Bản án số 96/2023/HC-PT ngày 24/02/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 96/2023/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 96/2023/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 96/2023/HC-PT ngày 24/02/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Hà Nội |
| Số hiệu: | 96/2023/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | “Yêu cầu hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy Kết luận trả lời đơn kiến nghị” giữa Người khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 95/2023/HC-PT
Ngày: 24/02/2023
Yêu cầu hủy quyết định cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và hủy Kết luận
trả lời đơn kiến nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Mai;
Bà Vũ Thị Thu Hà;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Lê Đỗ Quyên, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội,
mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số
669/2022/TLPT-HC ngày 20 tháng 12 năm 2022 về việc “Yêu cầu hủy quyết
định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy Kết luận trả lời đơn kiến
nghị” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số
37/2022/HCST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 887/2023/QĐ-PT ngày 09 tháng
02 năm 2023 giữa:
* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn X sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn
X1, xã X1, huyện G, tỉnh B; Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của ông X: Ông Nguyễn Tiến K sinh năm 1959,
ông Nguyễn Kim T sinh năm 1960, ông Quách Cảnh Y sinh năm 1958 và ông
Lê Đình K1 sinh năm 1955; Cùng địa chỉ: Thôn X1, xã X1, huyện G, tỉnh B;
Đều có mặt.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh B và Chủ tịch UBND
huyện G, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá T1 – chức vụ: Phó Chủ
tịch; Có mặt.
2
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. UBND xã X1, huyện G, tỉnh B;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - chức vụ: Chủ tịch;
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bà Trần Thị T2 sinh năm 1958, anh Nguyễn Văn Đ sinh năm 1982, chị
Nguyễn Thị Đ1 sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị V sinh năm 1986; Cùng địa
chỉ: Thôn X1, xã X1, huyện G, tỉnh B; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bà T2, anh Đ, chị Đ1 và chị V: Ông Nguyễn
Tiến K sinh năm 1959, ông Nguyễn Kim T sinh năm 1960, ông Quách Cảnh Y
sinh năm 1958 và ông Lê Đình K1 sinh năm 1955; Cùng địa chỉ: Thôn X1, xã
X1, huyện G, tỉnh B; Đều có mặt.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, người khởi
kiện và đại diện của người khởi kiện trình bày như sau:
Nguồn gốc đất của gia đình ông Nguyễn Văn X là được Hợp tác xã (Viết
tắt là HTX) cấp từ năm 1980 cho bố mẹ ông X, sau đó bố mẹ ông X cho ông X
đứng tên quyền sử dụng phần diện tích 531m
2
; diện tích 135m
2
liền kề là đất bố
mẹ ông X mua của HTX cùng thời điểm cấp đất năm 1980. Gia đình ông X đã
kê khai đất đai theo Chỉ thị 299 của Thủ tướng chính phủ.
Đối với diện tích 135m
2
khi mua là đất trũng, sau khi mua đất, gia đình ông
X đào lên lấy đất xây nhà thì hiện trạng trở thành ao. Khi cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) năm 2001 thì diện tích đất này hiện
trạng là ao. Tuy nhiên, đến năm 2020 gia đình ông X đã lấp ao để sử dụng.
Năm 2001, Ủy ban nhân dân (Viết tắt là UBND) huyện G, tỉnh B cấp
GCNQSDĐ cho gia đình ông X thửa số 36, diện tích 531m
2
mục đích đất ở lâu
dài; thửa số 144, diện tích 135m
2
mục đích sử dụng đất ao. Từ khi được giao đất
và được cấp GCNQSDĐ, gia đình ông X sử dụng ổn định, không có tranh chấp
với ai và hàng năm đều đóng thuế đất phi nông nghiệp đầy đủ với địa phương.
Năm 2013, gia đình ông X đã làm thủ tục tặng cho một phần diện tích đất
đã được cấp GCNQSDĐ năm 2001 cho con gái là Nguyễn Thị Đ1 với diện tích
123m
2
đất ở.
Tuy nhiên, đến năm 2017 gia đình ông X phát hiện Quyết định số
453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G có nội dung gia đình ông
X chỉ được cấp 200m
2
đất ở, 331m
2
đất vườn và 135m
2
đất ao. Sau đó ông X đã
cùng các gia đình khác đi kiến nghị, khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền.
Sau khi có khiếu nại thì ngày 28/9/2020, Chủ tịch UBND huyện G ban
hành Kết luận số 89/KL-UBND giải quyết xét cấp GCNQSDĐ cho hộ ông X

3
với tổng diện tích 543m
2
; trong đó diện tích công nhận đất ở 408m
2
theo số
lượng nhân khẩu trong hạn mức đất ở; diện tích 135m
2
xác định là đất ao.
Trường hợp hộ muốn chuyển 135m
2
đất ao sang đất ở thì thực hiện chuyển mục
đích sử dụng đất, hộ thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
Không đồng ý với Kết luận 89/KL-UBND nêu trên, ông X tiếp tục kiến
nghị. Tại Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch UBND
huyện G vẫn giữ nguyên việc cấp GCNQSDĐ theo nội dung Kết luận số 89;
người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
Gia đình ông X không đồng ý với nội dung Kết luận 72/KL-UBND và
Kết luận số 89/KL-UBND và yêu cầu phải cấp toàn bộ 543m
2
là đất ở.
Nay ông X khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Hủy Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch UBND
huyện G về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn X thôn X1, xã
X1.
- Hủy Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện
G về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình
ông Nguyễn Văn X.
- Yêu cầu UBND huyện G phải cấp lại cho gia đình ông Nguyễn Văn X
tất cả diện tích 543m
2
là đất ở nông thôn tại thôn X1, xã X1, huyện G.
Đại diện người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh B và Chủ tịch
UBND huyện G, tỉnh B trình bày:
Đất hộ ông X sử dụng trong khu dân cư thôn X1 được UBND huyện cấp
GCNQSDĐ tại Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001 với tổng diện tích
666m
2
có nguồn gốc:
- Diện tích 373m
2
do HTX cấp đất trại năm 1980, thuộc tờ bản đồ số 10,
thửa số 36 (năm 2018 tách thành thửa số 185, 186);
- 158m
2
thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 36 (năm 2018 tách thành thửa số
185, 186).
- 118m
2
đất ao mua cạnh nhà; 17m
2
đất ao vị trí thuộc tờ bản đồ số 10,
thửa số 144, chênh lệch do đo đạc.
1. Về trình tự, thủ tục thực hiện việc kê khai, đăng ký, xét duyệt, cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông X thời điểm năm 2001:
Việc đo đạc bản đồ hiện trạng do Sở Địa chính (nay là sở Tài nguyên và
Môi trường) thực hiện theo Quyết định số 662/QĐ-CT ngày 18/7/2000 của Chủ
tịch UBND tỉnh B.
Trình tự thủ tục thực hiện việc kê khai, đăng ký, xét duyệt, cấp
GCNQSDĐ thời điểm 2001 cho hộ ông X được thực hiện theo Luật Đất đai
4
năm 1993; Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính
phủ; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính;
Kế hoạch số 31/1999/KH-UB ngày 25/9/1999 của UBND tỉnh B và các văn bản
pháp lý có liên quan.
Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ năm 2001, việc xác định diện tích
đất ở phải dựa trên cơ sở xác định chi tiết hiện trạng sử dụng đất vào mục đích
để ở và sinh hoạt của hộ. Do việc quản lý, sử dụng diện tích đất của hộ ông X
không có giấy tờ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số
17/1999/NĐ-CP nên việc áp dụng Điều 7 Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ở thời
điểm để cấp GCNQSDĐ tại thửa số 144 (135m² đất ao) và thửa số 36 (531m
2
,
trong đó 200m² đất thổ cư, 321m² đất vườn) là phù hợp ở thời điểm đó.
2. Việc sai khác giữa GCNQSDĐ với Quyết định cấp GCNQSDĐ:
- Trong Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001, hộ ông X được cấp
GCN với tổng diện tích 666m
2
, gồm:
+ Thửa đất số 36, diện tích 531m
2
, gồm: Đất ở 200m
2
, đất vườn 331m
2
;
+ Thửa đất số 144, diện tích 135m
2
đất ao.
- Trên GCNQSDĐ có số phát hành: V380149 cấp cho hộ ông X, với tổng
diện tích 666m
2
:
+ Thửa số 36, diện tích 531m
2
, loại đất: T (đất thổ cư), mục đích sử dụng:
T; thời hạn sử dụng: Lâu dài.
+ Thửa đất số 144, diện tích 135m
2
, loại đất trên bản đồ: Ao, mục đích sử
dụng: A (Ao); thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Khi được UBND huyện quyết định cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình,
cá nhân; Phôi GCNQSDĐ được giao về UBND xã X1 để tổ chức viết. Tuy
nhiên khi viết GCNQSDĐ, cơ sở lại căn cứ theo nội dung đơn đăng ký của các
hộ để viết số tờ, số thửa, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng đất; không viết
theo Danh sách kèm theo Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001 của
UBND huyện, về việc cấp GCNQSDĐ. Quyết định cấp GCNQSDĐ là cơ sở
pháp lý xác lập các thông tin trên GCNQSDĐ cấp cho người sử dụng đất.
Thông tin pháp lý giữa Danh sách kèm theo Quyết định cấp giấy và GCNQSDĐ
đã cấp cho hộ ông X ở thửa đất số 36 và thửa số 144, tờ bản đồ số 10 nêu trên
có sự sai khác. Việc UBND xã X1 viết GCNQSDĐ dựa theo Đơn đăng ký kê
khai, không căn cứ vào Quyết định số 453/QĐ-UB là không đúng quy định tại
Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC.
Như vậy: Việc UBND huyện G ban hành Quyết định số 453/QĐ-UBND
ngày 10/12/2001 về việc cấp GCNQSDĐ cho 1.552 hộ gia đình, cá nhân xã X1,
trong đó hộ ông X được cấp 666m
2
, gồm: 200m
2
đất ở, 331m
2
đất vườn, 135m
2
đất ao là đảm bảo theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm đó.
5
Ngày 28/9/2020, UBND huyện G ban hành Kết luận số 89/KL-UBND về
việc giải quyết đơn phản ánh, kiến nghị của ông Nguyễn Văn X thôn X1, xã X1,
theo đó kết luận xử lý: Thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông X tại các thửa
đất 186, 144 theo điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013. Áp dụng
quy định tại Điều 101, Điều 103 Luật Đất đai năm 2013; Điều 20 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP; Điều 4 Quyết định số 11/2018/QĐ-UBND để xét cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông X với tổng diện tích 543m
2
(đã trừ đi diện tích 123m²
đất ở ông X tặng, cho bà Đ1), trong đó diện tích công nhận đất ở 408m
2
theo số
lượng nhân khẩu trong hạn mức đất ở; 135m
2
xác định là đất ao. Trường hợp hộ
muốn chuyển 135m
2
đất ao sang đất ở thì thực hiện chuyển mục đích sử dụng
đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Tuy nhiên, khi thực hiện Kết luận, do đất hộ ông X có nguồn gốc của
HTX cấp và mua của thôn năm 1980, hộ không cung cấp được chứng từ thực
hiện nghĩa vụ tài chính nên không thực hiện được việc cấp GCNQSDĐ.
Ngày 19/10/2021, Chủ tịch UBND huyện G ban hành Quyết định số
1415/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ công tác kiểm tra, rà soát tham mưu giải
quyết đơn kiến nghị của một số công dân thôn X1, xã X1. Tổ công tác tiến hành
kiểm tra, xác minh bổ sung, kết quả như sau:
+ Về việc kê khai trong Đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ:
Thực hiện việc kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ các thửa đất số 186 và
144, tờ bản đồ số 10 xã X1. Ngày 18/8/2001, chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn
X có đơn xin đăng ký cấp GCNQSDĐ; kê khai cho thửa số 36, tờ bản đồ số 10,
diện tích 531m
2
, mục đích sử dụng: T, nguồn gốc: Đất cấp trại năm 1989; Thửa
số 144, tờ bản đồ số 10, diện tích 135m
2
, mục đích sử dụng: Đất A, nguồn gốc:
Đất cấp trại năm 1989. Trong đơn kê khai, thông tin về số thửa có sửa chữa, tẩy
xóa. Đơn có chữ ký của chủ sử dụng đất Nguyễn Văn X. Ông X cho biết thửa
đất ao 135m
2
là ông mua của thôn X1 năm 1980.
+ Về việc nộp, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến nguồn gốc đất:
Thời điểm kê khai, xét duyệt cấp GCNQSDĐ năm 2001: Thôn, xã không
thu và lưu trữ giấy tờ, chứng từ gì liên quan đến nguồn gốc sử dụng đất, nộp
tiền mua đất của hộ. UBND xã X1 không thu và nộp hồ sơ giấy tờ gì liên quan
nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông X về Phòng Địa chính huyện G. Phòng Địa
chính không thu giữ các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng đất, việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính của hộ sử dụng đất, có nguồn gốc giao bán trái thẩm quyền
trước khi kê khai cấp GCNQSDĐ thời điểm năm 2001.
+ Cơ sở pháp lý để xác định việc hộ đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính:
Hiện không có đầy đủ hồ sơ, sổ sách, chứng từ để khẳng định việc hộ đã
hoàn thành nghĩa vụ tài chính khi được giao đất trái thẩm quyền ở thời điểm
trước đây.

6
Do hộ ông X kê khai sai nguồn gốc sử dụng đất, nên được xét cấp
GCNQSDĐ năm 2001 và hộ không phải nộp tiền sử dụng đất.
Từ kết quả kiểm tra, xác minh trên của Tổ công tác; căn cứ quy định của
pháp luật về đất đai và các văn bản pháp lý hiện hành. Ngày 21/02/2021, UBND
huyện G đã có Kết luận số 72/KL-UBND, xử lý nội dung kiến nghị của công
dân như sau:
- Cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Văn X tại thửa số 186 (năm 2001
là thửa số 36), thửa số 144; tờ bản đồ số 10 xã X1 theo nội dung Kết luận thanh
tra số 89/KL-UBND ngày 28/9/2020 của UBND huyện; người sử dụng đất phải
thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Nếu vướng mắc về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp
GCNQSDĐ cho hộ theo nội dung Kết luận thanh tra, người sử dụng đất có thể
đề nghị cấp lại GCNQSDĐ theo Quyết định cấp GCNQSDĐ trước đây.
Như vậy, việc UBND huyện G ban hành Kết luận số 72/KL-UBND ngày
21/01/2022 về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn X thôn X1,
xã X1 là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về giải
quyết đơn kiến nghị của công dân và các văn bản pháp luật về đất đai như: Luật
Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998
và các văn bản pháp lý có liên quan; Luật Đất đai năm 2013; Quyết định số
11/2018/QĐ-UBND ngày 05/6/2018 của UBND tỉnh B và các văn bản pháp lý
hiện hành. Việc ông Nguyễn Văn X yêu cầu UBND huyện G phải cấp cho gia
đình ông 543m
2
đất ở là không có căn cứ pháp lý, không đúng với quy định hiện
hành của nhà nước về cấp GCNQSDĐ. Vì không có cơ sở pháp lý để xác định
việc hộ ông X đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính khi được giao đất trái thẩm
quyền ở thời điểm trước đây. UBND huyện G đề nghị Toà án nhân dân tỉnh B
không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn X.
Đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã X1
trình bày:
Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ năm 2001 thì khi đó huyện chuyển phôi
GCNQSDĐ ký sẵn về cho UBND xã X1 để ghi. Việc ghi trên GCNQSDĐ có sự
sai lệch so với Quyết định 453 là do sơ xuất tại thời điểm đó. Đề nghị Tòa án
xem xét theo quy định pháp luật, tạo điều kiện để cho công dân được cấp
GCNQSDĐ đảm bảo tình hình tại địa phương.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T2, anh Nguyễn
Văn Đ, chị Nguyễn Thị Đ1, và chị Nguyễn Thị V trình bày: Thống nhất với quan
điểm và yêu cầu của ông Nguyễn Văn X.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 37/2022/HCST ngày 28 tháng 9
năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh B đã quyết định:

7
Áp dụng các Điều 30, Điều 32, Điều 115, Điều 116; điểm a khoản 2 Điều
193 Luật Tố tụng hành chính; Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương;
Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011, Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về
án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X cụ thể:
- Bác yêu cầu khởi kiện hủy Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022
của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Nguyễn
Văn X, thôn X1, xã X1.
- Bác yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày
10/12/2001 của UBND huyện G về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn X.
- Bác yêu cầu khởi kiện Yêu cầu UBND huyện G phải cấp lại cho gia
đình ông Nguyễn Văn X tất cả diện tích 543m
2
là đất ở tại nông thôn thuộc thôn
X1, xã X1, huyện G.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 05/10/2022, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn X có đơn kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án hủy Kết
luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch UBND huyện G về việc
giải quyết đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn X và Quyết định số 453/QĐ-
UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình ông; Yêu cầu UBND huyện G
phải cấp lại cho gia đình ông tất cả diện tích 543m² là đất ở tại nông thôn thuộc
thôn X1, xã X1, huyện G vì cho rằng: UBND huyện G không có thẩm quyền
quy định về hạn mức đất ở; Hồ sơ giải quyết xét cấp GCNQSDĐ của ông X
không có ý kiến của người bán đất là Hợp tác xã và ý kiến của người mua đất là
bố mẹ của ông X nên nội dung Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của
Chủ tịch UBND huyện G là không có cơ sở.
Nguồn gốc đất của gia đình ông Nguyễn Văn X là được hợp tác xã cấp từ
năm 1980 cho bố mẹ ông X nên phải căn cứ Nghị quyết 333 của HĐND tỉnh Hà
Bắc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông X nhưng Quyết định
số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G vận dụng Nghị quyết
337 của HĐND tỉnh Hà Bắc về giao đất kinh tế hộ gia đình năm 1988 để chỉ
được cấp 200m
2
đất ở còn lại 331m
2
đất vườn và 135m
2
đất ao là không đúng
quy định. Kết luận số 89/KL-UBND giải quyết xét cấp GCNQSDĐ cho hộ ông

8
X xác định việc chuyển 135m
2
đất ao sang đất ở thì thực hiện nghĩa vụ tài chính
là không đúng quy định…, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ
ông Nguyễn Văn X.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện G và
Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh B không đồng ý với kháng cáo của ông Nguyễn
Văn X. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của
người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
Sau khi phân tích tài liệu có trong hồ sơ thì thấy việc UBND huyện G ban hành
Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 về việc cấp GCNQSDĐ cho
1.552 hộ gia đình, cá nhân xã X1, trong đó hộ ông X được cấp 666m
2
,
gồm: 200m
2
đất ở, 331m
2
đất vườn, 135m
2
đất ao là đảm bảo theo quy định của
pháp luật về đất đai tại thời điểm đó.
Hộ ông X không cung cấp được chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính
mua đất của thôn năm 1980 và việc bán đất là trái thẩm quyền. Việc UBND xã
X1 viết GCNQSDĐ không căn cứ vào Quyết định số 453/QĐ-UB là không
đúng quy định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC nên Kết luận số 89/KL-
UBND giải quyết xét cấp GCNQSDĐ cho hộ ông X với tổng diện tích 543m
2
;
trong đó diện tích công nhận đất ở 408m
2
theo số lượng nhân khẩu trong hạn
mức đất ở; diện tích 135m
2
xác định là đất ao. Trường hợp hộ muốn chuyển
135m
2
đất ao sang đất ở thì thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất, hộ thực
hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định là có căn cứ pháp luật. Tòa án sơ thẩm bác
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X là đúng quy định. Tại phiên tòa phúc
thẩm, người khởi kiện không xuất trình được tài liệu mới có thể làm thay đổi
bản chất vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm.
Do ông X là người cao tuổi và có đơn miễn án phí nên đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông X.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bên
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 15/3/2022, ông Nguyễn Văn X có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án
giải quyết: Hủy Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch
UBND huyện G về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông; Hủy Quyết định số
453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình ông và yêu cầu UBND
huyện G, tỉnh B phải cấp lại cho gia đình ông Nguyễn Văn X tất cả diện tích
543m
2
là đất ở nông thôn tại thôn X1, xã X1, huyện G, tỉnh B nên vụ án được
Tòa án nhân dân tỉnh B thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm

9
quyền quy định tại Điều 30, Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng
hành chính.
[2] Bản án sơ thẩm xác định về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, về
quyết định hành chính liên quan, về tư cách những người tham gia tố tụng trong
vụ án đúng quy định pháp luật. Việc chứng minh, thu thập chứng cứ đã được thực
hiện đầy đủ và đúng theo quy định tại chương VI Luật Tố tụng hành chính.
[3] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn X trong hạn luật định và hợp lệ
nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[4] Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện:
[4.1] Diện tích đất tại khu dân cư thôn X1, xã X1, huyện G, tỉnh B của gia
đình ông Nguyễn Văn X gồm phần diện tích 531m
2
thuộc tờ bản đồ số 10, thửa
số 36 (năm 2018 tách thành thửa số 185, 186), diện tích 135m
2
liền kề thuộc tờ
bản đồ số 10, thửa số 144 là đất ao. Tại Bản đồ năm 1985 thể hiện diện tích
373m
2
nằm trong thửa đất số 587 và phần diện tích còn lại nằm trong thửa đất
số 586 (đất ao).
[4.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông X cho rằng bố mẹ ông mua thửa số
144, diện tích 135m
2
cùng thời điểm năm 1980 các cụ được HTX cấp đất trại
diện tích 531m
2
thuộc thửa số 36, tờ bản đồ số 10 nhưng hiện nay không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Người bị kiện là UBND huyện G cho
rằng hiện nay không có tài liệu chứng minh việc ông X và gia đình ông X mua
đất này, việc ông X sử dụng diện tích đất ao này từ thời điểm năm 1985 được
thể hiện trên Bản đồ năm 1985, lần đầu tiên được thể hiện là khi kê khai diện
tích chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế đất ở nông thôn năm 1994 (ao
mua cạnh nhà: 118m
2
). Điều này phù hợp với trình bày của ông X về việc gia
đình ông X đào đất bên cạnh để lên lấy đất đắp nền nhà thì hiện trạng trở thành
ao. Khi cấp GCNQSDĐ năm 2001 thì diện tích đất này hiện trạng là ao; Đối
chiếu Bản đồ can vẽ năm 1985 với Bản đồ địa chính đo đạc năm 2000-2001 xác
định thửa số 144 hộ ông X đang sử dụng diện tích 135m
2
đất Ao có vị trí tương
ứng với một phần thửa số 586, tờ bản đồ năm 1985.
[5] Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất ngày 15/10/1986 thể
hiện: Hộ ông X xin đăng ký sử dụng diện tích 373m
2
đất thổ cư có nguồn gốc
HTX cấp năm 1984. Tại Sổ mục kê ruộng đất xã X1 lập năm 1988 thể hiện ông
X đứng tên thửa đất số 587, diện tích 373m
2
đất thổ cư (Thửa đất này hiện hộ
ông X đang sử dụng tại thửa số 36 tờ bản đồ số 10 đo đạc năm 2000-2001, diện
tích 531m
2
). Tờ khai diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế đất ở
nông thôn ngày 30/9/1994 thể hiện tổng diện tích ông X kê khai tính thuế là
491m
2
gồm: đất ở: 200m
2
, đất ao: 173m
2
, vườn thừa 118m
2
.
Tại Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001 của UBND huyện G,
tỉnh B cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông X với tổng diện tích 666m
2
gồm các
10
thửa: thửa số 36, diện tích 531m
2
, gồm: đất ở nông thôn 200m
2
, đất vườn 331m
2
và thửa số 144, diện tích 135m
2
đất ao.
Năm 2013, gia đình ông X đã làm thủ tục tặng cho phần diện tích 123m
2
đất ở thuộc thửa số 36 cũ đã được cấp GCNQSDĐ năm 2001 cho con gái là
Nguyễn Thị Đ1. Do đó, việc ông trình bày đến năm 2017 gia đình ông mới phát
hiện Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G có
nội dung gia đình ông X chỉ được cấp 200m
2
đất ở, 331m
2
đất vườn và 135m
2
đất ao là không đúng thực tế.
[6] Năm 2001, UBND huyện G, tỉnh B tiến hành thủ tục cấp GCNQSDĐ
tại xã X1 được thực hiện theo Nghị quyết số 337 của HĐND tỉnh Hà Bắc về
giao đất kinh tế hộ gia đình năm 1988 là chủ trương chung vì sau khi tách tỉnh
năm 1997, HĐND tỉnh B chưa ban hành các Nghị quyết mới trong lĩnh vực
quản lý đất đai nên Nghị quyết 337 của HĐND tỉnh Hà Bắc vẫn có hiệu lực áp
dụng. Theo đó, diện tích đất ở của hộ được thôn, xã giao không vượt quá
200m
2
, diện tích đất ở có nguồn gốc ông cha để lại không vượt quá 300m
2
. Tại
thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ năm 2001, việc xác định diện tích đất ở cho
hộ phải trên cơ sở xác định chi tiết hiện trạng sử dụng đất vào mục đích để ở và
sinh hoạt của hộ. Ông X xác nhận tại thời điểm năm 2001, thửa số 144 diện tích
135m
2
hiện trạng vẫn là đất ao. Hộ ông X không có giấy tờ hợp lệ theo quy định
tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 17/1999/NĐ-CP của Chính phủ nên Quyết định
số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001 của UBND huyện G duyệt cấp giấy chứng
nhận cho gia đình ông X đối với các thửa 36, 144 thuộc tờ bản đồ số 10 với tổng
diện tích 666m
2
. Trong đó, thửa số 36 diện tích 531m
2
, gồm: đất ở nông thôn
200m
2
, đất vườn 331m
2
và thửa số 144 diện tích 135m
2
đất ao là phù hợp quy
định của pháp luật về đất đai tại thời điểm giao đất. Do đó, Tòa án sơ thẩm bác
yêu cầu hủy Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 10/12/2001 nêu trên của người
khởi kiện là đúng quy định của pháp luật.
[7] Quyết định giao quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Đối chiếu với
danh sách kèm theo Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của UBND
huyện G về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông X thì
nội dung trên GCNQSDĐ cấp năm 2001 của hộ gia đình ông X có sự sai khác
khi thể hiện thửa số 36, diện tích 531m
2
(mục đích sử dụng đất ở) và thửa số
144, diện tích 135m
2
(mục đích sử dụng đất ao) nên phải thu hồi, cấp đổi lại
theo quy định.
[8] Mặc dù tại Biên bản hội nghị quân dân chính thôn X1, lập ngày
10/9/2018 nêu: “Năm 1979-1980, HTX cấp cho các hộ có nhiều nhân khẩu là
360m
2
/hộ và có bán thêm diện tích để đào đất đổ nền nhà, tôn vườn. Hiện thôn,
xã không còn lưu giữ hồ sơ”. Tuy nhiên, ông X không cung cấp được hồ sơ,
giấy tờ gì liên quan đến việc gia đình ông mua thửa số 144 của Hợp tác xã nên

11
thuộc trường hợp phải thu tiền sử dụng đất khi xét cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày
23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
[9] Theo quy định tại Điều 101, Điều 103 Luật Đất đai năm 2013; Điều
20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Điều 4 Quyết định số 11/2018/QĐ-UBND
của UBND tỉnh B thì hộ gia đình ông Nguyễn Văn X được cấp đổi lại
GCNQSDĐ (đã trừ diện tích tặng cho con gái) là công nhận đất ở 408m
2
theo số
lượng nhân khẩu trong hạn mức đất ở không phải nộp tiền sử dụng đất; diện tích
135m
2
xác định là đất ao. Trường hợp hộ muốn chuyển 135 m
2
đất ao sang đất ở
thì thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Như vậy, khi cấp lại GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì
quyền lợi của gia đình ông X được đảm bảo. Sau này gia đình ông X có thể đề
nghị cấp lại GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai hiện hành để đảm bảo
quyền lợi của gia đình mình.
Do đó, Kết luận số 72/KL-UBND có nội dung: Cấp GCNQSDĐ cho hộ
ông Nguyễn Văn X tại thửa số 186 (năm 2001 là thửa số 36), thửa số 144; tờ
bản đồ số 10 xã X1 theo nội dung Kết luận thanh tra số 89/KL-UBND ngày
28/9/2020 của UBND huyện; người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài
chính theo quy định của pháp luật. Nếu vướng mắc về việc thực hiện nghĩa vụ
tài chính khi cấp CNQSDĐ cho hộ theo nội dung Kết luận thanh tra, người sử
dụng đất có thể đề nghị cấp lại GCNQSDĐ theo Quyết định cấp GCNQSDĐ
trước đây là có căn cứ;
[10] Như đã phân tích, hồ sơ địa chính và ông X cũng xác nhận thửa số
144 nguyên là đất ao, tại thời điểm cấp GCNQSDĐ năm 2001 hiện trạng sử
dụng cũng là đất ao. Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 10/12/2001 của
UBND huyện G đã phê duyệt cấp cho gia đình ông X thửa số 144 diện tích
135m
2
mục đích sử dụng đất ao là đúng mục đích sử dụng đất. Bản thân gia
đình ông X từ khi được cấp GCNQSDĐ thửa số 144 là đất ao đến năm 2017
cũng không có khiếu nại gì về việc cấp GCN đất ao này. Năm 2020, gia đình
ông tự ý san lấp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được cơ quan có thẩm
quyền cho phép. Việc ông X yêu cầu UBND huyện G phải cấp lại thửa số 144
diện tích 135m
2
, mục đích sử dụng đất là đất ao thành đất ở nông thôn là không
có cơ sở chấp nhận.
[11] Theo trình bày và xác minh của UBND huyện G và UBND xã X1 thì
tất cả tài liệu về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định 453 đều thất lạc, chỉ còn
Quyết định 453 và danh sách các hộ được cấp GCNQSDĐ kèm theo. Từ khi
được giao đất và được cấp GCNQSDĐ, gia đình ông X không khiếu nại về trình
tự thủ tục ban hành Tòa án không có tài liệu, chứng cứ để xem xét đánh giá về
trình tự thủ tục ban hành. Tuy nhiên, như đã phân tích Quyết định số 453/QĐ-
UBND ngày 10/12/2001 của UBND huyện G về việc cấp giấy chứng nhận

12
quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn X là đúng
thẩm quyền, có căn cứ.
[12] Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch UBND
huyện G, tỉnh B về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn X, thôn
X1, xã X1 được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, hình thức văn bản
đúng theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015 và Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của
Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính. Tòa án
sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày
10/12/2001 của UBND huyện G về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và đề nghị hủy Kết luận số 72/KL-UBND ngày 21/01/2022 của Chủ tịch UBND
huyện G, tỉnh B của người khởi kiện là đúng quy định.
[13] Như đã phân tích, UBND huyện G thu hồi GCNQSDĐ đã cấp năm
2001 để cấp lại GCNQSDĐ cho gia đình ông X theo quy định của Luật Đất đai
hiện hành. Việc xác định nghĩa vụ tài chính khi cấp lại GCNQSDĐ sẽ được
UBND huyện G và cơ quan thuế xác định khi thực hiện thủ tục hành chính cấp
lại GCNQSDĐ theo quy định pháp luật. Hộ ông X chưa thực hiện nghĩa vụ tài
chính khi đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đối với 135m
2
đất ao sang đất ở
nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu UBND huyện G phải cấp lại cho gia đình
ông Nguyễn Văn X tất cả diện tích 543m
2
đất tại thôn X1, xã X1, huyện G là
đất ở nông thôn của người khởi kiện. Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện này của người khởi kiện là đúng quy định.
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người khởi
kiện; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[14] Kháng cáo của ông X không được chấp nhận nhưng ông là người cao
tuổi và có yêu cầu nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn X;
giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 37/2022/HCST ngày 28 tháng 9 năm
2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B;
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn X được miễn toàn bộ án phí hành chính
phúc thẩm.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
13
* Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh B;
- VKSND tỉnh B;
- Cục THADS tỉnh B;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Thị Mai
-
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm