Bản án số 927/2026/DS-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 927/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 927/2026/DS-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 927/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 927/2026/DS-ST Bản án số 927/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 927/2026/DS-ST Bản án số 927/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 927/2026/DSST
Ngày: 30/07/2026
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Y
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Đinh Thị Kim Đ
Bà Nguyễn Thị Xuân P
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân
dân Khu vực 3 - Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30.7.2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 263/2026/TLST-DS ngày 04/02/2026 về
việc tranh chấp về thừa kế tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1131/2026/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2026; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Mạnh H; sinh ngày: 24/9/1958; CCCD số:
************; Địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội; Điện thoại:
0903408400. Có mặt
- Bị đơn: Bà Đỗ Trần Thu T; sinh ngày: 09/09/1999; CCCD số:
************ cấp ngày 21/3/2025. HKTT: C16 N3 khu đô thị mới Định Công,
phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thu P ; sinh ngày: 15/8/1994
Địa chỉ cư trú cuối cùng: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội. Vắng mặt
- Ông Trần Văn C, sinh năm: 1939; CCCD số: ************ cấp ngày
2
14/4/2021; HKTT: 409 K2 Bách Khoa, Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch
Mai), Hà Nội. Có mặt
- Bà Tô Thị Minh Đ; sinh năm: 1939; CCCD số: ************ cấp ngày
14/4/2021; HKTT: 409 K2 Bách Khoa, Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch
Mai), Hà Nội. Có mặt
- Ông Phan Văn A, sinh năm 1977, CMND số ************ do Cục
CSQLHC về TTXH cấp ngày 01/5/2021. Có đơn xin vắng mặt- Bà Lương
Ngọc Th, CCCD số ************ do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày
01/5/2021. Có đơn xin vắng mặt
Cùng nơi thường trú: Số 5 ngõ 104, Lê Trọng Tấn, Khương Mai, Thanh Xuân,
Hà Nội.
- Bà Phạm Thị Lan H, sinh năm 1972 CCCD ************ cấp ngày
12/09/2022; Địa chỉ thường trú tại Việt Nam: số nhà 11/108 Cát Cụt, Phường
Lê Chân, Tp Hải Phòng; Số hộ chiếu: ******** ngày cấp 23/01/2020 nơi cấp:
Phrăng-phuốc/Frankfurt am Main; Hiện đang cư trú tại: Binger StraBe 11-
55116 -Mainz- Cộng Hòa Liên Bang Đức. Có đơn xin vắng mặt
- Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajoco); Nay là
công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark; Địa chỉ: Khu đô thị thương mại và du
lịch Văn Giang, xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1964, CCCD: ************ cấp ngày
20/08/2024; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Địa chỉ thường trú: số 110 Cát
Cụt, phường Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Có mặt
- Bà Phạm Lê H, sinh năm 1969, CCCD: ************ cấp ngày 08/07/2022;
Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Địa chỉ thường trú: số 110 Cát Cụt, phường
Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, nguyên đơn là ông Đỗ Mạnh H trình bày:
Vợ ông là bà Trần Thị Thanh Thuỷ (sinh năm 1964, mất ngày
21/11/2015), khi còn sống bà sinh sống tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ 60 lập
năm 2006, địa chỉ C16 N3 khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận
3
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Ông và bà Thuỷ có 02 người con đẻ là: Đỗ Thu
P (sinh năm 1994) và Đỗ Trần Thu Tr (sinh năm 1999). Ngoài ra tôi và bà T
không có con nuôi, con đẻ nào khác.Bố mẹ của bà Trần Thị Thanh T là cụ Trần
Văn C (sinh năm 1939) và cụ Tô Thị Minh Đ (sinh năm 1939) thường trú tại
địa chỉ 409 K2 Bách Khoa, Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch Mai), Hà Nội.
Bà T không có bố mẹ nuôi nào khác.
Quá trình sinh sống ông và bà Trần Thị Thanh T, có tạo lập được khối
tài sản như sau:
Thứ nhất: Nhà, đất theo theo GCN QSH nhà ở và QSH đất ở số
10107230462 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2001, diện
tích 92.68 m2, tại số 235 phố Bạch Mai, phường cầu Dền, quận Hai Bà Trưng
(nay là phường Bạch Mai), Hà Nội;
Thứ hai: Nhà, đất theo GCN QSDĐ số AD 068308 do Sở tài nguyên
môi trường và nhà đất cấp ngày 17/7/2006, diện tích 97.5 m2, tại C15+C16 –
N3 khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội;
Thứ ba: Nhà, đất theo GCN QSDĐ số AM 635397 do Sở tài nguyên và
môi trường cấp ngày 20/5/2008, diện tích 305.1 m2, tại xã Quang Minh, huyện
Mê linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng số công chứng
1179/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu-
thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009, tài sản gắn liền với đất: nhà bê tông 03
tầng với diện tích sử dụng 427.8 m2);
Thứ tư: Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích
135 m2 theo GCN QSDĐ số 10111131307 tại địa chỉ: tổ 1 cụm 5 phường
Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội do Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày
19/09/2001, thành phố Hà Nội, đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà
Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003.
Thứ năm: Quyền sở hữu nhà ở theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành
trong tương lai số HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, diện tích
320.54 m2, tại nhà phố số THA-175 khu Nhà phố Thảo Nguyên theo dự án Khu
Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên;
4
Thứ sáu: Quyền sở hữu nhà ở theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành
trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, diện tích
470 m2, tại Biệt thự số MMS-168A khu Biệt thự Mimosa Valley theo Khu Đô
thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên.
Thứ bảy: Đối với tài sản Quyền sử dụng đất, nhà ở theo GCN QSDĐ
QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và
môi trường cấp ngày 28/10/2014, diện tích 2715 m2, tại Nhà CT9, khu đô thị
mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (đã chuyển giao
cho bà Phạm Lê H, sinh năm 1969; CCCD số ************; Cấp ngày
08/7/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về trật tự xã hội, trú tại: 110 Cát Cụt, Hồ
Nam, Lê Chân, Hải Phòng) vào năm 2006. Tại thời điểm mua bán, GCN QSDĐ
QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên chưa được cấp nên đến thời
điểm hiện tại người mua vẫn chưa sang tên GCN QSDĐ QSH nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất).
Nay bà Trần Thị Thanh T - vợ ông đã chết ngày 21/11/2015 theo Giấy
chứng tử số 17/2015 quyển số 01/2015 ngày 25/11/2015, bà Thủy chết không
để tại di chúc, vì vậy ông yêu cầu Toà án:
Thứ nhất, xác định di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh T;
Thứ hai, xác định hàng thừa kế thứ nhất gồm 05 người: Ông Đỗ Mạnh
H (chồng) theo Giấy CNKH số 52 quyển số 07 ngày 29/8/1995 của Uỷ ban
nhân dân phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Bà Đỗ Thu P (con
đẻ) theo Giấy khai sinh số 76 quyển số 07 ngày 05/9/1995 của Uỷ ban nhân
dân phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (bản sao); Bà Đỗ Trần
Thu T (con đẻ) theo Giấy khai sinh số 145 quyển số 01 ngày 21/9/1999 của Uỷ
ban nhân dân phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (bản sao); Ông
Trần Văn C (bố đẻ) theo Bản sao giấy khai sinh số 126 ngày 29/12/1964 của
Uỷ ban hành chính xã Quyết Tiến, huyện Gia Lâm, Hà Nội; Bà Tô Thị Minh
Đức (mẹ đẻ) theo Bản sao giấy khai sinh số 126 ngày 29/12/1964 của Uỷ ban
hành chính xã Quyết Tiến, huyện Gia Lâm, Hà Nội.Thứ ba, yêu cầu Toà án
chia di sản theo pháp luật đối với di sản của bà Thủy trong khối tài sản chung
của ông và bà T trong thời kỳ hôn nhân:
5
- ½ giá trị nhà, đất theo theo GCN QSH nhà ở và QSH đất ở số
10107230462 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2001, diện
tích 92.68 m2, tại số 235 phố Bạch Mai, phường cầu Dền, quận Hai Bà Trưng
(nay là phường Bạch Mai), Hà Nội;
- ½ giá trị Nhà, đất theo GCN QSDĐ số AD 068308 do Sở tài nguyên
môi trường và nhà đất cấp ngày 17/7/2006, diện tích 97.5 m2, tại C15+C16 –
N3 khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội;
- ½ giá trị nhà, đất theo GCN QSDĐ số AM 635397 do Sở tài nguyên
và môi trường cấp ngày 20/5/2008, diện tích 305.1 m2, tại xã Quang Minh,
huyện Mê linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng số công
chứng 1179/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công chứng Hoàng
Cầu-thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009, tài sản gắn liền với đất: nhà bê tông
03 tầng với diện tích sử dụng 427.8 m2);
- ½ giá trị nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích
135 m2 theo GCN QSDĐ số 10111131307 tại địa chỉ: tổ 1 cụm 5 phường
Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội do Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày
19/09/2001, thành phố Hà Nội, đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà
Trần Thị Thanh T ngày 27/8/2003.
- 50% tổng số tiền thanh toán đợt 1 (trong tổng số tiền là: 839.446.139
VNĐ, tại thời điểm ký hợp đồng ngày 23/10/2015) đối với căn hộ theo Hợp
đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/Vihajico-THA-175
ngày 09/10/2015, diện tích 320.54 m2, tại nhà phố số THA-175 khu Nhà phố
Thảo Nguyên theo dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang
(ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- 50% tổng số tiền thanh toán đợt 1 (trong tổng số tiền là: 2.242.455.079
VNĐ, tại thời điểm ký hợp đồng ngày 09/10/2015) đối với căn hộ theo Hợp
đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-MMS-
168A ngày 23/10/2015, diện tích 470 m2, tại Biệt thự số MMS-168A khu Biệt
thự Mimosa Valley theo Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang
(ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Riêng đối với tài sản Quyền sử dụng đất, nhà ở theo GCN QSDĐ QSH
6
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi
trường cấp ngày 28/10/2014, diện tích 2715 m2, tại Nhà CT9, khu đô thị mới
Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội ông có ý kiến như
sau: chúng tôi đã chuyển giao cho bà Phạm Lê H, sinh năm 1969; CCCD số
************; Cấp ngày 08/7/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về trật tự xã hội,
trú tại: 110 Cát Cụt, Hồ Nam, Lê Chân, Hải Phòng và ông Vũ Mạnh H, sinh
năm 1964) vào năm 2006. Tại thời điểm mua bán, GCN QSDĐ QSH nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất trên chưa được cấp nên đến thời điểm hiện tại bà
Hoa, ông Hiệp vẫn chưa sang tên GCN QSDĐ QSH nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất). Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua
bán căn hộ giữa tôi và bà Hoa, ông Hiệp để bà Hoa, ông Hiệp hoàn thiện thủ
tục pháp lý sang tên đối với căn hộ nêu trên.
Tại Bản tự khai tại Tòa án, bị đơn là chị Đỗ Trần Thu T trình bày:
Chị là con đẻ của ông Đỗ Mạnh H, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Thanh
Thuỷ (sinh năm 1964, mất ngày 21/11/2015). Khi còn sống bà sinh sống tại
thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ 60 lập năm 2006, địa chỉ C16 N3 khu đô thị mới
Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Bố mẹ
chị có 02 người con đẻ là chị và chị Đỗ Thu P, sinh năm 1994, địa chỉ cư trú
cuối cùng: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội. Ngoài ra, bố mẹ chị
không có con nuôi, con đẻ nào khác. Chị Đỗ Thu P hiện tại không ở tại địa chỉ:
235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội. Tháng 6 năm 2018 chị Phương có
ở cùng ông bà ngoại của hai chị, sau đó chị Phương quay về Mỹ du học nên gia
đình chúng tôi không gặp và cũng không biết chị Phương ở đâu từ thời điểm
đó đến nay. Bố mẹ đẻ của mẹ chị là cụ Trần Văn C (sinh năm 1939) và cụ Tô
Thị Minh Đ (sinh năm 1939) hiện cùng thường trú tại địa chỉ 409 K2 Bách
Khoa, Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch Mai), Hà Nội. Ngoài bố mẹ đẻ, mẹ
chị không có bố mẹ nuôi nào khác.
Về di sản thừa kế: Mẹ chị mất không để lại di chúc, di sản thừa kế của
mẹ chị để lại là khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bố mẹ chị, cụ thể
là: ½ Giá trị nhà, đất theo theo GCN QSH nhà ở và QSH đất ở số 10107230462
do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2001, diện tích 92.68 m2,
tại số 235 phố Bạch Mai, phường cầu Dền, quận Hai Bà Trưng (nay là phường
7
Bạch Mai), Hà Nội; ½ giá trị nhà, đất theo GCN QSDĐ số AD 068308 do Sở
tài nguyên môi trường và nhà đất cấp ngày 17/7/2006, diện tích 97.5 m2, tại
C15+C16 – N3 khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội; ½ giá trị nhà, đất theo GCN QSDĐ số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, diện tích 305.1 m2, tại xã
Quang Minh, huyện Mê linh, tỉnh Vĩnh Phúc; ½ giá trị nhà, đất tại thửa đất số
27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2 theo GCN QSDĐ số 10111131307
tại địa chỉ: tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội; 50% tổng
số tiền thanh toán đợt 1 (trong tổng số tiền là: 839.446.139 VNĐ, tại thời điểm
ký hợp đồng ngày 23/10/2015) đối với căn hộ theo Hợp đồng mua bán nhà ở
hình thành trong tương lai số HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015,
diện tích 320.54 m2, tại nhà phố số THA-175 khu Nhà phố Thảo Nguyên theo
dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên; 50% tổng số tiền thanh toán đợt 1 (trong tổng số tiền là:
2.242.455.079 VNĐ, tại thời điểm ký hợp đồng ngày 09/10/2015) đối với căn
hộ theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, diện tích 470 m2, tại Biệt thự số MMS-
168A khu Biệt thự Mimosa Valley theo Khu Đô thị Thương mại và Du lịch
Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Việc bố chị là ông
Đỗ Mạnh H khởi kiện chia thừa kế do trước đây gia đình chị không thống nhất
được với nhau, nay chị đã hiểu ra vấn đề và hoàn toàn nhất trí với bố chị về các
quan điểm giải quyết vụ án của bố chị trình bày tại Tòa án, chị đề nghị tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với tài sản căn hộ chung cư số 1602 nhà CT9, diện tích sàn: 68,7
m2, hình thức sở hữu: Riêng tại thửa đất số CT9, diện tích 2715,0 m2, hình
thức sử dụng: sử dụng chung tại địa chỉ: Khu đô thị mới Định Công, phường
Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố
Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày
28/10/2014 đứng tên mẹ chị Trần Thị Thanh Thủy, chị có ý kiến như sau: Do
tài sản này đã được chuyển giao cho người khác nên không phải là di sản thừa
kế của mẹ chị để lại. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
8
Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là ông Trần Văn C và bà Tô Thị Minh Đ trình bày:
Ông bà là bố mẹ đẻ của bà Trần Thị Thanh Thuỷ, sinh năm 1964 (chết
ngày 21/11/2015 theo Giấy chứng tử số 17/2015 quyển số 01/2015 ngày
25/11/2015, chết không để tại di chúc). Chị Thủy có chồng là ông Đỗ Mạnh H
và 02 con gái là: Đỗ Thu P và Đỗ Trần Thu T. Cháu Đỗ Thu P hiện tại không
ở tại địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội. Tháng 6 năm 2018
cháu Phương có ở cùng ông bà, sau đó cháu Phương quay về Mỹ du học nên
ông bà cũng như ông Hùng không gặp và cũng không biết chị Phương ở đâu từ
thời điểm đó đến nay. Nay bà Thủy chết (năm 2015), không để lại di chúc. Di
sản thừa kế của bà Thủy nằm trong khối tài sản chung của bà Thủy và ông
Hùng. Theo lời khai của ông Hùng, ông bà nhất trí khối tài sản chung của ông
Hùng, bà Thủy được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông bà Hùng, bà Thủy
và di sản thừa kế của bà Thủy để lại như ông Hùng trình bày ở trên. Ông bà đề
nghị tòa án chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Thu Thủy theo quy định của
pháp luật. Đồng thời chia cho ông bà phần di sản bằng hiện vật (quyền sử dụng
đất) tương ứng đối với kỷ phần của ông bà.
Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thu P
nhưng chị Phương không tham gia tố tụng. Ngày 27/03/2026, qua xác minh tại
công an phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội cung cấp: Hiện chị Phương không
còn ăn ở, sinh sống tại địa chỉ 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà Nội. Ngày
13/5/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội đã ra thông báo trên phương
tin thông tin đại chúng để thông báo chị Đỗ Thu P đến Tòa án tham gia tố tụng
trước ngày 13/03/2026. Nhưng đến nay chị Phương không có mặt và hiện
không biết chị Phương đang ở đâu.
Tại văn bản gửi Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công
ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajoco); Nay là công ty cổ
phần Tập đoàn Ecopark trình bày:
Theo hồ sơ do công ty quản lý, đối với nhà phố số THA-175, công ty
đã hoàn tất việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Đối với biệt thự só MMS-168A,
ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy đã thanh toán đến 21/03/2017 với
9
tổng số tiền là 7.474.850.510 đồng. Các thông tin được thể hiện tại hồ sơ, chứng
từ do công ty lưu trữ và gửi kèm. Về tình trạng bàn giao tài sản: Nhà phố số
THA-175 đã được bàn giao vào ngày 03/7/2017 theo biên bản bàn giao được
ký kết giữa công ty và bên mua. Người nhận bàn giao theo biên bản bàn giao
là ông Đỗ Mạnh H. Đối với Biệt thự số MMS-168A đã được bàn giao vào ngày
theo biên bản bàn giao được ký kết giữa công ty và bên mua. Người nhận bàn
giao theo biên bản bàn giao là ông Đỗ Mạnh H. Đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và yêu cầu khác của các đương sự trong vụ án, công ty không có ý
kiến gì, đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Kèm
theo văn bản trình bày, công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark đã cung cấp các hóa
đơn giá trị gia tăng, bản sao hợp đồng mua bán nhà ở và biên bản bàn giao kỹ
thuật nhà phố, biên bản bàn giao kỹ thuật biệt thự.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Vũ Mạnh H và bà Phạm Lê
H trình bày:
Vợ chồng ông bà là chủ sở hữu hợp pháp của căn hộ chung cư số 1602
nhà CT9, diện tích sàn: 68,7 m2, hình thức sở hữu: Riêng tại thửa đất số CT9,
diện tích 2715,0 m2, hình thức sử dụng: sử dụng chung tại địa chỉ: Khu đô thị
mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường
Phương Liệt, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên
và môi trường cấp ngày 28/10/2014 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy.
Về nguồn gốc quá trình chuyển nhượng, mua bán căn hộ trên thực tế
như sau: Ngày 06/04/2006: Bà Trần Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Mạnh H
chuyển nhượng căn hộ trên cho ông Phan Văn Anh, và bà Lương Ngọc Thủy;
Giá bán 490.000.000 VND, trong đó vợ chồng bà Thủy, ông Hùng đã nhận
297.640.000 vnd và còn số tiền 192.360.000 vnd ông Phan Anh giao sau cho
chủ Đầu tư là Xí nghiệp xây dựng tư nhân số 1. Giữa các bên có hợp đồng mua
bán viết tay và có hợp đồng ủy quyền công chứng, HĐ số 173/XN, đơn đề nghị
gửi xí nhiệp Xây dựng tư nhân số 1 nguyện vọng chuyển người đứng tên chính
chủ Phan Văn Anh. Tại thời điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
10
liền với đất. Ngày 28/08/2007: Ông Phan Văn Anh và bà Lương Ngọc Thủy
chuyển nhượng căn hộ trên cho bà Phạm Thị Lan Hương (em gái ruột của bà
Phạm Lê H), giá bán 820.000.000 VND, đã nhận đủ tiền và giao nhà ở. Giữa
các bên có hợp đồng mua bán căn hộ viết tay, giấy biên nhận, giấy cam kết. Tại
thời điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Ngày
06/01/2009: Bà Phạm Thị Lan Hương chuyển nhượng lại căn hộ trên cho vợ
chồng ông bà, giá bán 820.000.000 VND, đã nhận đủ tiền và giao nhà ở. Các
bên có lập hợp đồng mua bán nhà ở, có người làm chứng nhưng không làm thủ
tục công chứng, chứng thực vì thời điểm đó căn hộ trên vẫn chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất. Từ thời điểm nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông bà đã nhận nhà và sử
dụng ổn định từ năm 2009 đến nay, không có tranh chấp gì. Thực tế căn hộ đã
chuyển nhượng xong từ lâu, không còn là tài sản thực tế của bà Trần Thị Thanh
Thủy và ông Đỗ Mạnh H. Ngày 28/10/2014, căn hộ trên được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số:
BT555170, đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy. Tuy nhiên, ông bà chưa kịp làm
thủ tục sang tên căn hộ trên thì ngày 21/11/2015 bà Thủy chết (theo giấy báo
tử số 77/2015). Do đó, ông bà đề nghị Tòa án:
- Xác định: Căn hộ chung cư số 1602 nhà CT9, diện tích sàn: 68,7 m2,
hình thức sở hữu: Riêng, tại thửa đất số CT9, diện tích 2715,0 m2, hình thức sử
dụng: sử dụng chung tại địa chỉ: Khu đô thị mới Định Công, phường Định
Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố Hà
Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày
28/10/2014 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy không phải là di sản thừa kế của
bà Thủy.
- Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực pháp lý của các văn bản chuyển
nhượng tài sản nêu trên: Văn bản chuyển nhượng ngày 06/04/2006 giữa bà Trần
Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Mạnh H; Văn bản chuyển nhượng ngày 28/08/2007
giữa ông Phan Văn Anh, bà Lương Ngọc Thủy và bà Phạm Thị Lan Hương;
Văn bản chuyển nhượng ngày 06/01/2009 giữa bà Phạm Thị Lan Hương và vợ
11
chồng tôi là Phạm Lê H, Vũ Mạnh H là hợp pháp. Đề nghị Tòa án công nhận
quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông bà đối với căn hộ nêu trên để ông bà
hoàn thiện thủ tục sang tên căn hộ. Đối với những vấn đề khác: Ông bà không
yêu cầu.
Tại đơn trình bày gửi Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
ông Phan Văn A và bà Lương Ngọc Th có ý kiến:
Ngày 06/04/2006, ông bà có nhận chuyển nhượng 01 căn hộ chung cư
số 1602, nhà CT9, khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng
Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố Hà Nội) từ vợ chồng bà
Trần Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Mạnh H theo “Hợp đồng mua bán căn hộ nhà
ở cao tầng” và hợp đồng ủy quyền số công chứng 2871.06, quyển số 01TP/CC-
SCC/HĐGD tại phòng công chứng số 01 thành phố Hà Nội. Theo đó, giá bán
căn hộ là: 490.000.000 VND, trong đó vợ chồng bà Thủy, ông Hùng đã nhận
297.640.000 vnd và còn số tiền 192.360.000 vnd ông bà giao sau cho chủ Đầu
tư là Xí nghiệp xây dựng tư nhân số 1. Ông bà đã chuyển đầy đủ số tiền cho
bà Thủy, chủ Đầu tư là Xí nghiệp xây dựng tư nhân số 1 và đã nhận bàn giao
căn hộ trên. Tại thời điểm mua bán, căn hộ trên vẫn chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Ngày
28/08/2007, vợ chồng ông bà chuyển nhượng căn hộ trên cho bà Phạm Thị Lan
Hương, sinh năm 1972 (CCCD số: ********* do Công an TP Hải Phòng cấp
ngày 03/10/2005; HKTT: Số 110 Cát Cụt, Hải Phòng) theo Hợp đồng mua bán
căn hộ nhà ở cao tầng (hợp đồng không công chứng, chứng thực. Giá bán căn
hộ là: 820.000.000 VND. Giữa các bên đã nhận đủ tiền và bàn giao nhà ở. Ông
bà cũng đã bàn giao toàn bộ giấy tờ gốc căn hộ nêu trên cho bà Hương. Tại thời
điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.Như vậy, ông bà
khẳng định, giao dịch chuyển nhượng căn hộ trên giữa vợ chồng ông bà và ông
Đỗ Mạnh H, bà Trần Thị Thanh Thủy ngày 06/4/2006; giữa ông bà và bà Phạm
Thị Lan Hương ngày 28/08/2007 là hoàn toàn hợp pháp. Do tại thời điểm
chuyển nhượng, căn hộ trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nên vợ chồng ông bà không
thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực văn bản mua bán hay làm thủ tục
12
sang tên được. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa các bên đã hoàn thành, ông
bà đã nhận tiền và bàn giao căn hộ nên không có quyền lợi gì liên quan đến căn
hộ nêu trên. Nay bà Phạm Lê H, ông Vũ Mạnh H đề nghị Tòa án công nhận
quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà Hoa, ông Hiệp đối với căn hộ nêu trên,
do ông bà nhận chuyển nhượng lại của bà Phạm Thị Lan Hương ngày
06/01/2009, ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Nay do vợ chồng ông bà bận công tác, đề nghị tòa án cho ông bà
vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng. Ông bà giữ nguyên ý kiến trình bày
tại đơn này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Lan Hương
trình bày:
Ngày 28/08/2007, bà đã nhận chuyển nhượng căn hộ 01 căn hộ chung
cư số 1602, nhà CT9, khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận
Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố Hà Nội) từ vợ
chồng ông Phan Văn Anh và bà Lương Ngọc Thủy (cùng trú tại: Số 5 ngõ 104,
Lê Trọng Tấn, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội) theo Hợp đồng mua bán căn
hộ nhà ở cao tầng (hợp đồng không công chứng, chứng thực). Giá bán căn hộ
là: 820.000.000 VND. Bà đã thanh toán toàn bộ tiền mua căn hộ và đã nhận
bàn giao nhà ở. Vợ chồng ông Phan Anh và bà Thủy cũng đã bàn giao toàn bộ
giấy tờ gốc căn hộ nêu trên. Tại thời điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất nên các bên chưa làm thủ tục công chứng, chứng thực được.
Theo giấy tờ gốc căn hộ mà bà được bàn giao, bà được biết nguồn gốc căn hộ
trên do ông Phan Văn Anh và bà Lương Ngọc Thủy nhận chuyển nhượng từ vợ
chồng bà Trần Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Mạnh H theo “Hợp đồng mua bán
căn hộ nhà ở cao tầng” và hợp đồng ủy quyền số công chứng 2871.06, quyển
số 01TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng công chứng số 01 thành phố Hà Nội vào
ngày 06/4/2006. Tại thời điểm mua bán giữa các bên, căn hộ vẫn chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất nên các bên chưa làm thủ tục công chứng, chứng thực được. Sau
đó, ngày 06/01/2009, bà đã chuyển nhượng lại căn hộ trên cho chị gái bà là
Phạm Lê H và anh rể là ông Vũ Mạnh H (Địa chỉ thường trú: số 110 Cát Cụt,
13
phường Lê Chân, thành phố Hải Phòng), giá bán 820.000.000 VND, đã nhận
đủ tiền và giao nhà ở. Các bên có lập hợp đồng mua bán nhà ở, có người làm
chứng nhưng không làm thủ tục công chứng, chứng thực vì thời điểm đó căn
hộ trên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Từ thời điểm nhận chuyển nhượng, vợ chồng
chị Hoa và anh Hiệp đã nhận nhà và sử dụng ổn định từ năm 2009 đến nay,
không có tranh chấp gì. Thực tế căn hộ đã chuyển nhượng xong từ lâu, việc
mua bán, chuyển nhượng giữa các bên đã hoàn thành, bà đã nhận tiền và bàn
giao căn hộ nên không có quyền lợi gì liên quan đến căn hộ nêu trên. Nay bà
Phạm Lê H, ông Vũ Mạnh H đề nghị Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp
của vợ chồng bà Hoa, ông Hiệp đối với căn hộ nêu trên, bà đồng ý và không có
ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nay do bà
đang ở xa, đề nghị tòa án cho bà vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng. Bằng
văn bản này, bà đề nghị Tòa án cho bà được ủy quyền cho chị gái bà là PhạmLê
Hoa (sinh năm 1969, CCCD: ************ cấp ngày 08/07/2022; Địa chỉ
thường trú: số 110 Cát Cụt, phường Lê Chân, thành phố Hải Phòng) thay mặt
bà được nhận toàn bộ văn bản tố tụng của tòa án.
Ngày 08/5/2026 và ngày 12/6/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà
Nội đã tổ chức xem xét thẩm định tại chỗ và định giá (theo Quyết định Ủy thác
thu thập chứng cứ số 622/2026/QĐ-UTTA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Hà Nội); Đối với tài sản là: Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ
bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô thị mới Định Công, phường Định
Công, quận Hoàng Mai (nay là phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường
và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và
bà Trần Thị Thanh Thủy. Theo đó, xác định nhà, đất tại địa chỉ trên như sau:
Trên đất có 01 nhà bê tông 03 tầng + 01 tum, diện tích sử dụng là 271.60 m2.
Nhà đất này theo ông Hùng trình bày là do ông và vợ là bà Trần Thị Thanh
Thủy đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên tiền mua
nhà này còn có sự đóng góp của bố mẹ đẻ ông Hùng là ông Đỗ Xuân Hòa (đã
mất năm 2023) và bà Trần Thị Mai. Giá trị đóng góp của bố mẹ ông là 1/2 giá
trị ngôi nhà tại thời điểm mua (năm 2006) và phần giá trị này bố mẹ ông đã
14
tặng cho riêng cho ông. Ông không có ý kiến gì và vẫn xác định di sản thừa kế
của bà Thủy là ½ giá trị nhà đất này, tuy nhiên đề nghị tòa án xác định công
sức đóng góp quản lý di sản của ông đối với tài sản này bằng ½ giá trị di sản.
Nhà đất này hiện nay ông không đưa vào sử dụng trong bất kỳ giao dịch dân sự
nào khác. Nhà đất không có tranh chấp về mốc giới đối với các hộ liền kề. Giá
trị thửa đất là: 97,5m
2
x 79.894.000đ/m2 = 7.789.665.000đ (Bảy tỷ, bảy trăm
tám mươi chín triệu, sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng chẵn). Gía trị nhà là:
8.258.400đ/m
2
x 416,4m
2
=3.438.797.760đ (Ba tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu
chín mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Tổng giá trị tài sản nhà đất là:
7.789.665.000đ (giá trị đất) +3.438.797.760 đ (giá trị nhà) = 11.228.462.760đ
(mười một tỷ, hai trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi hai nghìn, bảy
trăm sáu mươi đồng).
Cùng ngày, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã tổ chức xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá (theo Quyết định Ủy thác thu thập chứng cứ số
622/2026/QĐ-UTTA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội);
Đối với tài sản là: Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích
135 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số
10111131307; Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân,
Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do
Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số
5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà
Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003. Theo đó xác định hiện trạng của tài sản
trên như sau: Trên đất không có công trình xây dựng. Hiện trạng đất có sơ đồ
và số liệu đo đạc của Công ty cổ phần đo đạc địa chính và tài nguyên môi trường
kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ. Giá trị thửa đất theo biên bản
định giá tài sản là: 135 m2x 87.020.000đ/m2 = 11.747.700.000 đồng (Mười
một tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
Cũng trong ngày 08/5/2026 và ngày 12/6/2026, Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Hà Nội đã tổ chức xem xét thẩm định tại chỗ và định giá (theo Quyết
định Ủy thác thu thập chứng cứ số 622/2026/QĐ-UTTA ngày 23/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội); Đối với tài sản là: Căn hộ chung cư số
1602 nhà CT9, diện tích sàn: 68,7m
2
, hình thức sở hữu: Riêng, tại thửa đất số
15
CT9, diện tích 2715,0m
2
, hình thức sử dụng: sử dụng chung. Địa chỉ: Khu đô
thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội ( nay là
phường Phương Liệt, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên
và môi trường cấp ngày 28/10/2014 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy. Theo
đó xác định hiện trạng của tài sản trên như sau: Căn hộ gồm có 02 phòng ngủ,
01 phòng khách, 01 phòng bếp và 02 vệ sinh. Hiện trạng căn hộ không có biến
động gì so với thời điểm cấp giấy chứng nhận. Hiện nay trên căn hộ này có bà
Phạm Lê H và chồng là ông Vũ Mạnh H sinh sống, ngoài ra không có ai ở nhờ,
ở thuê trên căn hộ này. Giá trị căn hộ theo biên bản định giá tài sản là: 68,7m
2
x 7.924.80đ/m2 = 544.433.760đ (năm trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm ba
mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
Ngày 08/6/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã tổ chức xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá (theo Quyết định Ủy thác thu thập chứng cứ
số 623/2026/QĐ-UTTA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà
Nội); Đối với tài sản là: Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích
305.1 m2 tại địa chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là
xã Quang Minh, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AM 635397 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên
công ty TNHH đầu tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị
Thanh Thuỷ theo Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập
tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009).
Theo đó xác định hiện trạng của tài sản trên như sau: Về vị trí, thửa đất có địa
chỉ mới tại số nhà 19, đường Tương Vi, khu biệt thư Long Việt, xã Quang
Minh, thành phố Hà Nội. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp nhà số 36 đường
Bằng Lăng; Phía Nam giáp đường đi; Phía Tây giáp nhà số 9; Phía Đông giáp
nhà số 13. Trên đất là nhà biệt thự liền kề 03 tầng, xây thô, chưa hoàn thiện,
làm năm 2008. Tường 20, bể trụ, hoa sắt, mái cổng. Do đó, tòa án xác định hiện
trạng nhà đất không có biến động gì so với thời điểm cấp GCNQSD đất. Hiện
tại trên đất không có ai thường xuyên sinh sống. Giá trị thửa đất là: 301,5m
2
x
35.000.000đ/m2 =10.552.500.000đ (Mười tỷ, năm trăm năm mươi hai triệu,
năm trăm nghìn đồng); Gía trị nhà là: 4,234,000đ/m
2
x100m
2
x 3 x
16
36%=457.272.000đ (Bốn trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm bảy mươi hai
nghìn đồng); Gía trị tường là: 800.000x13,19m x 45%=4.748.000đ (Bốn triệu,
bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là: 11.014.520.000
đồng (mười một tỷ, không trăm mười bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn
đồng).
Ngày 10/6/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội đã tổ chức xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với tài sản là: Nhà, đất tại thửa đất số 247,
tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch
Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp ngày
26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy. Theo đó xác định hiện trạng của
tài sản trên như sau: Nhà đất tại địa chỉ 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, Hà
Nội nằm trên mặt đường Bạch Mai, Hà Nội. Từ trong nhà nhìn ra đường, bên
tay trái giáp nhà số 237, bên tay phải giáp nhà số 233 Bạch Mai, đằng sau lưng
nhà là ngõ đi nhỏ, đi thẳng ra phố Trại Găng. Nhà có 02 lối đi, cửa chính ở mặt
phố Bạch Mai và 01 cửa ngách đi ra ngõ đi chung nhỏ ở sau nhà. Nhà có kết
cấu bê tông cốt thép, 04 tầng.Theo ông Hùng trình bày: Năm 2001 khi ông mua
ngôi nhà trên thì hiện trạng nhà đất giữ nguyên. Sau khi mua ông chỉ sơn lại
các tầng, lợp sửa mái tôn, sửa nhà vệ sinh, ốp gỗ cầu thang, lát lại trần nhà.
Ngoài ra, không cơi nới, xây dựng thêm hạng mục nào khác. Do đó, tòa án xác
định hiện trạng nhà đất không có biến động gì so với thời điểm cấp GCNQSD
đất. Hiện nay ông chỉ sử dụng địa chỉ này làm việc, không có ai sinh sống
thường xuyên ở đây. Giá trị quyền sử dụng đất là: 92,68 m
2
x 450.000.000
đồng/m
2
= 41.706.000.000 đồng (bốn mươi mốt tỷ, bảy trăm linh sáu triệu
đồng); Giá trị xây dựng trên đất 7.416.000 đồng x 25% x 404,8 m
2
=
750.499.000 đồng (bảy trăm năm mươi triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn
đồng). Tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng trên đất là:
41.706.000.000 đồng + 750.499.000 đồng = 42.456.499.000 đồng (bốn mươi
hai tỷ, bốn trăm năm mươi sáu triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan – Công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark cung cấp theo thông báo giao nộp
tài liệu, chứng cứ số 2209/2026/TB-TA ngày 01/7/2026 của Tòa án nhận thấy:
17
Hóa đơn giá trị gia tăng số 0009407 ngày 28/10/2015 ghi nhận bà Trần
Thị Thanh Thủy đã nộp đối với căn hộ theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình
thành trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, diện
tích 470 m2, tại Biệt thự số MMS-168A khu Biệt thự Mimosa Valley theo Khu
Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên là: 2.242.455.079 VNĐ. Do đó, tòa án xác định di sản thừa kế của
bà Thủy đối với tài sản trên là ½ tổng giá trị thanh toán ngày 28/10/2015 là:
1.121.227.540 VNĐ (Một tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi
bảy nghìn, năm trăm bốn mươi đồng).
Đối với căn hộ theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương
lai số HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, diện tích 320.54 m2, tại
nhà phố số THA-175 khu Nhà phố Thảo Nguyên theo dự án Khu Đô thị Thương
mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên,
theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0009468 ngày 30/10/2015, hợp đồng, phụ lục
hợp đồng xác định ông Đỗ Mạnh H thanh toán: 839.446.139 VNĐ. Do đó, tòa
án xác định di sản thừa kế của bà Thủy đối với tài sản trên là ½ tổng giá trị
thanh toán ngày 23/10/2015 là: 419.723.070 VNĐ (Bốn trăm mười chín triệu,
bảy trăm hai mươi ba nghìn, không trăm bảy mươi đồng).
Ngày 23/6/2026, tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án và biên bản hòa
giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn C và bà Tô Thị
Minh Đức trình bày:
Ông bà hoàn toàn đồng ý với các biên bản thẩm định tại chỗ tài sản và
định giá tài sản của Tòa án, đồng ý với toàn bộ giá trị di sản được định giá và
không có ý kiến gì khác. Về kỷ phần của ông bà được hưởng từ di sản của bà
Trần Thị Thanh Thủy để lại, ông bà đồng ý nhận kỷ phần bằng tiền, và thống
nhất nhận lại kỷ phần này từ ông Đỗ Mạnh H là: 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ,
bảy trăm triệu đồng) cho mỗi người. Tổng số tiền ông Hùng thanh toán lại kỷ
phần cho ông bà là: 13.400.000.000 đồng (mười ba tỷ, bốn trăm triệu đồng).
Tuy nhiên, ½ kỷ phần của ông bà tương đương 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ,
bảy trăm triệu đồng), ông bà thống nhất tặng cho 02 cháu gái là Đỗ Thu P và
Đỗ Trần Thu T nên ông bà chỉ nhận phần kỷ phần bằng tiền mặt là:
6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu đồng). Ngoài ra, ông bà không có
18
ý kiến gì khác. Về công sức tôn tạo, xây dựng, quản lý di sản và những chi phí
khác liên quan đến di sản thừa kế, ông bà hoàn toàn nhất trí với ông Hùng. Ông
bà cũng đồng ý với ông Hùng bao gồm cả việc tặng cho ½ kỷ phần của ông bà
cho mỗi cháu Phương và Trà là: 3.350.000.000 đồng/mỗi người (ba tỷ, ba trăm
năm mươi triệu đồng).
Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án ngày 18/7/2026, bị đơn là chị Đỗ
Trần Thu T trình bày:
Chị hoàn toàn đồng ý với các biên bản thẩm định tại chỗ tài sản và định
giá tài sản của Tòa án, đồng ý với toàn bộ giá trị tài sản là di sản được định giá
và không có ý kiến gì khác. Về công sức tôn tạo, xây dựng, quản lý di sản và
những chi phí khác liên quan đến di sản thừa kế, chị hoàn toàn nhất trí với ông
Hùng. Về kỷ phần thừa kế của mẹ chị là bà Trần Thị Thanh Thủy, chị cũng
hoàn toàn nhất trí với ông Hùng về việc để ông Hùng được nhận toàn bộ quyền
sở hữu, sử dụng đối với di sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của
bà Thủy để lại và ông Hùng có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị kỷ phần bằng
tiền mặt theo quy định của pháp luật. Chị đồng ý nhận kỷ phần tặng cho là
3.350.000.000 đồng của ông bà ngoại là ông Trần Văn Đức và bà Tô Thị Minh
Đức.
Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án ngày 18/7/2026, Nguyên đơn – ông
Đỗ Mạnh H trình bày:
Ông hoàn toàn đồng ý với các biên bản thẩm định tại chỗ tài sản và định
giá tài sản của Tòa án, đồng ý với toàn bộ giá trị tài sản là di sản được định giá
và không có ý kiến gì khác. Đối với ý kiến của bị đơn là chị Đỗ Trần Thu T,
ông hoàn toàn đồng ý. Ông đồng ý nhận kỷ phần thừa kế của bà Trần Thị Thanh
Thủy bằng hiện vật của chị Trà, ông Trần Văn C và bà Tô Minh Đức, đồng ý
nhận toàn quyền sở hữu, sử dụng đối với nhà đất là di sản thừa kế của bà Thủy
là: Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu
đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường
Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày
17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy; Nhà, đất tại
thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa chỉ xã Quang Minh,
19
huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh, thành phố Hà Nội)
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do Sở tài nguyên và
môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu tư và xây dựng
Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo Hợp đồng số
công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công chứng
Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009); Nhà, đất tại thửa đất số 247,
tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch
Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội cấp ngày
26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy; Nhà ở hình thành trong tương lai
theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/Vihajico-
THA-175 ngày 09/10/2015, nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên,
dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt
Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H; Nhà ở hình thành trong tương lai theo
Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-
MMS-168A ngày 23/10/2015, Biệt thự số: MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa
Valley, dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK)
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô
thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị Thanh Thủy.
Đồng thời, ông Hùng nhất trí thanh toán lại kỷ phần bằng tiền mặt cho
ông Trần Văn C, bà Tô Minh Đức là: 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm
triệu đồng) và đồng ý thanh toán lại cho chị Phương, chị Trà đối với kỷ phần
ông Cúc, bà Đức tặng cho riêng 02 cháu gái Phương và Trà mỗi người là
3.350.000.000 đồng, tổng cộng: 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu
đồng).
Đối với kỷ phần của chị Đỗ Thu P, ông đề nghị Tòa án chia cho chị
Phương được nhận di sản bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
sản gắn liền với đất đối với: Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-
C, diện tích 135 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà số 10111131307; Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh
Xuân, Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà
20
Nội) do Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số
5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà
Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003. Nếu giá trị tài sản này ít hơn so với kỷ
phần từ di sản thừa kế của chị Phương được nhận từ bà Thủy và được tặng cho
từ ông Cúc, bà Đức thì ông sẽ thanh toán phần chênh lệch. Nếu giá trị tài sản
này nhiều hơn, ông đồng ý tự nguyện tặng cho chị Phương giá trị còn lại từ kỷ
phần của ông.
Về công sức đóng góp, quản lý di sản ông có ý kiến như sau: Đối với
nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô
thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường
Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày
17/7/2006. Nhà đất này theo do ông và vợ là bà Trần Thị Thanh Thủy đứng tên
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên tiền mua nhà này còn có
sự đóng góp của bố mẹ đẻ ông Hùng là ông Đỗ Xuân Hòa (đã mất năm 2023)
và bà Trần Thị Mai. Giá trị đóng góp của bố mẹ ông là ½ giá trị nhà đất tại thời
điểm mua (năm 2006) và phần giá trị này bố mẹ ông đã tặng cho riêng cho ông.
Ông không có ý kiến gì và vẫn xác định di sản thừa kế của bà Thủy là ½ giá trị
nhà đất này. Tuy nhiên, đề nghị tòa án xác định công sức đóng góp của ông đối
với việc quản lý di sản này bằng ½ giá trị di sản là: 2.807.115.690 đồng. Đối
với các nghĩa vụ về tài sản và các khoản chi phí khác liên quan đến thừa kế
như: Chi phí mai táng… ông không có yêu cầu gì. Đối với các chi phí tố tụng
như thẩm định, định giá tài sản ông tự nguyện chịu cả, không yêu cầu các đồng
thừa kế phải thanh toán.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến trình bày tại các bản tự khai, biên bản
hòa giải, đơn trình bày và ý kiến trình bày tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án
ngày 18.7.2026. Riêng đối với kỷ phần của chị Đỗ Thu P, trước đó ông đề nghị
Tòa án chia cho chị Phương được nhận di sản bằng hiện vật là quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với: Nhà, đất tại thửa đất số 27,
tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307; Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương
21
Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường
Khương Đình, Hà Nội). Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông đề nghị Tòa án
cho ông được hưởng kỷ phần bằng hiện vật là nhà đất này và thanh toán lại cho
chị Phương kỷ phần bằng tiền.
Bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và có ý kiến giữ nguyên quan điểm
như ý kiến trình bày tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án ngày 18.7.2026.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn C và bà Tô Thị
Minh Đức giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trước đó tại tòa án.Về kỷ phần
của ông bà được hưởng từ di sản của bà Trần Thị Thanh Thủy để lại, ông bà
đồng ý nhận kỷ phần bằng tiền, và thống nhất nhận lại kỷ phần này từ ông Đỗ
Mạnh H là: 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu đồng) cho mỗi người.
Tổng số tiền ông Hùng thanh toán lại kỷ phần cho ông bà là: 13.400.000.000
đồng (mười ba tỷ, bốn trăm triệu đồng). Tuy nhiên, ½ kỷ phần của ông bà
tương đương 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu đồng), ông bà thống
nhất tặng cho 02 cháu gái là Đỗ Thu P và Đỗ Trần Thu T nên ông bà chỉ nhận
phần kỷ phần bằng tiền mặt là: 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu
đồng). Ngoài ra, ông bà không có ý kiến gì khác. Về công sức tôn tạo, xây
dựng, quản lý di sản và những chi phí khác liên quan đến di sản thừa kế, ông
bà hoàn toàn nhất trí với ông Hùng. Ông bà cũng đồng ý với ông Hùng bao
gồm cả việc ông Hùng thanh toán lại ½ kỷ phần mà ông bà tặng cho mỗi cháu
Phương và Trà là: 3.350.000.000 đồng (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập – Ông Vũ
Mạnh H và bà Phạm Lê H giữ nguyên yêu cầu độc lập như đã trình bày tại
Tòa án:
- Đề nghị tòa án xác định: Căn hộ chung cư số 1602 nhà CT9, diện tích
sàn: 68,7 m2, hình thức sở hữu: Riêng, tại thửa đất số CT9, diện tích 2715,0
m2, hình thức sử dụng: sử dụng chung tại địa chỉ: Khu đô thị mới Định Công,
phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt,
thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi trường
cấp ngày 28/10/2014 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy không phải là di sản
thừa kế của bà Thủy.
22
- Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực pháp lý của các văn bản chuyển
nhượng tài sản là căn hộ trên, bao gồm: Văn bản chuyển nhượng ngày
06/04/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Mạnh H; Văn bản chuyển
nhượng ngày 28/08/2007 giữa ông Phan Văn Anh, bà Lương Ngọc Thủy và bà
Phạm Thị Lan Hương; Văn bản chuyển nhượng ngày 06/01/2009 giữa bà Phạm
Thị Lan Hương và vợ chồng tôi là Phạm Lê H, Vũ Mạnh H là hợp pháp; Đồng
thời công nhận quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Hiệp, bà Hoa đối với
căn hộ nêu trên để ông bà hoàn thiện thủ tục sang tên căn hộ. Đối với những
vấn đề khác: Ông bà không yêu cầu.
Đại diện VKSND Khu vực 3 – Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án; Các đương sự đã thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ của mình..
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về thời điểm mở thừa kế: Bà Trần Thị Thanh Thủy mất ngày
21/11/2015 do đó thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản bà Thủy được xác
định là 21/11/2015.
Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản là 10
năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với di sản là động sản, nguyên đơn đã thực
hiện quyền khởi kiện trong thời hạn luật định (Điều 623, điều 688 BLDS 2015).
- Về xác định di sản thừa kế: Nguồn gốc di sản: Ông Đỗ Mạnh H và bà
Trần Thị Thanh Thủy kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Căn
cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, biên bản thẩm định tại chỗ, biên bản định
giá tài sản, lời khai của các đương sự và căn cứ Điều 33, Điều 40 Luật hôn nhân
gia đình năm 2014 có cơ sở xác định: Di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh
Thủy là ½ giá trị khối tài sản được lập trong thời kỳ hôn nhân của ông Đỗ Mạnh
H và bà Trần Thị Thanh Thủy, cụ thể như sau: Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2,
tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô thị mới Định Công, phường
Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi
23
trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh
H và bà Trần Thị Thanh Thủy. Giá trị tài sản là: 11.228.462.760đ; Nhà, đất tại
thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307; Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5
phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông
Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà đất Hà Nội cấp ngày
19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng ký sang tên cho
ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003. Giá trị tài sản là
11.747.700.000 đồng; Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích
305.1 m2 tại địa chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là
xã Quang Minh, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AM 635397 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên
công ty TNHH đầu tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị
Thanh Thuỷ theo Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập
tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009).
Giá trị tài sản là: 11.014.520.000 đồng; Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ
số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành
phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
số 10107230462 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội cấp ngày 26/7/2001
đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy. Giá trị tài sản là: 42.456.499.000 đồng.
Đối với nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu
Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H. Tổng số tiền thanh
toán đợt 01 theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0009468 ngày 30/10/2015 là:
839.446.139 đồng; Đối với Biệt thự số: MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa
Valley, dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK)
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành
trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công
ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị
Thanh Thủy. Tổng số tiền thanh toán đợt 01 theo hóa đơn giá trị gia tăng số
24
0009407 ngày 28/10/2015 là: 2.242.455.079 đồng. Như vậy, tổng giá trị di sản
thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là: 39.764.541.489 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Nhà, đất tại thửa
đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô thị mới Định
Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường Phương Liệt),
thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 068308 do
Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày 17/7/2006
đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy. Theo như ông Hùng
trình bày, nguồn gốc nhà đất nêu trên có ½ giá trị là công sức đóng góp của cụ
Đỗ Xuân Hoa, cụ Trần Thị Mai (bố mẹ đẻ của ông Hùng). Bên cạnh đó, ông
Hùng là hiện đang quản lý di sản, các đồng thừa kế khác là chị Trà, bà Tô Thị
Minh Đức, ông Trần Văn C đều đồng ý với ý kiến xác định ông Hùng có công
sức tôn tạo, xây dựng, quản lý di sản và những chi phí khác liên quan đến di
sản thừa kế do đó căn cứ điều ….,xác định giá trị công sức đóng góp của ông
Hùng là ½ do sản, tương đương 2.807.115.690 đồng. Như vậy, căn cứ điều 658
BLDS 2015, di sản thừa kế của bà Thủy được xác định là : 39.764.541.489
đồng – 2.807.115.690 đồng = 36.957.425.699 đồng.
Xét yêu cầu chia thừa kế:
Bà Trần Thị Thanh Thủy mất ngày 21/11/2015, do đó di sản thừa kế của
bà Thủy được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất: Ông Đỗ Mạnh H (
chồng bà Thủy); Chị Đỗ Thu P ( con của bà Thủy) ; Chị Đỗ Trần Thu T (con
bà Thủy); Ông Trần Văn C và bà Tô Thị Minh Đức ( bố mẹ đẻ của bà Thủy).
Về chia theo giá trị:
Như đã phân tích ở trên, di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy được
xác định là 36.957.425.799 đồng. Hàng thừa kế thứ nhất của bà Thủy gồm ông
Hùng, chị Phương, chị Trà, ông Cúc, bà Đức do đó xác định giá trị của 01 kỷ
phần thừa kế là 36.957.425.799 đồng : 5 = 7.391.485.160 đồng Ngoài ra, ông
Trần Văn C, bà Tô Thị Minh Đức có ý kiến về việc ông bà tự nguyện nhận lại
kỷ phần bằng tiền từ nguyên đơn, mỗi người là 6.700.000.000 đồng. Trong đó,
½ kỷ phần của ông bà tương đương 6.700.000.000 đồng ông bà thống nhất tặng
cho chị Đỗ Thu P và Đỗ Trần Thu T. Bị đơn là chị Trà cũng có ý kiến về việc
bị đơn đồng ý để nguyên đơn là ông Hùng nhận toàn bộ quyền sở hữu, sử dụng
25
đối với di sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do bà
Thủy để lại. Do đó, ông Hùng có nghĩa vụ thanh toán
lại giá trị kỷ phần thừa kế cho ông Cúc, bà Đức, chị Trà. Kỷ phần của Cúc, bà
Đức : 6.700.000.000 đồng. Kỷ phần của chị Trà: 10.741.485.160 đồng. Kỷ phần
của chị Phương : 10.741.485.160 đồng.
Về chia theo hiện vật: Do các đồng thừa kế đều có ý kiến về việc kỷ phần thừa
kế bằng tiền mặt do đó nguyên đơn là ông Hùng có toàn quyền sở hữu đối với
các di sản thừa kế của bà Thủy và được toàn quyền sở hữu đối với khối tài sản
sau, cụ thể:
- Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu
đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường
Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày
17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo
Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công
chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009);
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân
dân Thành phố Hà nội cấp ngày 26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307;
Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là
địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà
đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001,
đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày
27/8/2003
26
- Nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (nay là công ty cổ phần tập đoàn Ecopark) và ông
Đỗ Mạnh H;
- Biệt thự số: MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát
triển đô thị Việt Hưng (nay là công ty cổ phần tập đoàn Ecopark) và bà Trần
Thị Thanh Thủy.
Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Mạnh
H, bà Phạm Lê H:
Căn cứ khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015, xác định: Hợp đồng mua bán
căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/4/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy, ông Đỗ
Mạnh H và ông Phan Văn Anh; Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày
06/4/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy, ông Đỗ Mạnh H và ông Phan Văn
Anh; Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/01/2009 giữa bà Phạm
Thị Lan Hương và bà Phạm Lê H có hiệu lực pháp luật, ràng buộc quyền và
nghĩa vụ giữa các bên. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan – Ông Vũ Mạnh H và bà Phạm Lê H có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Toà án xác định mức án phí theo quy định của BLTTDS 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đỗ Mạnh H khởi kiện vụ án
dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản đối với người bị kiện là chị Đỗ Trần Thu
T, cư trú tại C16, N3 khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận
27
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
[2] Về việc xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa:
Tòa án đã triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, chị Đỗ Thu P và công ty cổ
phần Tập đoàn Ecopark là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu
cầu độc lập vắng mặt.
Căn cứ vào lời khai của các đương sự trong vụ án, không xác định được địa chỉ
cư trú hiện tại của chị Phương. Qua biên bản xác minh tại cơ quan công an, tòa
án xác định địa chỉ cư trú cuối cùng của chị Phương tại 235 Bạch Mai, phường
Bạch Mai, Hà Nội. Việc ông Hùng cung cấp địa chỉ của người liên quan được
coi là đã ghi đúng địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã tiến hành niêm yết đồng thời tiến hành thủ
tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180
Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Đỗ Thu
P và công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark.
[3] Về thời điểm mở thừa kế: Bà Trần Thị Thanh Thuỷ, sinh năm 1964
đã chết ngày 21/11/2015 (theo Giấy chứng tử số 17/2015 quyển số 01/2015
ngày 25/11/2015), khi chết không để tại di chúc. Từ đó xác định thời điểm mở
thừa kế là ngày 21/11/2015.
[4] Về xác định hàng thừa kế, quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở để Tòa án xác định:
Bà Trần Thị Thanh Thuỷ (sinh năm 1964, mất ngày 21/11/2015), khi còn sống
bà sinh sống tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ 60 lập năm 2006, địa chỉ C16 N3
khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội. Bà và ông Đỗ Mạnh H kết hôn năm 1995 theo Giấy CNKH số 52 quyển
số 07 ngày 29/8/1995 của Uỷ ban nhân dân phường Bách Khoa, quận Hai Bà
Trưng, Hà Nội. Giữa hai ông bà có 02 người con đẻ là: Đỗ Thu P, sinh năm
1994 và Đỗ Trần Thu T, sinh năm 1999 (theo Giấy khai sinh số 76 quyển số 07
ngày 05/9/1995 và Giấy khai sinh số 145 quyển số 01 ngày 21/9/1999 của Uỷ
28
ban nhân dân phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Ngoài ra ông
Hùng và bà Thuỷ không có con nuôi, con đẻ nào khác. Bà Trần Thị Thanh Thuỷ
có bố mẹ đẻ là cụ Trần Văn C, sinh năm 1939 và cụ Tô Thị Minh Đức, sinh
năm 1939 (theo giấy khai sinh số 126 ngày 29/12/1964 của Uỷ ban hành chính
xã Quyết Tiến, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Ngoài bố mẹ đẻ, bà Thủy không có
bố mẹ nuôi nào khác. Như vậy Tòa án có cơ sở xác định: Hàng thừa kế thứ nhất
theo pháp luật của bà Trần Thị Thanh Thủy gồm 05 người sau: Ông Đỗ Mạnh
H; Chị Đỗ Thu P; Chị Đỗ Trần Thu T; Ông Trần Văn C và bà Tô Thị Minh
Đức.
[5] Về di sản thừa kế: Ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy kết
hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 1995. Căn cứ Điều 33, Điều
40 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên
bản thẩm định tại chỗ, biên bản định giá tài sản, lời khai của các đương sự và
căn cứ có cơ sở xác định: Di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là ½ giá
trị khối tài sản được lập trong thời kỳ hôn nhân của ông Đỗ Mạnh H và bà Trần
Thị Thanh Thủy, cụ thể như sau:
[5.1] Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3
Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là
phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội
cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy.
Giá trị tài sản là: 11.228.462.760đ (mười một tỷ, hai trăm hai mươi tám triệu,
bốn trăm sáu mươi hai nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng); Giá trị di sản thừa kế
là: 5.614.231.380 đồng (năm tỷ sáu trăm mười bốn triệu, hai trăm ba mươi mốt
nghìn, ba trăm tám mươi đồng).
[5.2] Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307; Địa
chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là địa
chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà đất
Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng
ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003.
Giá trị tài sản là 11.747.700.000 đồng (Mười một tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy
29
triệu bảy trăm nghìn đồng); Giá trị di sản thừa kế là: 5.873.850.000 đồng (năm
tỷ, tám trăm bảy mươi ba triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng).
[5.3] Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo
Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công
chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009). Giá trị tài sản là:
11.014.520.000 đồng (mười một tỷ, không trăm mười bốn triệu, năm trăm hai
mươi nghìn đồng); Giá trị di sản thừa kế là: 5.507.260.000 đồng (năm tỷ, năm
trăm linh bảy triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
[5.4] Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân
dân Thành phố Hà nội cấp ngày 26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy.
Giá trị tài sản là: 42.456.499.000 đồng (bốn mươi hai tỷ, bốn trăm năm mươi
sáu triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng); Giá trị di sản thừa kế là:
21.228.249.500 đồng (hai mươi mốt tỷ, hai trăm hai mươi tám triệu, hai trăm
bốn mươi chín nghìn, năm trăm đồng).
[5.5] Đối với nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu Đô
thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H. Tổng số tiền thanh
toán đợt 01 theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0009468 ngày 30/10/2015 là:
839.446.139 đồng; Xác định giá trị di sản thừa kế là: 419.723.070 đồng (Bốn
trăm mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, không trăm bảy mươi đồng).
[5.6] Đối với Biệt thự số: MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án
Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang,
tỉnh Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/ Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư
30
và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị Thanh Thủy. Tổng số
tiền thanh toán đợt 01 theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0009407 ngày 28/10/2015
là: 2.242.455.079 đồng; Xác định giá trị di sản thừa kế là: 1.121.227.540 VNĐ
(Một tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm
bốn mươi đồng).
[5.7] Tổng giá trị di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là:
[5.1] + [5.2] + [5.3] + [5.4] + [5.5] + [5.6] = 39.764.541.489 đồng (Ba mươi
chín tỷ, bảy trăm sáu mươi tư triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, bốn trăm
tám mươi chín đồng).
[6] Về công sức đóng góp, trông nom, tôn tạo, quản lý di sản và các nghĩa vụ
về tài sản khác:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, biên bản thẩm định tại chỗ, xác định ông
Hùng là người đang quản lý di sản nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số
60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công,
quận Hoàng Mai (nay là phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội cũng như
toàn bộ di sản khác. Ngoài ra, trên cơ sở lời trình bày của các đồng thừa kế khác
như bị đơn – chị Đỗ Trần Thu T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Bà
Tô Thị Minh Đức và ông Trần Văn C, các đương sự hoàn toàn nhất trí với ý
kiến của ông Hùng về công sức tôn tạo, xây dựng, quản lý di sản và những chi
phí khác liên quan đến di sản thừa kế, do vậy HĐXX chấp nhận giá trị công
sức đóng góp, trông nom, tôn tạo, quản lý di sản của nguyên đơn đối với di sản
thừa kế trên là ½ giá trị di sản, tương đương 2.807.115.690 đồng (hai tỷ, tám
trăm linh bảy triệu, một trăm mười lăm nghìn, sáu trăm chín mươi đồng).
Về với các nghĩa vụ về tài sản và các khoản chi phí khác liên quan đến thừa kế
như chi phí mai táng… do nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không xét.
[7] Về chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy:
[7.1] Di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là: 39.764.541.489 đồng -
2.807.115.690 đồng = 36.957.425.799 đồng. Tòa án chia di sản thừa kế của bà
Thủy theo pháp luật cho các đồng thừa kế: Ông Hùng, chị Trà, chị Phương, ông
Cúc, bà Đức. Giá trị mỗi kỷ phần thừa kế là: 36.957.425.799 đồng : 5 =
7.391.485.160 đồng (bảy tỷ, ba trăm chín mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi
lăm nghìn, một trăm sáu mươi đồng).
31
[7.2] Căn cứ vào bản khai, lời trình bày của ông Trần Văn C và bà Tô Thị Minh
Đức, ghi nhận sự tự nguyện của ông bà về việc ông bà đồng ý nhận lại kỷ phần
bằng tiền từ nguyên đơn, mỗi người là 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm
triệu đồng); Trong đó, ½ kỷ phần của ông bà tương đương 6.700.000.000 đồng
(sáu tỷ, bảy trăm triệu đồng), ông bà thống nhất tặng cho chị Đỗ Thu P và Đỗ
Trần Thu T. Do đó, tòa án xác định ông Hùng có nghĩa vụ thanh toán lại kỷ
phần thừa kế của ông Cúc, bà Đức là 6.700.000.000 đồng và thanh toán lại cho
chị Phương, chị Trà mỗi người là 3.350.000.000 đồng là kỷ phần ông Đức, bà
Cúc tặng cho 02 chị.
[7.2] Căn cứ vào bản khai, lời trình bày của bị đơn chị Đỗ Trần Thu T về việc
bị đơn hoàn toàn nhất trí với nguyên đơn để nguyên đơn được nhận toàn bộ
quyền sở hữu, sử dụng đối với di sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
sản gắn liền với đất của bà Thủy để lại và ông Hùng có nghĩa vụ thanh toán lại
cho chị kỷ phần bằng tiền mặt theo quy định của pháp luật. Chị cũng đồng ý
nhận và đồng ý để ông Hùng thanh toán lại kỷ phần của ông bà ngoại chị là ông
Trần Văn Đức và bà Tô Thị Minh Đức tặng riêng cho chị. Do đó, tòa án xác
định ông Đỗ Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn số tiền là:
7.391.485.160 đồng + 3.350.000.000 đồng = 10.741.485.160 đồng.
[7.3] Kỷ phần thừa kế của chị Đỗ Thu P là: 7.391.485.160 đồng. Ghi nhận sự
tự nguyện của ông Trần Văn Đức và bà Tô Thị Minh Đức tặng riêng kỷ phần
của ông bà cho chị Phương là 3.350.000.000 đồng. Do đó, tòa án xác định ông
Đỗ Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn số tiền là: 7.391.485.160 đồng
+ 3.350.000.000 đồng = 10.741.485.160 đồng. Do chị Phương hiện đang vắng
mặt tại nơi cư trú, chưa tìm được địa chỉ nên tạm giao ông Đỗ Mạnh H là bố đẻ
tiếp tục quản lý số tiền này là phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 6
Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao. Quyền, nghĩa vụ của người chị Đỗ Thu P sẽ được Tòa
án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[7.4] Về kỷ phần thừa kế của nguyên đơn: Ông Hùng có toàn quyền sở hữu đối
với các di sản thừa kế của bà Thủy và được toàn quyền sở hữu đối với khối tài
sản sau, cụ thể:
- Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu
32
đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường
Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày
17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo
Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công
chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009);
- Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307;
Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là
địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà
đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001,
đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày
27/8/2003.
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân
dân Thành phố Hà nội cấp ngày 26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (nay là công ty cổ phần tập đoàn Ecopark) và ông
Đỗ Mạnh H;
- Biệt thự số: MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát
33
triển đô thị Việt Hưng (nay là công ty cổ phần tập đoàn Ecopark) và bà Trần
Thị Thanh Thủy.
[8] Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ông
Vũ Mạnh H và bà Phạm Lê H:
Xét hiệu lực của các giao dịch chuyển nhượng đối với tài sản là căn hộ chung
cư số 1602 nhà CT9, khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận
Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố Hà Nội) Văn bản
chuyển nhượng ngày 06/04/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy và ông Đỗ
Mạnh H; Văn bản chuyển nhượng ngày 28/08/2007 giữa ông Phan Văn Anh,
bà Lương Ngọc Thủy và bà Phạm Thị Lan Hương; Văn bản chuyển nhượng
ngày 06/01/2009 giữa bà Phạm Thị Lan Hương và vợ chồng tôi là Phạm Lê H,
Vũ Mạnh H:
Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/4/2006 giữa bà
Trần Thị Thanh Thủy, ông Đỗ Mạnh H và ông Phan Văn Anh:
Về hình thức, hợp đồng được lập bằng văn bản có xác nhận chữ ký của các chủ
thể tham gia giao dịch.
Về nội dung, hợp đồng ghi nhận bà Trần Thị Thanh Thủy đồng ý bán cho ông
Phan Văn Anh căn hộ nhà ở cao tầng số 1602, dự án CH KĐT Định Công, quận
Hoàng Mai, Hà Nội (căn hộ số 2 tầng 16, diện tích sàn 68,7 m2 gồm 02 phòng
ngủ, 01 phòng khác, 01 phòng bếp + ăn, hai khu WC, lô gia) do Xí nghiệp xây
dựng tư nhân số I làm chủ đầu tư, theo HĐ số 173/XN ngày 11/11/2004 đứng
tên bà Trần Thị Thanh Thủy. Thời gian bàn giao căn hộ theo hợp đồng gốc
quý 4/2005. Ngoài ra, hợp đồng quy định giá bán căn hộ là 490.000.000 đồng
và quy định phương thức thanh toán.
Ngoài hợp đồng mua bán căn hộ, cùng ngày các bên có ký kết hợp đồng ủy
quyền số công chứng 2871.06, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng công
chứng số 01 thành phố Hà Nội, theo đó bà Thủy ủy quyền cho ông Phan Anh
liên hệ và thay mặt bà Thủy thực hiện các thủ tục đối với căn hộ tại Xí nghiệp
xây dựng tư nhân số I, hoàn tất các thủ tục xin các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp, nhận và quản lý thay bà Thủy giấy chứng nhận quyền sở hữu đối
với căn hộ nói trên. Thực hiện hợp đồng mua bán và văn bản thỏa thuận trên,
ông Phan Văn Anh đã liên hệ với Xí nghiệp xây dựng tư nhân số I để nộp tiền
34
nhà đợt 2 và xây dựng lắp đặt thêm cửa hoa sắt, lồng sắt để đưa căn hộ vào sử
dụng (căn cứ theo thông báo ngày 05/4/2006 của xí nghiệp xây dựng tư nhân
số I gửi ông Phan Văn Anh – Bút lục số 132 và của đơn đề nghị của ông Phan
Văn Anh gửi Giám đốc Xí nghiệp xây dựng tư nhân số I ngày 13/4/2006 – Bút
lục số 133). Điều này chứng tỏ quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng
đã thực hiện xong, căn hộ đã được bàn giao cho ông Phan Anh đưa vào sử dụng
tuy thời điểm đó chưa được cấp GCN quyền sở hữu.
Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 28/8/2007 giữa bên bán
là ông Phan Văn Anh, bà Lương Ngọc Thủy và bên mua bà bà Phạm Thị Lan
Hương:
Về hình thức, hợp đồng được lập bằng văn bản (viết tay) có xác nhận chữ ký
của các chủ thể tham gia giao dịch và người làm chứng.
Về nội dung, hợp đồng ghi nhận ý chí chuyển nhượng của bên bán đối với bên
mua, tài sản là: Căn hộ số 2 tầng 16, diện tích sàn 68,7 m2 gồm 02 phòng ngủ,
01 phòng khác, 01 phòng bếp + ăn, hai khu WC, lô gia tại dự án CH KĐT Định
Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Giá bán căn hộ là: 820.000.000 đồng. Căn cứ
theo giấy biên nhận tiền ngày 31/8/2007, ngày 04/10/2007, giấy cam kết ngày
02/11/2007 (bút lục số 128-130), có căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ giữa
các bên trong hợp đồng đã thực hiện xong, bà Hương đã thanh toán xong tiền,
được nhận bàn giao nhà ở. Tại thời điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất.
Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/01/2009 giữa bà
Phạm Thị Lan Hương và bà Phạm Lê H:
Về hình thức, hợp đồng được lập bằng văn bản có xác nhận chữ ký của các chủ
thể tham gia giao dịch và người làm chứng là bà Lê Thị Hậu.
Về nội dung, hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận của bên bán là bà Phạm Thị Lan
Hương (em ruột) đồng ý bán cho bà Phạm Lê H (chị ruột) căn hộ nhà ở cao
tầng số 1602, dự án CH KĐT Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (căn hộ số
2 tầng 16, diện tích sàn 68,7 m2 gồm 02 phòng ngủ, 01 phòng khác, 01 phòng
bếp + ăn, hai khu WC, lô gia) do Xí nghiệp xây dựng tư nhân số I làm chủ đầu
tư, theo HĐ số 173/XN ngày 11/11/2004 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy với
35
giá bán là: 820.000.000 đồng. Ngoài ra, hợp đồng quy định phương thức thanh
toán là tiền mặt, thanh toán 01 lần vào ngày 08/01/2009. Mặt khác, căn cứ vào
biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 12.5.2026, thấy rằng hiện nay căn
hộ được bà Hoa và ông Hiệp quản lý sử dụng ổn định từ lâu, không có tranh
chấp với chủ thể nào khác, từ đó có cơ sở xác định căn hộ đã được bàn giao,
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng đã thực hiện xong. Tại thời
điểm chuyển nhượng, căn hộ trên vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Như vậy, xét thấy rằng, đối với các giao dịch chuyển nhượng căn hộ 1602, dự
án CH KĐT Định Công, phường Phương Liệt, Hà Nội nêu trên, các bên đương
sự tham gia giao dịch đều xác định việc ký kết hợp đồng là tự nguyện, tại thời
điểm ký kết, các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự,
mục đích, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội. Mặc dù các giao dịch chuyển nhượng căn hộ đều không
quy định về hình thức, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai 2003 nhưng các bên chủ thể đã thực hiện
xong toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng, bên mua đã thanh toán hết tiền, bên bán
đã bàn giao căn hộ. Mặt khác, lời khai các bên đều thống nhất, không có tranh
chấp hay khiếu kiện gì có liên quan.
Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015, xác định: Hợp đồng mua
bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/4/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy, ông
Đỗ Mạnh H và ông Phan Văn Anh; Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng
ngày 06/4/2006 giữa bà Trần Thị Thanh Thủy, ông Đỗ Mạnh H và ông Phan
Văn Anh; Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/01/2009 giữa bà
Phạm Thị Lan Hương và bà Phạm Lê H có hiệu lực pháp luật, ràng buộc quyền
và nghĩa vụ giữa các bên. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan – Ông Vũ Mạnh H và bà Phạm Lê H có cơ sở chấp nhận.
[9] Về các vấn đề khác của vụ án: Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự
không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 2, khoản 7
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban
36
thường vụ Quốc hội, các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng
đối với giá trị phần di sản thừa kế được chia. Ông Đỗ Mạnh H là người cao
tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn 116,774,455 đồng án phí dân sự sơ
thẩm đối với kỷ phần được hưởng, được miễn 88,142,314 đồng án phí dân sự
sơ thẩm đối với phần được hưởng công sức đóng góp quản lý di sản. Ông Trần
Văn C, bà Tô Thị Minh Đức là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên mỗi
người được miễn 99,000,000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Đỗ Trần Thu T
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 118,741,485 đồng, chị Đỗ Thu P phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 119,747,700 đồng. Ông Vũ Mạnh H, bà Phạm Lê H
mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 33, 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 209, Điều 213, Điều 610, 611, 612, 613, 614, 616,
618, 623, 649, 650, 651, 658, 660 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 184, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản
3 Điều 228, các Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1
Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 2, khoản 7 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội;
Căn cứ nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định tài sản
chung hình thành trong hôn nhân của ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh
Thủy, bao gồm:
- Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3
Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là
phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
37
đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội
cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307;
Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là
địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà
đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001,
đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày
27/8/2003;
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo
Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công
chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009);
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân
dân Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H;
- Biệt thự số MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu Đô
thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát
triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị Thanh Thủy.
2. Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Đỗ Mạnh
H, bà Trần Thị Thanh T:
38
2.1. Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của ông Đỗ
Mạnh H, bà Trần Thị Thanh Thủy, trong đó mỗi người được sở hữu ½ giá trị
đối với:
- Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3
Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là
phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội
cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307;
Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là
địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, Hà Nội) do Sở địa chính nhà
đất Hà Nội cấp ngày 19/9/2001, hồ sơ gốc số 5464.2001.QĐUB/28644.2001,
đăng ký sang tên cho ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày
27/8/2003;
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ theo
Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng công
chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009);
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107230462 do Ủy ban nhân
dân thành phố Hà nội cấp ngày 26/7/2001 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy.
2.2. Đối với nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án
Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang,
tỉnh Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H, tỷ lệ sở hữu như
sau:
39
Ông Đỗ Mạnh H sở hữu 85% giá trị thanh toán; Bà Nguyễn Thị Thanh
Thủy sở hữu 15% giá trị thanh toán tại hợp đồng mua bán (tương ứng 50% giá
trị thanh toán của 30% của hợp đồng ngày 30/10/2015) là: 419.723.070 đồng
(Bốn trăm mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, không trăm bảy mươi
đồng).
2.3. Đối với Biệt thự số MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu
Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát
triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị Thanh Thủy, tỷ lệ sở hữu như
sau:
Ông Đỗ Mạnh H sở hữu 85% giá trị thanh toán; Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
sở hữu 15% giá trị thanh toán tại hợp đồng mua bán (tương ứng 50% giá trị
thanh toán của 30% của hợp đồng ngày 28/10/2015) là: 1.121.227.540 VNĐ
(Một tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm
bốn mươi đồng).
3. Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là ngày
21/11/2015. Xác định người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Thủy
gồm: ông Đỗ Mạnh H, chị Đỗ Trần Thu T, chị Đỗ Thu P, ông Trần Văn C, bà
Tô Thị Minh Đức.
Chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Thủy là 36.957.425.799 đồng
cho 05 đồng thừa kế, kỷ phần thừa kế mỗi người được hưởng là 7.391.485.160
đồng (bảy tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, một
trăm sáu mươi đồng).
3.1. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn C, bà Tô Thị Minh Đức
về việc đồng ý nhận kỷ phần của mỗi người là 6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy
trăm triệu đồng) từ ông Đỗ Mạnh H; Trong đó ông bà tặng cho 02 chị Đỗ Trần
Thu T và Đỗ Thu P mỗi người là 3.350.000.000 đồng (ba tỷ, ba trăm năm mươi
triệu đồng). Ông Đỗ Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông bà số tiền là:
6.700.000.000 đồng (sáu tỷ, bảy trăm triệu đồng) và thanh toán lại cho chị Trà,
chị Phương mỗi người 3.350.000.000 đồng (ba tỷ, ba trăm năm mươi triệu
đồng).
40
3.2. Chia cho chị Đỗ Trần Thu T kỷ phần thừa kế là 7.391.485.160 đồng.
Cùng với số tiền 3.350.000.000 đồng kỷ phần chị Trà được tặng cho từ ông
Cúc, bà Đức, ông Đỗ Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trà số tiền là:
10.741.485.160 đồng (mười tỷ bảy trăm bố mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi
lăm nghìn, một trăm sáu mươi đồng).
3.3. Chia cho chị Phương kỷ phần thừa kế là 7.391.485.160 đồng. Cùng
với số tiền 3.350.000.000 đồng kỷ phần chị Trà được tặng cho từ ông Cúc, bà
Đức, ông Đỗ Mạnh H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trà số tiền là:
10.741.485.160 đồng (mười tỷ bảy trăm bố mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi
lăm nghìn, một trăm sáu mươi đồng). Tạm giao ông Đỗ Mạnh H là bố đẻ chị
Phương tiếp tục quản lý số tiền này cho đến khi chị Phương có mặt tại nơi cư
trú. Quyền, nghĩa vụ của người chị Đỗ Thu P sẽ được Tòa án giải quyết bằng
một vụ án khác khi có yêu cầu.
3.4. Chia cho ông Đỗ Mạnh H được hưởng di sản là hiện vật của bà
Nguyễn Thị Thanh Thủy. Ông Hùng được hưởng toàn bộ quyền sử dụng, quyền
sở hữu đối với các tài sản sau:
- Nhà, đất tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3
Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là
phường Phương Liệt), thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AD 068308 do Sở tài nguyên môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội
cấp ngày 17/7/2006 đứng tên ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa
chỉ xã Quang Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh,
thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do
Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 20/5/2008 đứng tên công ty TNHH đầu
tư và xây dựng Long Việt (sở tài nguyên môi trường thành phố Hà Nội thực
hiện đăng ký biến động số 17902 ngày 09.12.2009 chuyển nhượng cho bà Trần
Thị Thanh Thuỷ theo Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC,
lập tại Văn phòng công chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009);
- Nhà, đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, diện tích 135 m2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 10111131307
do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày 19.9.2001, hồ sơ gốc số
41
5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng ký biến động sang tên cho ông Đỗ Mạnh
H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003; Địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường
Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông Phan,
phường Khương Đình, Hà Nội);
- Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa
chỉ: 235 Bạch Mai, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch
Mai, thành phố Hà Nội; theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất ở số 10107230462 do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày
26.7.2001, hồ sơ gốc số 4269.2001.QĐUB 21956.2001 đứng tên bà Trần Thị
Thanh Thủy;
- Nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự án Khu Đô thị
Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng
Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số
HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và ông Đỗ Mạnh H;
- Biệt thự số MMS-168A, khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu Đô
thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/
Vihajico-MMS-168A ngày 23/10/2015, giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát
triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) và bà Trần Thị Thanh Thủy.
Ông Đỗ Mạnh H có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục cấp lại hoặc đăng ký biến động theo quyết định của Tòa đối với:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 068308 do Sở tài nguyên
môi trường và nhà đất thành phố Hà Nội cấp ngày 17/7/2006 đối với Nhà, đất
tại thửa đất số (2-2)-2, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: C15+C16 - N3 Khu đô thị mới
Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai (nay là phường Phương Liệt),
thành phố Hà Nội;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 635397 do Sở tài nguyên
và môi trường cấp ngày 20/5/2008, đứng tên công ty TNHH đầu tư và xây dựng
Long Việt, sở tài nguyên môi trường thành phố Hà Nội thực hiện đăng ký biến
động số 17902 ngày 09.12.2009 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh Thuỷ
theo Hợp đồng số công chứng 117/2009-quyển số 01/VPCC, lập tại Văn phòng
42
công chứng Hoàng Cầu, thành phố Hà Nội ngày 13/11/2009 đối với: Nhà, đất
tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 00, diện tích 305.1 m2 tại địa chỉ xã Quang
Minh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Quang Minh, thành phố Hà
Nội);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số
10111131307 do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày 19.9.2001, hồ sơ gốc số
5464.2001.QĐUB/28644.2001, đăng ký biến động sang tên cho ông Đỗ Mạnh
H và bà Trần Thị Thanh Thủy ngày 27/8/2003 đối với: Nhà, đất tại thửa đất số
27, tờ bản đồ số 16-C-II-C, địa chỉ: Tổ 1 cụm 5 phường Khương Đình, quận
Thanh Xuân, Hà Nội (nay là địa chỉ 661 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình,
Hà Nội);
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số
10107230462 do UBND thành phố Hà Nội cấp ngày 26.7.2001, hồ sơ gốc số
4269.2001.QĐUB 21956.2001 đối với: Nhà, đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ
số 00, diện tích 92,68 m
2
, tại địa chỉ: 235 Bạch Mai, phường Cầu Dền, quận
Hai Bà Trưng (nay là phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội).
Đồng thời, ông Hùng có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền
để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
gắn liền với đất đối với: Nhà phố số THA-175, khu Nhà phố Thảo Nguyên, dự
án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn Giang (ECOPARK) huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương
lai số HĐMB/Vihajico-THA-175 ngày 09/10/2015; Biệt thự số MMS-168A,
khu Biệt thự Mimosa Valley, dự án Khu Đô thị Thương mại và Du lịch Văn
Giang (ECOPARK) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo Hợp đồng mua bán
nhà ở hình thành trong tương lai số HĐMB/ Vihajico-MMS-168A ngày
23/10/2015 theo quyết định của Tòa.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Vũ Mạnh H, bà Phạm Lê H.
4.1. Tuyên bố: Hợp đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/4/2006
giữa bà Trần Thị Thanh Thủy, ông Đỗ Mạnh H và ông Phan Văn Anh; Hợp
đồng mua bán căn hộ nhà ở cao tầng ngày 06/4/2006 giữa bà Trần Thị Thanh
Thủy, ông Đỗ Mạnh H và ông Phan Văn Anh; Hợp đồng mua bán căn hộ nhà
ở cao tầng ngày 06/01/2009 giữa bà Phạm Thị Lan Hương và bà Phạm Lê H có
43
hiệu lực pháp luật.
4.2. Xác định căn hộ chung cư số 1602 nhà CT9, diện tích sàn: 68,7 m2,
hình thức sở hữu: Riêng, tại thửa đất số CT9, diện tích 2715,0 m2, hình thức sử
dụng: Sử dụng chung tại địa chỉ: Khu đô thị mới Định Công, phường Định
Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương Liệt, thành phố Hà
Nội) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày
28/10/2014 đứng tên bà Trần Thị Thanh Thủy không phải là tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân của ông Đỗ Mạnh H và bà Trần Thị Thanh Thủy và không
phải là di sản thừa kế của bà Thủy.
4.3. Ông Vũ Mạnh H, bà Phạm Lê H có toàn quyền sử dụng, sở hữu hợp
pháp đối với căn hộ chung cư số 1602 nhà CT9 tại địa chỉ khu đô thị mới Định
Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội (nay là phường Phương
Liệt, thành phố Hà Nội) trên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên và môi
trường cấp ngày 28/10/2014.
Ông Hiệp, bà Hoa có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục đăng ký biến động đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 555170 do Sở tài nguyên
và môi trường cấp ngày 28/10/2014 nêu trên theo quyết định của Tòa.
5. Về án phí
5.1. Ông Đỗ Mạnh H được miễn 116,774,455 đồng (một trăm mười sáu
triệu, bảy trăm bảy mươi tư nghìn, bốn trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân
sự sơ thẩm đối với kỷ phần được nhận; Được miễn 88,142,314 đồng (tám mươi
tám triệu, một trăm bốn mươi hai nghìn, ba trăm mười bốn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm đối với phần được hưởng công sức đóng góp quản lý di sản.
5.2. Ông Trần Văn C, bà Tô Thị Minh Đức mỗi người được miễn
99,000,000 đồng (chín mươi chín triệu đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm.
5.3. Chị Đỗ Trần Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 118,741,485
đồng (Một trăm mười tám triệu, bảy trăm bốn mươi mốt nghìn, bốn trăm tám
mươi lăm đồng).
5.4. Chị Đỗ Thu P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 118,741,485 đồng
44
(Một trăm mười tám triệu, bảy trăm bốn mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi
lăm đồng).
5.5. Ông Vũ Mạnh H, bà Phạm Lê H mỗi người phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 600.000 đồng
(sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009839 ngày
22/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, xác nhận ông Hiệp, bà
Hoa đã nộp đủ.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa
hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo
tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vự 3 – Hà Nội;
- Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Hà
Nội;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguy
ễn Thị Hải Yến
45
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 927/2026/DS-ST Bản án số 927/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 927/2026/DS-ST Bản án số 927/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất