
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện L;
- CCTHADS huyện L;
- UBND xã B;
- Lưu hồ sơ vụ án, VT.
Y Phụng Ayun
9
Tải về
Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất