Bản án số 90/2021/DS-ST ngày 19/08/2021 của TAND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 90/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 90/2021/DS-ST ngày 19/08/2021 của TAND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phù Mỹ (TAND tỉnh Bình Định)
Số hiệu: 90/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 90/2021/DS-ST
Ngày 19-8-2021
V/v tranh chấp liên quan đến
yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở việc thực hiện quyền của
người sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiến Dũng;
2. Ông Nguyễn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Huỳnh Thị Thư Tòa án nhân dân huyện
Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham
gia phiên toà: Ông Hồ Thái Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình
Định xét xử thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2020/TLST-DS ngày 09
tháng 6 năm 2020, về “tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 2603/2021/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 Quyết định
hoãn phiên tòa số: 2675/2021/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2021; giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Văn N, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn HA, xã MC, huyện PM,
tỉnh BĐ; (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1954; địa chỉ: địa chỉ: Thôn HA, MC,
huyện PM, tỉnh BĐ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thị S: Ông Văn
N, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh BĐ; người đại
diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 29/5/2020). (có mặt).
2
2. Bị đơn: Ông Phan Trinh C, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn HA, MC,
huyện PM, tỉnh BĐ. (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Công T, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn HA, MC, huyện PM,
tỉnh BĐ;
Người đại diện của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Công
T: Ông Văn N, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh
; người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 29/5/2020).
(có mặt).
+ Anh Viết T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn HA, MC, huyện PM,
tỉnh BĐ;
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Viết T1:
Ông Lê Văn N, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn HA, xã MC, huyện PM, tỉnh ;
người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2020). (có
mặt).
+ Anh Chí C1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn HA, MC, huyện PM,
tỉnh BĐ.
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Chí C1:
Ông Lê Văn N, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn HA, xã MC, huyện PM, tỉnh ;
người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 22/6/2020). (có
mặt).
+ Uỷ ban nhân dân xã MC, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; địa chỉ: xã Mỹ
Chánh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thái B - Chủ tịch UBND
MC. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 4 m 2020, tại bản khai biên
bản lấy lời khai lập ngày 09/6/2020 nguyên đơn ông Văn N (đồng thời
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thị S; người đại diện
hợp pháp của những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Công T,
anh Viết T1, anh Chí C) trình bày: Hộ gia đình ông N được quyền sử
dụng thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39, diện tích 1224,8m
2
(trong đó 200m
2
đất ở
1024,8m
2
đất trồng cây hàng năm khác); địa chỉ thửa đất: thôn HA, MC,
huyện PM, tỉnh đã được Ủy ban nhân dân huyện PM cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BI 969711, số vào sổ cấp GCN: CH06079 ngày 15 tháng 3
năm 2012. Gia đình ông N sử dụng lối đi từ thửa đất ra ngoài trên con đường
đất. Năm 1990, Nhà nước quy hoạch mrộng đường đi, nên gia đình ông N mở
lối đi từ thửa đất lên phía Tây cho thuận tiện việc đi lại. Năm 1994, Nhà nước
mở rộng đường tông nông thôn nên đường đất này được mở rộng; đường
3
đất từ nhà của ông N đến đường tông nông thôn chiều dài khoảng 08m.
Con đường đất từ nhà của ông N ra đường tông đi trên phần diện tích đất do
Nhà nước quản lý. Trong quá trình sử dụng con đường này gia đình ông N t
san lấp mặt bằng. Ngày 17 tháng 9 năm 2018, ông Phan Trinh C đến trồng trụ bê
tông, kéo lưới B40 rào bao quanh phần diện tích đất do Nhà nước quản lý (trong
đó có đường đi của gia đình ông N), không cho gia đình ông N đi trên đường đất
này. Ông N đã báo cáo sự việc trên đến Ủy ban nhân dân xã MC nên Ủy ban
nhân dân xã MC đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi
trên của ông Phan Trinh C. Ngày 16 tháng 8 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã MC
tiến hành cưỡng chế, tháo dỡ toàn bộ công trình ông Phan Trinh C đã rào
chắn. Tuy nhiên, vào chiều cùng ngày ông Phan Trinh C tiếp tục trồng trụ bê
tông kéo lưới B40 trước 02 trụ ngõ của gia đình ông N, không cho gia đình ông
N sử dụng lối đi này. Nay ông N, S yêu cầu ông Phan Trinh C nghĩa vụ
chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc hộ gia đình ông N, bà S thực
hiện quyền sử dụng thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất thôn HA,
MC, huyện PM, tỉnh đã được Ủy ban nhân dân huyện PM cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 969711, số vào sổ cấp GCN: CH06079
ngày 15 tháng 3 năm 2012. Đồng thời buộc ông Phan Trinh C nghĩa vụ tháo
dỡ 03 trụ tông móc lưới B40 ông C đã rào chắn đường đi từ thửa đất của
hộ gia đình ông N ra đường bê tông.
- Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai lập ngày 09/6/2020, bị đơn ông
Phan Trinh C trình bày: Ông C được quyền sử dụng thửa đất tiếp giáp với tha
đất của ông Văn N, tại địa chỉ thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh nhưng
chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 1995,
Nhà nước có chủ trương xây dựng Chợ Mới MC nhưng không đường đi
vào chợ nên ông C đồng ý cho Nhà nước mở đường đi trên thửa đất. Sau khi
Nhà nước làm đường tông trên thửa đất thì thửa đất này còn phần đất tiếp
giáp với thửa đất của ông Văn N nên ông N đã tự ý mđường đi trên phần
diện ch đất của ông C. Vào ngày 17 tháng 9 năm 2018, ông C tiến hành trồng
trụ tông, kéo lưới B40 rào bao quanh diện tích đất của ông C. Đến ngày 16
tháng 8 năm 2019, Ủy ban nhân dân MC đã cưỡng chế, tháo dỡ. Sau khi Ủy
ban nhân dân xã MC tháo dỡ trụ tông, lưới B40 trên thì ông C tiếp tục trồng
trụ tông, kéo lưới B40 rào chắn 02 trụ nnhà ông Văn N với mục đích
không cho gia đình ông Văn N đi trên diện tích đất này. Nay ông C không
đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N.
- Tại Công văn số: 97/UBND ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Ủy ban
nhân dân xã MC, huyện PM xác định: Theo hồ sơ địa chính lưu giữ tại Ủy ban
nhân dân MC, bản đồ 299 đo đạc chỉnh được Giám đốc Sở Địa chính
tỉnh duyệt năm 1997 thì hộ gia đình ông Phan Trinh C được Nhà nước cân
đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ. Nhà nước giao
quyền cho ông Phan Trinh C được quyền sử dụng một phần thửa đất số 1222A,
tờ bản đồ số 17. Thửa đất số 1222A, tờ bản đồ số 17 diện tích 656m
2
, trong
đó Nhà nước giao quyền cho ông Phan Trinh C sử dụng 410m
2
, diện tích đất còn
4
lại 246m
2
được quy hoạch đường giao thông. Ông Văn N được quyền sử
dụng thửa đất số 1140B, tờ bản đồ 17 (tờ bản đồ 299) – tờ bản đồ mới có số thửa
540, tờ bản đồ số 39. Phía Tây của thửa đất ông Lê Văn N một con đường đất
đi chung rộng khoảng 3m-4m để làm đường đi chung. Năm 1994, Ủy ban nhân
dân MC mở đường đất từ Chợ Mới MC đi thôn HA mở đoạn đường từ
nhà ông T2 đến giáp nhà ông M ảnh hưởng đến phần diện tích đất quy hoạch
giao thông thuộc thửa đất số 1222A, tờ bản đồ số 17. Sau khi làm đường xong
phía Đông của con đường còn lại một khoảnh đất nhỏ nên ông Lê Văn N mở lối
đi trên phần diện tích đất dư trên sử dụng làm con đường đi từ năm 1994 đến
khi ông Phan Trinh C thực hiện hành vi cản trở. o năm 2012, Nhà nước tiến
hành đo đạc lại bản đồ địa chính mới, Ủy ban nhân dân huyện PM đã cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Trinh C được quyền sử dụng thửa
đất số 537, tờ bản đồ số 39, diện tích 540,9m
2
; ông Phan Trinh C sdụng thửa
đất trên ổn định đến nay không ai tranh chấp. Nguồn gốc diện ch đất nằm
liền kề với thửa đất số 540, tbản đsố 39 nhập từ đường đi chung và một
phần diện tích đất được quy hoạch đường giao thông tại thửa đất số 1222A, t
bản đồ số 17 sau khi làm đường xong còn dư lại. Khi đo đạc lại bản đồ địa chính
mới diện tích thửa đất nhỏ nên thửa đất này được xác định trên bản đồ đất
hành lang đường giao thông do Ủy ban nhân dân MC quản lý. Thửa đất nằm
vị trí liền kề thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39 đất do Ủy ban nhân dân MC
quản quy hoạch đường giao thông, không sử dụng vào mục đích khác. Việc
ông Lê Văn N mở lối đi và sử dụng ổn định từ năm 1994 đến nay trên phần diện
tích của thửa đất trên là phù hợp.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Văn N giữ nguyên ý kiến yêu cầu
nêu trên; bị đơn ông Phan Trinh C vắng mặt; đại diện Ủy ban nhân dân MC,
huyện PM vắng mặt tại đơn đề nghị vắng mặt đại diện Ủy ban nhân dân
MC, huyện PM giữ nguyên ý kiến Công văn số: 97/UBND ngày 19 tháng 4 năm
2021.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của những người tham gia tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên
tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; đối với những
người tham gia tố tụng thì nguyên đơn ông Văn N; người đại diện hợp pháp
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã MC đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn ông Phan Trinh C chưa thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng Điều 169, Điều 246 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 166, 171
của Luật Đất đai, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Văn N Nguyễn Thị S; buộc bị đơn ông Phan Trinh C nghĩa vụ chấm
dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc hộ gia đình ông Văn N thực
hiện quyền sdụng thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất: thôn HA,
5
xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ; buộc ông Phan Trinh C có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ
hàng rào bằng trụ tông, móc lưới B40 ông C đã rào chắn lối đi từ nhà
của gia đình ông Văn N ra đường tông. Buộc bđơn ông Phan Trinh C
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ghi nhận việc ông Văn N tự nguyện chịu
toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quyền khởi kiện thẩm quyền giải quyết: Ông Văn N và
Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu ông Phan Trinh C nghĩa vụ chấm dứt hành
vi cản trở trái pháp luật đối với việc hộ gia đình ông Văn N thực hiện quyền
sử dụng thửa đất s540, tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất: thôn HA, MC,
huyện PM, tỉnh yêu cầu ông Phan Trinh C nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ
hàng rào bằng trụ bê tông, móc lưới B40 mà ông Phan Trinh C đã rào chắn lối đi
từ nhà của hộ gia đình ông Văn N ra đường tông. Do đó, Hội đồng xét
xử xác định các đương sự tranh chấp tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định tại
khoản 14 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân s
năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định.
[1.2] Về vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Phan Trinh C đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; người đại diện hợp
pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã MC, huyện
PM vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại
khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến
hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn ông Văn N, bà Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu bị
đơn ông Phan Trinh C nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối
với việc gia đình ông Lê Văn N thực hiện quyền sử dụng thửa đất số 540, tờ bản
đồ số 39; địa chỉ tha đất: thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh đồng thời
yêu cầu buộc bị đơn ông Phan Trinh C nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ hàng rào
bằng trụ tông, móc lưới B40 ông Phan Trinh C đã rào chắn lối đi từ thửa
đất của hgia đình ông Văn N ra đường tông. Bị đơn ông Phan Trinh C
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Văn N, bà Nguyễn Thị
S.
[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo hồ địa chính tại Ủy ban nhân dân
MC, huyện PM các tài liệu, chứng cứ được thu thập căn cứ xác định
ông Phan Trinh C được Nhà nước giao quyền sử dụng một phần thửa đất số
1222A, tờ bản đồ số 17, diện tích 656m
2
, địa chỉ thửa đất: thôn HA, MC,
6
huyện PM, tỉnh BĐ; trong đó: Nhà nước giao quyền cho ông Phan Trinh C sử
dụng diện tích 410m
2
; diện tích 246m
2
đất còn lại được quy hoạch đường giao
thông. Hộ gia đình ông Lê Văn N (gồm ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị S, anh Lê
Công T, anh Viết T1, anh Chí C1) được quyền sử dụng thửa đất số
1140B, tờ bản đồ 17 (nay thửa đất số 539, tờ bản đồ số 39); địa chỉ thửa đất:
thôn HA, xã MC, huyện PM, tỉnh BĐ. Phía Tây thửa đất của hộ gia đình ông Lê
Văn N một con đường đất rộng khoảng 3m-4m để làm đường đi chung. Năm
1994, y ban nhân dân MC mở đường đất từ Chợ Mới đi thôn HA mở
đoạn đường từ nhà ông T2 đến giáp nhà ông M nên ảnh hưởng đến phần diện
tích đất quy hoạch giao thông thuộc thửa đất số 1222A, tờ bản đồ số 17. Sau khi
làm đường xong phía Đông của con đường còn lại một khoảnh đất nhỏ nên gia
đình ông Văn N mlối đi trên phần diện tích đất nói trên sử dụng làm
con đường đi từ năm 1994 đến ngày 17 tháng 9 năm 2018 thì ông Phan Trinh C
thực hiện hành vi cản trở. Năm 2012, Nhà nước tiến hành đo đạc lại bản đồ địa
chính mới, Ủy ban nhân dân huyện PM đã cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất cho ông Phan Trinh C được quyền sử dụng thửa đất số 537, tờ bản đồ số 39,
diện tích 540,9m
2
.
Nguồn gốc của thửa đất nằm vị trí liền kề thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39
nhập từ đường đi chung một phần diện tích đất của Ủy ban nhân dân
MC quy hoạch đường giao thông tại thửa đất số 1222A, tờ bản đồ số 17 sau khi
làm đường xong còn lại. Tại Công văn số: 1313/UBND-TNMT ngày 29
tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện PM kết luận: Phần diện tích đất
ông Phan Trinh C rào chắn lối đi từ nhà ông Lê Văn N ra đường bê tông là phần
đất của thửa đất số 1222A, tờ bản đồ số 17 trước đây y ban nhân dân MC
đã quy hoạch giao thông, do Ủy ban nhân dân MC quản lý, sử dụng. Tại
Công văn số: 97/UBND ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Ủy ban nhân dân xã MC
kết luận: Thửa đất nằm vị trí liền kề thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39 là đất do
Ủy ban nhân dân MC quản quy hoạch đường giao thông, không sử dụng
vào mục đích khác. Việc ông Văn N mở lối đi sử dụng ổn định từ năm
1994 đến nay trên phần diện tích của thửa đất trên là phù hợp.
Ông Phan Trinh C cho rằng ông được quyền sử dụng thửa đất tiếp giáp
với thửa đất của ông Văn N nhưng chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 1995, Nhà nước có chủ trương xây dựng Chợ
Mới MC nhưng không đường đi vào chợ nên ông C đã đồng ý cho Nhà
nước mđường đi trên thửa đất. Sau khi Nhà nước làm đường bê tông trên thửa
đất thì thửa đất này còn phần diện tích tiếp giáp với thửa đất của ông Lê Văn N;
ông Lê Văn N đã tự ý mở đường đi trên phần diện tích đất của ông C. Hội đồng
xét xử xét thấy, ông Phan Trinh C không cung cấp được chứng cứ để chứng
minh được quyền s dụng diện tích đất tiếp giáp với thửa đất của hgia đình
ông Văn N. Do đó, không căn cứ chấp nhận yêu cầu trên của ông Phan
Trinh C.
[2.3] Ngày 15 tháng 3 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện PM cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 969711, số vào sổ cấp GCN số CH06079
7
giao cho vợ chồng ông Văn N, Nguyễn Thị S được quyền sử dụng thửa
đất số 540, tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất: thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh
BĐ. Theo quy định tại khoản 5, khoản 7 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013
thì hộ gia đình ông Văn N, bà Nguyễn Thị S được Nhà nước bảo hộ khi
người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; khiếu nại, tố
cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình
những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định. Ông Phan
Trinh C thực hiện hành vi cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền sử
dụng đất của hgia đình ông Văn N, Nguyễn Thị S. Theo quy định tại
khoản 10, Điều 12 của Luật đất đai năm 2013 thì hành vi nêu trên của ông Phan
Trinh C là hành vi bị nghiêm cấm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 169,
246 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc ông Phan Trinh C chấm dứt hành vi cản
trở trái pháp luật đối với việc hộ gia đình ông Văn N thực hiện quyền sử
dụng thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39, địa chỉ thửa đất: thôn HA, xã MC, huyện
PM, tỉnh . Buộc ông Phan Trinh C nghĩa vụ tháo dỡ 03 trụ tông kéo
lưới B40 rào chắn 02 trụ ngõ của hộ gia đình ông n N, Nguyễn Thị S
xây dựng trên thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39 (Có sơ đồ kèm theo).
[3] Xét về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng. Tại phiên
tòa ông Văn N tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số tiền ông Văn N đã
nộp tạm ứng 1.500.000 đồng nên ông Lê Văn N đã nộp xong.
[4] Xét về án phí n sthẩm: Bị đơn ông Phan Trinh C phải chịu s
tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Ông Văn N, Nguyễn Thị S người cao tuổi, nên thuộc trường hợp
miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
[5] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết ván là phù hợp với
nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 169, Điều 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 10
Điều 12; khoản 5, khoản 7 Điều 166, Điều 171 của Luật đất đai năm 2013;
khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/PL-
UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án p lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn N Nguyễn
Thị S.
1. Buộc ông Phan Trinh C phải nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở trái
pháp luật đối với hgia đình ông n N, Nguyễn Thị S thực hiện quyền
8
sử dụng thửa đất số 540, tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất: Thôn HA, MC,
huyện PM, tỉnh BĐ.
2. Buộc ông Phan Trinh C nghĩa vụ tháo dỡ 03 trụ tông kéo lưới
B40 mà ông Phan Trinh C đã rào chắn 02 trụ ngõ trả lại lối đi từ thửa đất số 540,
tờ bản đồ số 39; địa chỉ thửa đất: Thôn HA, MC, huyện PM, tỉnh ra
đường tông cho hộ gia đình ông n N, Nguyễn Thị S. (Có sơ đồ kèm
theo).
3. Về án phí, chi phí tố tụng:
3. 1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.500.000 đồng (Một triệu
năm trăm nghìn đồng). Ông Văn N tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số
tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ông N đã nộp 1.500.000 đồng
(Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Lê Văn N đã nộp xong.
3.2. Về án phí dân sự thẩm: Buộc ông Phan Trinh C phải chịu số tiền
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm để sung vào công
quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- VKSND H.Phù Mỹ;
- VKSND tỉnh Bình Định;
- TAND tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- THADS H.Phù Mỹ;
- Lưu VP- HSVA.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Bá Tùng
Tải về
Bản án số 90/2021/DS-ST Bản án số 90/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất