Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST ngày 23/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 95/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST ngày 23/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 95/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7- VĨNH LONG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 95/2026/HNGĐ-ST
Ngày 23/7/2026
Về việc: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- VĨNH LONG
[
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Khoa.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lan Chi, Thư ký Toà án nhân dân khu vực
7- Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long tham gia phiên
toà: Bà Võ Thị Minh Trang, Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu
vực 7- Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2026/TLST-
HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 141/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2026, Quyết định
hoãn phiên toà số 127/2026/QĐST- HNGĐ ngày 25/6/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1967; Địa chỉ: A, ấp M (nay
là ấp M), xã P, tỉnh Vĩnh Long (Trước đây là 163, ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến
Tre)
- Bị đơn: Nghiêm Văn M, sinh năm: 1973; Địa chỉ: A, ấp M, (nay là ấp
M), xã P, tỉnh Vĩnh Long (Trước đây là 163, ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre)
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/12/2025, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Y trình bày:
Bà và bị đơn là ông Nghiêm Văn M chung sống với nhau có đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy Ban nhân dân xã
T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 06/11/1996. Hôn nhân do tự nguyện. Sau kết hôn,
cuộc sống hôn nhân vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau giữa
vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm
sống. Thời gian đỉnh điểm là khoảng vào năm 2024, mâu thuẫn ngày càng gay
gắt, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 9/2025 cho đến nay. Do tình cảm
vợ chồng không còn nữa nên bà có yêu cầu ly hôn với ông M.
2
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nghiêm Thị Hồng N,
sinh ngày 06/3/1994, hiện nay con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống
được nên bà không có yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà bận công việc riêng, không thể sắp xếp thời gian đến Toà tham gia
giải quyết vụ án nhiều lần được nên bà có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bà sẽ
không có khiếu nại.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long đã thông báo
và tổ chức các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nghiêm Văn
M, là bị đơn trong vụ án đều vắng mặt không lý do.
Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân khu vực 7- Vĩnh
Long đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 25 tháng 6 năm 2026, ông M vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay, ông M vẫn vắng
mặt không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Thẩm phán đã xác định đúng
tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ trong
quá trình tố tụng. Thẩm phán đảm bảo đúng theo thời gian giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, vô tư,
khách quan. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn
chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật
Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu xin ly
hôn của bà Nguyễn Thị Y. Bà Nguyễn Thị Y và ông Nghiêm Văn M được ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Y và ông M có 01 con
chung tên là Nghiêm Thị Hồng N, sinh ngày 06/3/1994, hiện nay con chung đã
trưởng thành, tự lao động sinh sống được, bà Y không có yêu cầu Toà án giải
quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y khai không có và không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Do ông M không đến Tòa án để giải quyết về việc ly hôn nên
không xem xét được ông M có yêu cầu về việc tranh chấp tài sản chung và nợ
chung hay không. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thầm: bà Nguyễn Thị Y phải chịu
300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đối với bà Nguyễn Thị Y là nguyên đơn trong vụ án vắng
mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Nghiêm Văn M là bị
3
đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Y và ông M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông M tự nguyện chung sống với nhau,
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy
Ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 06/11/1996 nên quan hệ hôn nhân
của ông bà được coi là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy hôn nhân của bà Y, ông M được xác lập trên cơ sở tự nguyện của
cả hai phía. Quá trình chung sống, bà Y cho rằng bà và ông M xảy ra bất đồng
quan điểm nên không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Theo bà Y trình bày,
bà và ông M đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải vã vì bất đồng
quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, tình cảm vợ chồng không
còn, không ai quan tâm tới ai nên bà và ông M đã tự chia tay và sống ly thân với
nhau từ khoảng tháng 9/2025 cho đến nay, không có thời gian đoàn tụ. Sau khi bà
Y có yêu cầu xin ly hôn với ông M, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để tạo
điều kiện động viên cho bà Y và ông M hàn gắn, nhưng ông M đều vắng mặt
không lý do nên không thể tiến hành hoà giải cho bà Y và ông M đoàn tụ được.
Việc ông M vắng mặt là ông M đã bỏ mặc với yêu cầu xin ly hôn của bà Y, đã
đương nhiên từ bỏ quyền trình bày và quyền cung cấp chứng cứ của mình tại tòa.
Do bà Y không còn tình cảm vợ chồng với ông M nữa nên bà có yêu cầu Tòa án
giải quyết cho bà được ly hôn với ông M. Tòa án đã động viên bà Y trở về cùng
đoàn tụ với ông M nhưng bà Y không đồng ý vẫn cương quyết xin ly hôn với ông
M.
Qua đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân của bà Y và ông M đã mâu thuẫn
trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp
nhận yêu cầu của bà Y, cho bà Y được ly hôn với ông M.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Y và ông M có 01 con
chung tên là Nghiêm Thị Hồng N, sinh ngày 06/3/1994, hiện nay con chung đã
trưởng thành, tự lao động sinh sống được, bà Y không có yêu cầu Toà án giải
quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y khai không có và không có tranh chấp,
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông M không đến Tòa án để giải quyết về
việc ly hôn nên không xem xét được ông M có yêu cầu về việc tranh chấp tài sản
chung và nợ chung hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau
này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án
khác.
- Về án phí: Bà Y phải chịu án phí Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng).
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 2
Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Nghiêm Văn M.
2. Về con chung: Bà Y và ông M có 01 con chung tên là Nghiêm Thị
Hồng N, sinh ngày 06/3/1994, hiện nay con chung đã trưởng thành, tự lao động
sinh sống được, bà Y không có yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y khai không có và không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Do ông M không đến Tòa án để giải quyết về việc ly hôn nên
không xem xét được ông M có yêu cầu về việc tranh chấp tài sản chung và nợ
chung hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên
có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
bà Y đã nộp theo biên lai thu số 0001660 ngày 22/01/2026 của Thi hành án Dân
sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Y đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết, các bên đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7- Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long
- Lưu hồ sơ vụ án. Võ Thế Trang Đền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST Bản án số 95/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất