Bản án số 90/HS-ST ngày 08/05/2019 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tội môi giới mại dâm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 90/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 90/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 90/HS-ST ngày 08/05/2019 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tội môi giới mại dâm |
|---|---|
| Tội danh: | 255.Tội môi giới mại dâm (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 90/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/05/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 90/HS-ST
Ngày: 08-5-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Văn Bay.
2/ Ông Nguyễn Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Toà án nhân dân
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý
số: 75/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Thái Lan C, sinh năm: 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú:
214/15/1B TN, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm
thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thái Văn H và bà Tạ Thị H; bị cáo chưa có
chồng; có 03 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án:
Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 31/7/2018, Đội 6 -Phòng PC45 kết hợp với
đoàn liên ngành Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra khách sạn Mai Trúc
địa chỉ: D20/16Z, Võ Văn V, ấp B, xã V, huyện B phát hiện Lê Thị Hằng N
đang bán dâm cho Lê Văn T tại phòng 101, Nguyễn Thị Phương D đang bán
dâm cho Nguyễn Tài tại phòng 102. Lực lượng công an tiến hành đưa các đối
tượng về công an xã Vĩnh Lộc B lập biên bản sự việc. Tại công an xã Vĩnh Lộc
B, các đối tượng khai nhận việc mua bán dâm thông qua việc môi giới của Thái
2
Lan C là quản lý của quán Karaoke Mẫu Đơn địa chỉ: D20/23 Võ Văn V, Ấp B,
xã VLB, huyện B.
Qúa trình điều tra xác định quán Karaoke Mẫu Đơn do Phạm Văn Q làm
chủ, Quốc thuê Chi làm quản lý, cách khoảng nữa tháng Quốc mới đến quán
kiểm tra. Khoảng 1 tuần trước ngày bị phát hiện, do N và D có nhu cầu bán dâm
nên Chi giới thiệu khách mua dâm và thoả thuận cho Chi hưởng 200.000 đồng
mỗi lượt, Chi đồng ý nhưng không nói cho Q biết. Khoảng 15 giờ ngày
31/7/2018, Lê Văn T, Nguyễn T cùng với Đ, M (chưa rõ lai lịch) đến quán
Karaoke Mẫu Đơn nhậu. Lúc này, Chi yêu cầu 04 tiếp viên của quán là Lê Thị
Hằng N, Nguyễn Thị Phương D cùng T, T (chưa rõ lai lịch) vào tiếp bia.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T nói với Chi là T và T muốn mua dâm với
N và D. Chi đồng ý và thỏa thuận với Thành giá bán dâm mỗi người 1.500.000
đồng. Thành và Tài đồng ý đưa tổng số tiền 3.000.000 đồng cho C giữ. C yêu
cầu T và T đến khách sạn Mai Trúc, C đưa N và D đến bán dâm. Chi viết giấy ra
cổng cho D và N ra. Khi đến khách sạn Mai Trúc, nếu bán dâm xong C sẽ đưa
cho mỗi người 1.300.000 đồng. Chi hưởng tiền môi giới mỗi lượt là 200.000
đồng. Khi N và D đến khách sạn, N và T vào phòng 101, D và T vào phòng 102
và đang thực hiện hành vi bán dâm thì bị Đội 6 - Phòng PC45 kết hợp Đoàn 2
liên ngành Văn hóa xã hội Thành phố kiểm tra khách sạn lập biên bản sự việc
như nội dung nêu trên. Quá trình điều tra C khai nhận trước đó đã môi giới cho
N bán dâm 01 lần, môi giới cho D bán dâm 02 lần mỗi lần C lấy 200.000đồng.
Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Thái Lan C về
tội “Môi giới mại dâm” theo điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự
năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng.
2. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B trình bày lời
luận tội, giữ quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên phạt bị cáo với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, phạt tiền bị cáo
từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và xử lý vật chứng theo quy định pháp
luật.
3. Bị cáo nói lời sau cùng: do bị cáo có con còn nhỏ, xin Hội đồng xét xử
xem xét cho bị cáo mức án treo để bị cáo có thời gian chăm sóc con.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an
3
huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã được thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại
cơ quan điều tra của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử
có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 31/7/2018, Thái Lan C đã có hành vi móc nối
để cho N và D bán dâm cho T và T tại khách sạn Mai Trúc. Với hành vi đó bị
cáo đã phạm tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều
328 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc bị cáo môi
giới cho N bán dâm 02 lần, môi giới cho D bán dâm 03 lần là trường hợp bị cáo
phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội đối với 02 người trở lên. Đây là tình tiết định
khung theo điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, được
sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Xét hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an xã hội,
đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng sức khỏe con người và là nguyên nhân làm lây
truyền các loại virus gây bệnh nguy hiểm như bệnh HIV/AIDS. Do đó, cần xử
phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa
chung cho toàn xã hội.
Ngoài ra còn buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính đồng thời phạt
tiền bị cáo để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[4] Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hiện nay đang nuôi 03 con nhỏ.
Từ đó, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà đáng lẽ ra bị cáo
phải chịu.
Đối với hành vi của Lê Văn T, Nguyễn T, Nguyễn Thị Phương D. Qua
xác minh các đối tượng này không có đăng ký hộ khẩu thường trú nên cơ quan
điều tra chưa ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với hành vi bán dâm của Lê Thị Hằng N cơ quan cảnh sát điều tra
công an huyện B ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Phạm Văn Q chủ quán karaoke Mẫu Đơn, không biết bị cáo môi
giới mại dâm nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Đối với Phạm Duy P là chủ khách sạn Mai Trúc, không biết các đối tượng
T, T, D, N vào khách sạn mua bán dâm nên cơ quan điều tra không xử lý là phù
hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
4
- 02 bao cao su đã qua sử dụng; 01 giấy ra vào cổng có tên D, N được
Thái Lan C duyệt. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe gắn máy hiệu Dream, biển số 51M1-1859, số máy: 600825, số
khung: 0063825 thu giữ của Nguyễn Thị Phương D. Qua xác minh do bà Dương
Thị Ngọc O đứng tên chủ sở hữu nhưng bà O đã bán lại cho người bạn (không
rõ lai lịch). Hội đồng xét xử xét hiện nay chưa xác định được nơi cư trú của D
nên cơ quan điều tra chưa lấy lời khai liên quan đến chiếc xe trên. Do đó, chiếc
xe này tiếp tục giao cho cơ quan điều tra công an huyện B để giải quyết theo
thẩm quyền.
- 3.000.000 (ba triệu) đồng thu giữ của bị cáo. Đây là số tiền của T, T đưa
cho bị cáo để thực hiện hành vi mua bán dâm nên tịch thu, nộp ngân sách nhà
nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 và khoản 4 Điều 328; điểm b khoản 1 Điều 47;
điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi
bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều
333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
[1] Tuyên bố bị cáo Thái Lan C phạm tội “Môi giới mại dâm”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Thái Lan C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo đi chấp hành án.
Phạt tiền bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng để tịch thu sung vào ngân
sách nhà nước.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 600.000 (sáu trăm nghìn)
để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[3] Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 02 bao cao su hiệu Supemen đã qua sử dụng; 01 giấy
ra vào cổng có tên D, N được Thái Lan C duyệt.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
- 01 xe gắn máy hiệu Dream, biển số 51M1-1859, số máy: 600825, số
khung: 0063825 giao cho cơ quan điều tra công an huyện B để giải quyết theo
thẩm quyền.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/5/2019 tại Kho vật chứng Cơ
quan Thi hành án dân sự huyện B và theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày
04/3/2019 tại Kho bạc nhà nước huyện B.
[4] Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
5
[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[6] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân TPHCM;
- Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện B;
- Công an huyện B;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện B;
- PC 53- Công an TPHCM;
- Sở tư pháp TPHCM;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hs;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Khắc Vƣơng
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Khắc Vương
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng