Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 11/04/2018 của TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2018/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 11/04/2018 của TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Sơn (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 01/2018/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/04/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Cao Thị L yêu cầu vợ chồng anh Huỳnh Văn H và chị Quách Thị Thanh T trả nợ cho bà Cao Thị L số tiền mua cám
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 01/2018/DS-ST
Ngày: 11/4/2018
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Văn Tần
2/ Ông Nguyễn Minh Thanh
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Lên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Bình Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn tham gia phiên toà:
Ông Huỳnh Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn xét
xử thẩm công khai vụ án thụ lý số: số 04/2017/TLST-DS, ngày 20/10/2017
về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 13/2018/QĐXXST-DS, ngày 15/3/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa
số 04/2018/QĐST-DS ngày 28/3/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Cao Thị L, sinh năm 1959;
Địa chỉ: thôn A, xã Bình T, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: thôn T, xã Bình Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Du S, sinh năm 1958;
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Du S: Cáo Thị L, sinh
năm 1959 (vợ ông S) theo giấy ủy quyền ngày 23/10/2017;
Đều cùng địa chỉ: thôn A, xã Bình T, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Chị Quách Thị Thanh T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: thôn T, xã Bình Đ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2017, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
12/10/2017 các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, Cao Thị L
(Nguyên đơn) trình bày:
Anh Huỳnh Văn H người chăn nuôi vịt chị Quách Thị Thanh T v
anh H làm nội trợ. Từ ngày 14/10/2016 đến ngày 22/3/2017 anh Huỳnh Văn H
đã đến đại lý mua bán cám của Cao Thị L mua cám vịt để về nuôi vịt cho gia
đình, do anh H đã vi phạm hợp đồng về việc thanh toán tiền mua cám nên L
đã ngưng bán cám cho anh H và anh H còn nợ bà L 248.870.000đồng. Thời gian
sau, L đã nhiều lần trực tiếp đến nhà anh H để yêu cầu anh H trả nợ nhưng
anh chỉ trả được một phần, cụ thể:
Ngày 19/02/2017 anh H trả 10.000.000 đồng;
Ngày 12/3/2017 anh H trả 10.000.000 đồng.
Tổng cộng 20.000.000đồng.
Như vậy, vợ chồng anh H và chị T còn nợ bà L 228.870.000đồng. Nay bà L
yêu cầu vợ chồng anh H chị T nghĩa vụ trả nợ cho bà L 228.870.000đồng,
bà không yêu cầu tính tiền lãi.
Ngoài ra, không yêu cầu gì thêm./.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/11/2017, anh Huỳnh Văn H (Bị đơn)
trình bày:
Từ ngày 14/10/2016 cho đến ngày 23/3/2017 anh Huỳnh Văn H trực tiếp
đến nhà Cao Thị L mua cám đnuôi vịt cho gia đình anh, cho đến nay anh
còn nợ bà L tiền mua cám 228.870.000đồng, do vịt bị bệnh chết dẫn đến thua lỗ
không có tiền trả cho bà L.
Nay L yêu cầu vợ chồng anh trả nợ 228.870.000đồng, anh H đồng ý trả
nợ cho bà L.
Ngoài ra, anh không trình bày gì thêm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/11/2017, chị Quách Thị Thanh T (Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:
Việc anh Huỳnh Văn H chồng chị mua cám về nuôi vịt của bà Cao Thị L
thì chị không biết đến. Việc anh H nuôi vịt mua m nuôi vịt do anh H tự
nuôi tự mua chị không biết đến nên chị không liên quan đến khoảng nợ
tiền mua cám của bà L, nên chị không đồng ý trả nợ.
Việc anh H nuôi vịt là do anh H tự nuôi và tự chi tiêu. Tuy nhiên, chị T xác
định trong cuộc sống hàng ngày, anh H có chi tiền cho chị để chi tiêu hàng ngày
cho gia đình, anh H lấy tiền ở đâu để đưa cho chị thì chị không biết.
Nay chị L yêu cầu vợ chồng chị nghĩa vụ trả nợ tiền mua cám nuôi vịt
228.870.000 đồng chị không đồng ý trả, theo chị khoảng nợ này chị không
liên quan đến.
Ý kiến của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
3
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của nguyên
đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng
quy định của pháp luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chấp hành không đúng theo
quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Ttụng dân sự người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cũng đã chấp hành không đúng theo Điều 70, 73 Bộ luật T
tụng dân sự.
Việc giải quyết vụ án: xét thấy trong thời gian từng ngày 14/10/2016 đến
ngày 22/3/2017 anh H đã mua cám vịt tại đại của Cao Thị L với số tiền
248.870.000 đồng, trong quá trình mua bán anh H đã trả được cho bà L
20.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án anh H cũng thừa nhận còn nợ
lại L số tiền 228.780.000 đồng đồng ý trả cho L. Từ những sở trên,
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 280, Điều 440 Bộ luật dân sự 2015 và các
Điều 26, 35, 39, 147 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sxét xử chấp nhận đơn
khởi kiện của bà L.
Kiến nghị: không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: anh Huỳnh Văn H cố tình vắng mặt không đến Tòa án để
trình bày nghe Tòa án xét xử ván, chị Quách Thị Thanh T yêu cầu Tòa án
xét xử vụ án vắng mặt chị. Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ và tiến hành tống
đạt các thủ thủ tố tụng đầy đủ cho anh H chị T theo đúng quy định của pháp
luật nên Tòa án sở xét xử vắng mặt anh H chị T, phù hợp với quy định
tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của L thì Hội
đồng xét xử xác định đây tranh chấp về dân sự theo Điều 26 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015 “về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
[3]. Về nội dung vụ án: Theo lời trình bày của Cao Thị L tại bản khai
ngày 20/10/2017 (BL 29) và lời trình bày của anh Huỳnh Văn H tại biên bản lấy
lời khai của đương sự ngày 29/11/2017 (BL 37), hai bên trình bày nội dung
thống nhất như sau: từ ngày 14/10/2016 đến ngày 23/3/2017 anh H mua m
để nuôi vịt của L anh H còn n của L với tổng cộng số tiền
228.870.000đồng, được thể hiện tại các giấy tờ ghi nợ ngày 14/10/2016 (BL 04),
ngày 23/3/2017 (BL 03) là có thực.
Căn cứ vào hợp đồng chăn nuôi ngày 01/01/2017 được kết giữa L
anh H (BL 06) thì anh Huỳnh Văn H phải thanh toán đầy đủ tiền cho bà Cao Thị
L sau khi vật nuôi được bán (Tối đa 03 tháng kể từ ngày nhận cám, thức ăn
đến ngày xuất chuồng). Như vậy, từ thời điểm hai bên chốt nợ (Ngày 23/3/2017)
đến ngày L đơn khởi kiện tại Tòa án (Ngày 22/8/2017) đã trên 03 tháng
nhưng anh H không trả ncho L vi phạm hợp đồng, nên L khởi kiện
đến Tòa án phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 440 Bluật dân sự nên
chấp nhận.
4
Cao Thị L kiện yêu cầu vchồng anh Huỳnh Văn H chị Quách Thị
Thanh T nghĩa vụ trả nợ cho với số tiền 228.870.000đồng, nhưng chị
Quách Thị Thanh T không đồng ý trả, chị cho rằng việc anh H nuôi vịt mua
cám là do anh H tự ý nuôi mua, chị không biết đến nên chị không đồng ý trả.
Tuy nhiên, chị cũng thừa nhận anh H chi tiền cho chị để chi tiêu hàng ngày
cho gia đình, tiền từ đâu anh H đưa cho chị thì chị không biết (BL 38). Và anh H
trình bày, anh nuôi vịt nuôi cho gia đình vợ chồng anh, chi tiêu cho gia
đình (BL 37). Từ những căn cứ trên, sở khẳng định việc anh H mua cám
để nuôi vịt nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình anh, nên L kiện
yêu cầu vợ chồng anh H và chị T trả nợ cho bà số tiền mua cám 228.870.000
đồng căn cứ để chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị
Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí buộc vợ chồng anh H và chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[5 ] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 26, 35, 147, 235, 241, 264 Điều 266 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 37
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị L.
Buộc vợ chồng anh Huỳnh Văn H và chị Quách Thị Thanh T có nghĩa vụ
trả nợ tiền mua cám vịt cho bà Cao Thị L, tổng cộng số tiền 228.870.000đồng
(hai trăm hai mươi tám triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
2. Ván phí dân sự thẩm: 11.443.500đồng (mười một triệu, bốn trăm
bốn mươi ba nghìn, năm trăm đồng), buộc vợ chồng anh Huỳnh Văn H chị
Quách Thị Thanh T phải có nghĩa nộp sung công quỹ nhà nước;
Hoàn trả lại cho Cao Thị L số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm
5.721.750đồng mà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số:
AA/2014/0002357 ngày 20/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân shuyện B,
tỉnh Quảng Ngãi.
5
Kể từ khi người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, người phải
thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả; mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử thẩm công khai, nguyên đơn mặt quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ theo
quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện B;
- Chi cục THADS huyện B; ( Đã ký)
- Các bên đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Lê Quốc Phong
6
Tải về
Bản án số 01/2018/DS-ST Bản án số 01/2018/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất