Bản án số 886/2019/LĐ-PT ngày 09/10/2019 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 886/2019/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 886/2019/LĐ-PT ngày 09/10/2019 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 886/2019/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/10/2019
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 886/2019/LĐ-PT
Ngày: 09 - 10 - 2019
V/v tranh chấp đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Giang
Ông Nguyễn Ngọc Tài
- Thư phiên tòa: Lâm Hỷ Ngọc - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 9 ngày 02, ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ
sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xphúc thẩm ng khai vụ án
thụ lý số 09/2019/TLPT-LĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án
nhân dân Quận G, Thành phố HChí Minh bị kháng o.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số 3686/2019/-PT ngày
11/8/2019; Quyết định hoãn phiên a số 7143/2019/QĐ-PT ngày 11/9/2019; Quyết
định tạm ngừng phiên a số 7944/2019/-PT ngày 25/9/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Viết H, sinh năm 1972; trú tại: E47 khu dân
Công ty H, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Nguyễn
Thành D, sinh năm 1976, Công ty Luật V thuộc Đoàn luật Thành phố Hồ Chí
Minh; Địa chỉ liên hệ tại: 285/16 đường T, Phường M, Quận K, Thành phố Hồ
Chí Minh (có mặt);
Bị đơn: ng ty N; Trsở ti: 86 Đường s Y, png P, Quận G, Tnh ph
HChí Minh;
Nời đại diện theo pháp luật: Nguyn Thị Kiều O, sinh m 1966; trú
tại: 16E1 X, Phưng X, quận T, Tnh phHChí Minh.
2
Nời đại diện theo ủy quyền: Ông ơng Phi A, sinh m 1974; trú tại
326/1 đường K, Phường X, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền
ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Công ty N) (có mặt);
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bđơn: Luật Bùi Quốc T,
sinh năm 1970, Văn phòng Luật T thuộc Đoàn luật Thành phố Hồ Chí
Minh; Địa chỉ liên hệ tại: 147 đường T, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Viết H; bị đơn Công ty N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại a án, nguyên đơn ông
Trần Viết H trình bày:
Ngày 03/8/2017, Công ty N (Sau đây gọi tắt Công ty N) hợp đồng thử
việc số 24/HĐTV-KNE-TCNS với ông Trần Viết H, công việc phải làm: Thực hiện
công việc theo bảng mô tả công việc, chức danh chuyên n giám đốc công
nghệ thông tin, thời gian thử việc 02 tháng kể từ ngày 03/8/2017 đến ngày
02/10/2017, mức lương thử việc 100% của tổng thu nhập là 68.000.000 đồng/tháng,
địa điểm thỏa thuận làm việc: Số 86 đường Y, phường P, Quận G, Thành phố Hồ
Chí Minh, thời gian làm việc 44 giờ/tuần. Hết thời gian thử việc, nguyên đơn vẫn
tiếp tục làm việc, đến ngày 14/10/2017, bị đơn đề nghị thăng chức cho ngun đơn
kiêm nhiệm quyn Chánh n phòng, đề xuất mức ơng ng từ 68.000.000
đồng/tháng n tnh 75.000.000 đồng/tháng thêm chế độ ưu đãi con của
nguyên đơn được học tại hệ thống trường quốc tế S. Ngày 17/10/2017, nguyên đơn
đề nghị bị đơn hợp đồng lao động với nguyên đơn để đảm bảo quyền lợi cho
nguyên đơn. Tuy nhiên, ngày 23/10/2017, bị đơn có thể hiện kng muốn tiếp tục ký
hợp đồng lao động với nguyên đơn, bằng việc gửi cho nguyên đơn văn bản thỏa
thuận chm dứt hợp đồng lao động. Đến ngày 26/10/2017, bị đơn lại gửi cho nguyên
đơn bản dự thảo hợp đồng lao động c điều khoản không giống như thỏa thuận
trong hợp đng thử việc trước đó, cụ thể ghi địa điểm làm việc tại Tờng tiểu học,
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông E (E), Khu dân cư 13C, Đại l L, xã P, huyn
C hoặc thể làm việc tại c địa đim khác trong hệ thống n phòng của ng ty
tại Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của Công ty tại từng thời đim. Nguyên
đơn không đồng ý theo bản dự thảo của hp đồng, n yêu cầu bị đơn chỉnh sửa lại
theo thỏa thun thử việc đã nhưng bị đơn không đồng ý. Vào lúc 10 giờ 30 phút
ngày 04/11/2017, nguyên đơn nhận được Thông báo số: 03/2017/CV-KNE ngày
03/11/2017 của bị đơn u cầu nguyên đơn không mặt tại công ty kể từ sau 12
giờ 00 phút ng ngày 04/11/2017 yêu cầu nguyên đơn bàn giao công việc.
Nguyên đơn đã nhận lương đến ngày 04/11/2017. Bị đơn đã có hành vi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với nguyên đơn nên nguyên đơn
khởi kiện. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ ngun yêu cầu khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết như sau:
3
+ Tuyên bố Công ty N đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
yêu cầu hủy Thông báo số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017.
+ Buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn tiền lương trong những ngày không
được làm việc từ ngày 05/11/2017 đến ngày xét xử thẩm (ngày 30/11/2018)
12 tháng 20,5 ngày số tiền 874.083.333 đồng.
+ Bồi thường 02 tháng lương theo Khoản 1 Điều 42 Bộ Luật lao động :
136.000.000 đồng (68.000.000 đồng x 2).
+ Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ
ngày 03/10/2017 đến ngày 30/11/2018 ơngng 14 tng 88.880.000 đồng.
+ Tiền lương 03 ngày phép của tháng 8, 9, 10 năm 2017 là: 03/24 ngày x
68.000.000 đồng = 8.500.000 đồng.
+ ơng tháng 13 : 68.000.000 đồng.
Tổng cộng các khoản 1.186.796.666 đồng, u cầu bị đơn thanh toán một
lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn nhận trở lại làm việc.
Đối với yêu cầu phản tố của bđơn: Sau khi hết thời gian thử việc bđơn chỉ đưa
ra gợi ý thăng chc,ngơng và chế độ ưu đãi cho nguyên đơn tng qua các email
trao đổi miệng nhưng không ký hợp lao động chính thức với ngun đơn, chính vì
vậy ngày 17/10/2017, nguyên đơn gửi email đnghbị đơn hợp đồng lao động
chính thức để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn, nếu sau khi ký hợp đồng lao động
chính thức thay đổi về chức ng nhiệm vụ, thphlục hợp đồng hoc
thhủy hợp đồng lại hợp đồng mới nếu hai n đồng ý. Tại thời điểm đó, bị
đơn cho rằng nguyên đơn thvic chưa đạt yêu cầu đề nghị nguyên đơn thử việc
thêm hai tháng, nguyên đơn kng đồng ý yêu cầu được ký hợp đồng lao động
chính thức hoặc nếu cho nguyên đơn nghviệc thì phải có quyết định thôi việc t phía
bị đơn. Đến ngày 23/10/2017, bị đơn gi dự thảo hợp đồng lao động cho nguyên đơn,
c điều khoản không giống như thỏa thun trước đó nên nguyên đơn cần thỏa
thuận lại với bđơn, đến 10 gi30 phút ny 04/11/2017, bị đơn gửi tng o u
cầu ngun đơn không đến công ty m việc kể từ sau 12 gicùng ny và phải bàn
giao ng việc cho b đơn. Nguyên đơn kng đơn phương chấm dứt hợp đng lao
động, do đó trước yêu cu của bị đơn buộc nguyên đơn bi thường do đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động stiền 136.000.000 đồng, nguyên đơn không đồng ý.
Tại bản tự khai và và quá tnh tham gia tố tụng tạia án, bị đơn - Công ty N
người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trọng Đ trình bày:
Thống nhất với trình y của nguyên đơn về thời gian làm việc, công việc phi
mi làm việc trong thời gian thviệc, hợp đồng thử việc và mứcơng. Vnội
dung sự việc cho rằng bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bị đơn
không đồng ý bởi lẽ: Sau khi hết thời hạn th việc vào ngày 02/10/2017, nguyên đơn
4
vẫn m việc bình tờng chờ đến ngày ký hp đồng cnh thức. Ny 14/10/2018, bị
đơn đã gửi email trao đổi với nguyên đơn về ng việc đề xuất mức lương kiêm
nhiệm đối với hp đng lao động sẽ ký kết như nguyên đơn trình bày đúng. Ngày
23/10/2017, bđơn đã gửi cho nguyên đơn n bn thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao
động th việc mà hai n đã trước đó, bị đơn luôn muốn m việc u i với
nguyên đơn nng nguyên đơn thhiện không muốn tiếp tục m việc, luôn yêu cu
bị đơn chấm dứt lao động ra quyết định thôi việc cho nguyên đơn, điu y thể
hiện qua các email vào các ny 19, 21, 23, 24 tháng 10/2017. Tại biên bản họp ngày
26/10/2017 ghi nhn bđơn đã giao cho nguyên đơn hợp đồng lao động số 73/HĐLĐ-
KNE-TCNS ngày 03/10/2017 đề nghị ngun đơn ký hợp đồng lao động. Nguyên
đơn hẹn sẽ trả lời việc kết hợp đồng lao động hay khôngo ny 31/10/2017,
nhưng đến ngày 31/10/2017 nguyên đơn không trlời u cầu gia hạn thêm thời
gian, nguyên đơn đã nhn n bản s01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017 s
02/2017/ CV-KNE ny 02/11/2017 của bị đơn với nội dung nếu nguyên đơn đồng ý
hợp đồng lao động t bị đơn tiến nh kết ngay, nếu không phản hồi nào
bằng n bn thì đồng nga việc hai bên không tiến hành ký kết hợp đồng lao động,
bị đơn không chấp nhận đnghị o i thêm thời gian trlời của ngun đơn, kết
quả nguyên đơn không phản hi. Ngày 04/11/2017 nguyên đơn đã tiến hành bàn giao
ng vic bằng biên bản n giao số 30/2017/BBBG/KNE sau đó không đến i
m việc ti huyện C theo s pn công của bị đơn. Ngun đơn cố tình tìm đủ mọi lý
do để kéo dài thời gian ký hợp đồng lao động, điều này m ảnh hưng đến quyền và
lợi ích hp pháp của bị đơn, làm hủy hoại chiến ợc kinh doanh, c kế hoch
phương án nhân sự của bị đơn bị đỗ vỡ trong suốt thời gian từ 25/10/2017 đến hết
ngày 03/11/2017. Nguyên đơn đã tự ý bỏ việc không đến m việc tại sở C vi phạm
khoản 3 Điều 37 Bluật lao đng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà
không báo trước 45 ngày. Do đó, bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, đồng thời có yêu cầu phản tố buộc nguyên đơn phải bồi thường thiệt
hại theo khoản 1 Điều 43 Luật lao động gồm 1/2 tng lương 34.000.000 đồng
khoản tiềnơng tương ứng kngo trước 45 ngày theo Khoản 3 Điều 43 Luật lao
động 102.000.000 đồng. Tổng cng 136.000.000 đồng, u cầu nguyên đơn tr một
lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại Bản án lao động thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018,
Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
n cứ o khoản 1 Điều 32, điểm c khon 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 5, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng n sự; n cứ c
o 26, 27, 35, 38, 42, 103, 111 Bộ luật lao động; Căn cứ o các Điu 2, 85, 86, 89
Luật bảo hiểm hội; n cứ vào Nghđịnh 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của
Chính phủ ớng dẫn thi nh một số điều của Bluật lao động; n cứ vào ngh
định 44/2017/-CP ngày 14/4/2017 của Chính phquy định mức đóng bảo hiểm
hội bắt buộc o quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghnghiệp Quyết định
595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Bảo hiểm hội Vit Nam ban nh quy trình
5
thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tht nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động -
bệnh nghề nghiệp; quản sổ bảo hiểm hội, thẻ bảo him y tế; n cứ vào Điều
357 Bộ Luật dân sự; n cứ Luật Thinh án dân sm 2008 sửa đổi, bổ sung năm
2014; Căn c Luật phí, lệ phí Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quy định về mc thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản và sử dụng án phí lphí a án;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với
Công ty N về việc tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
1. Tuyên bống ty N đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
với ông Trần Viết H và Hủy văn bản số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017 của N.
2. Buộc Công ty N phải thanh toán cho ông Trần Viết H tiền bồi thường do
đơn phương chấm dt hợp đồng lao động trái pháp luật 350.461.583 đồng
đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp 58.480.000 đồng. Tổng
cộng 408.941.583 đồng.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Viết H không yêu cầu Công ty N nhận
trở lại làm việc.
Ktừ ny người được thinh án có đơn yêu cu thinh án nếu người phi thi
hành án không thinh thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mci suất quy đnh tại
Khoản 2 Điều 357 B luật dân sự ơng ng với số tin thời gian chậm thi hành án.
4. Không chấp nhận u cầu của ông Trần Viết H đối với ng ty N về việc
buộc Công ty N thanh toán số tiền 777.855.083 đồng. Trong đó bao gồm: Lương
tháng thứ 13: 68.000.000 đồng, tiền lương trong những ngày không được làm việc
tính từ ngày 09/02/2018 đến ngày 30/11/2018 là: 659.621.750 đồng, tiền bảo hiểm
hội nh từ ngày 09/02/2018 đến ngày 30/11/2018 là: 30.400.000 đồng; Tiền
phép năm là 8.500.000 đồng.
5. Không chấp nhận u cầu phản t của ng ty N đối với ông Trần Viết H về
vic yêu cầu bồi tờng do đơn pơng chấm dứt hợp đồng lao đng trái pp luật s
tin 136.000.000 đng.
6. Án phí lao động thẩm: Công ty N phi chịu tiền án phí lao động thẩm
nh trên số tiền phải trả cho ông Trần Viết H là 19.821.168 đồng án phí lao động
thẩm do yêu cầu phản tố không được chấp nhận 4.080.000 đng. Tổng số tiền án
phí lao động thẩm ng ty N phải chịu 23.901.168 đồng. ng ty N được cấn
tro số tiền tạm ng án p đã nộp 2.040.000 đng theo bn lai thu tiền tạm ứng
án phí số AA/2017/0026225 ngày 06/11/2018 của Chi cục Thi nh án n sự Quận
G, Tnh phố Hồ Chí Minh. Công ty Nn phải np 21.861.168 đồng tiền án phí lao
động thẩm. Ông Trần Viết H được miễn án phí lao động thẩm.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự quy
định về thi hành án.
6
Ngày 14/12/2018, ông Trần Viết H nộp đơn kháng o một phần nội dung
Bản án sơ thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận G.
Ngày 13/12/2018, Công ty N đơn kháng cáo đề ngày 12/12/2018 toàn bộ
Bản án sơ thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận G.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ngun đơn, trình
y: n cứ Hợp đồng thử việc ny 03/8/2017 thì thời gian thử việc là 02 tháng tính
từ ngày 03/8/2017 đến ngày 02/10/2017. Hết thời hạn th việc, c n không
thoả thuận o i thêm thời gian th việc, đồng thời nguyên đơn tiếp tục m việc
đến ny 04/11/2017 nhưng không ký hợp đồng lao động n được xem là Hợp đồng
lao động không c định thời hạn theo quy định của Luật lao đng. Sau khi hết thời
gian thử việc, nguyên đơn vẫn đi làmnh thường, đến ngày 23/10/2017 ngun đơn
nhn được “Thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động” do bà Nguyễn Thị Kiều O ký,
điều này cho thấy bị đơn mong muốn chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn.
Tại cuộc họp ngày 26/10/2017, bị đơn đưa cho nguyên đơn dự thảo Hp đồng lao
động đề ngày 03/10/2017 nhưng không tên đóng dấu của bị đơn, nguyên đơn
i sẽ trả lời o 4 giờ 00 phút, chiều ngày 31/10/2017, bị đơn i ng ty sẵn ng
hợp đồng nếu trong hợp đồng vấn đề thì ông H trlời sớm để thay đổi
hợp đồng. Qua i lần trao đổi bằng văn bản, hợp đồng vẫn chưa được ký kết. Ngày
04/11/2017, nguyên đơn nhận được n bản số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017.
Văn bản số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017 này bị đơn xác nhận đã hết thời hạn
trlời về việc ký Hợp đồng lao động không chấp nhận gia hạn thời gian xem xét,
yêu cầu ông H không được mặt tại ng ty sau 12 giờ 00 pt, ngày 04/11/2017.
Đây n cứ để c định bị đơn đã đơn phương chấm dưt hợp đồng lao động trái
pháp luật. Quá trình gii quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, bị đơn cung cấp một số
i liệu chng cứ thể hiện việc bị đơn yêu cầu nguyên đơn đến m việc tại E C, c
chứng cứ mới này không sự thống nht với diễn biến sự việc không có chữ
c nhn của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu trả khoản bổ sung khi làm hết năm, đây không phải tiền
thưởng “khoản bsung” được trả theo cam kết giữa công ty với người lao
động trước khi làm việc; Toà sơ thẩm cũng chưa nhìn nhận khách quan về yêu cầu
trả 3 ngày phép do ông không được nghỉ bị cho nghỉ tức thì. Trong quá trình
thương thảo hợp đồng lao động, ngoài chi tiết công ty cố tình đưa ông đi xa xuống
C 30 km, công ty còn ghi trong bảo thảo hợp đồng nhân viên của bphận ông
quản lý, ông Nguyễn Hồng Giang, người công ty yêu cầu ông xử kluật trước
đó lại quản lý, điều hành công việc trực tiếp của ông, tức giám đốc bộ phận thay
chủ tịch Hội đồng quản trị. Sau khi kết thúc thời gian thử việc, ông vẫn làm
việc bình thường tại địa chỉ Quận G hơn 01 tháng, đó chính sở xác lập địa
điểm m việc của hợp đồng lao động chính thức. Do đó căn cứ vào các Điều 26,
27, 28, 29 Bộ luật lao động Án lệ số 20/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán
7
Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/01/2018 được công bố theo Quyết
định số 269/-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao, đề
nghHội đồng xét xử bác kháng o của bị đơn, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của
nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn c khoản sau: Tiền lương cho những
ngày không được làm việc từ 09/02/2018 đến ngày xét xử phúc thẩm, khoản bổ
sung “Tháng thứ 13” từ ngày 03/10/2017 đến ngày 31/12/2018, 15 tháng)
85.000.000 đồng; Tiền lương 03 ngày phép của tháng 8, tháng 9, tháng 10/2017 là
8.500.000 đồng; Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ
09/02/2018 đến ngày xét xử phúc thẩm.
Người đại din theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của bị đơn trình bày: Căn cứ Hp đồng Thviệc số 24/TV-KNE-TCNS
ngày 03/8/2017 thì ông H thử việc với mức ơng thử vic là 100% tổng thu nhp
68.000.000 đồng. Tại Điều 1 ca Hp đồng Thử việc, có ghi rõ: ng việc phải m:
Thực hiện theo bản tả công việc”; Điều 5 khoản 2 về quyền hạn của người sử
dụng lao động: “Điều nh người lao động hoàn thành công việc theo hợp đồng (b
trí, điều chuyển, tạm ngừng việc...); tạm hn, chấm dứt hợp đng, kỷ luật người lao
động theo quy định của pháp luật và nội quy của công ty. Sau khi hết thi hạn thử
việc, Công ty có bản nhận t đánh giá về thi gian thviệc của ông H, về bản là
đạt u cầu. Hết thi gian thử việc, ng ty đã ban nh dự tho hợp đồng lao đng
ngày 03/10/2017, trong đó có nội dung ông H về m việc tại huyện C, ông H không
đồng ý vì cho rằng không đúng với hợp đng thử việc địa điểm m việc tại Quận
G. Ny 12/10/2017, do muốn ông H về m việc tại C, Công ty đề nghị ông H kiêm
nhiệm thêm vị trí Giám đốc Hành chánh, yêu cầu ông H xuống làm tại csở kinh
doanh của mình tại Tờng E tại khu dân cư 13 C, P, hun C, ông H sẽ đượcng
thu nhập và quyền lợi khác nhưng ông H lấy lý do chờ bản mô tả công việc của vị trí
mới, sau đó lại không chp nhn, đề xut hợp đồng như đã thoả thuận khi trước,
sau đó li đề nghị thoả thun chấm dứt. Khi Công ty đưa ra Thoả thun chấm dứt hợp
đồng thì lại u cầu ng ty phải ra Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trong
khi hain ca hợp đng lao động cnh thức. Khi Công ty yêu cầu ông H ký kết
hợp đồng lao động, ông H lấy nhiều do trì hn, kng chịu kết hợp đồng.
Trong q trình thương thảo hợp đồng lao động chính thức, ông H đến ng ty ch
ngồi chHội đồng Quản trrãnh thì trao đổi, đàm pn chẳng m cả. Ngày
19/10/2017, ông H gửi email cho công ty c nhân viên khác của ng ty thông
o sẽ nghm từ ngày 31/10/2017 sẽ n giao cho anh Trịnh Hi B từ th2
ngày 23/10/2017. Với n 05 lần ông H email yêu cầu Chủ tịch ng ty ra Quyết
định nghviệc nng Công ty không thực hiện mà u cầu ông H ký kết hợp đồng lao
động. Ông H li lấy lý do Công ty chỉ đưa bn thảo Hp đồng o ngày 26/10/2017
nhưng kng tên đóng dấu để yêu cu bản dthảo có n đóng du. Do Công ty
muốn tuyển dụng đưc người ng lực m Giám đốc ng nghệ thông tin, mặc
ông H có email bày tỏ snghỉ việc o ngày 17/10/2017, Công ty N vn một ln
nữa mi họp lại trao đổi về nguyện vọng, thuyết phục ông H cgắng lại m việc.
8
Tại cuộc họp Thoả thuận về Hợp đồng lao độngngày 26/10/2017, lập bn bản
nhận xét về q trình lao động của ông Trần Viết H, ng ty đồng thời thhiện sự
tiếp tục thúc đẩy việc c tiến ký kết hợp đồng lao động tiếp. Nng ông Trần Viết H
lại hẹn cth trước 4 giờ 00 phút chiều ny 31/10/2017 mới trli Hợp
đồng lao động hay kng. o c 8 gi33 phút ngày 02/11/2017, ông H nhận Văn
bản số 01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017 yêu cầu ông Trần Viết H trlời lần
cuối bằng văn bản về việc hợp đồng lao đng, gửi về địa chỉng ty chậm nht là
17 gi00 phút ngày 02/11/2017, nội dung n bản ghi “Nếu không có phản hồi
o bằng văn bn trong thời hạn u trên nga ông kng đồng ý kết hợp
đồng lao động vớing ty. Sau đó,o lúc 17 gi 37 phút, ông Hn bản trả lời
ngn số 01/2017/CV-KNE ny 01/11/2017, lần này, ông H lại yêu cầu Công ty
cung cấp bản thảo Hợp đồng Lao động Phlục hợp đồng lao động có đóng dấu
ng ty. Ngày 02/11/2017, Công ty N tiếp tục n bản số 02/2017/CV-KNE yêu
cầu ông H “trlời lần cuối vviệc ký hợp đồng lao đng chậm nhất o lúc 16 giờ 00
phút gi ny 03/11/2017 để nhằm bảo đảm quyền lợi nga vụ ca cả hai n
theo đúng quy định pháp luật. Nếu quá thi hạn tn mà chúng tôi không nhận được
trlời bằng n bản của ông về vic y, nghĩa là ông không đồng ý kết hợp
đồng lao động với ng ty”. Ngày 03/11/2017, ông H n bản tr lời sẽ phn
hồi sau ba ngày m việc kể từ ngày 03/11/2017. ng ngày 03/11/2017, ng ty N
n bản số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017 thông báo yêu cầu ông H “Kng
mặt tại Công ty từ sau 12 giờ 00 pt ny 04/11/2017” do ông H đã trì hoãn việc
thực hiện hai Côngn Tngo với nội dung “Nếu quá thời hạn trên mà cng tôi
không nhận được trlời bằng văn bản của ông vvic y, nghĩa là ông không
đồng ý ký kết hp đồng lao động với ng ty”. Sáng ngày 04/11/2017, ông H lập bn
bản n giao số 30/2017/BBBG/KNE. Do ng ty N n png chính 86 đường
Y, phường P, Quận G nhưng Công ty cũng sở hữu cơ sở kinh doanh Trưng E (E)
tại C. Việc trao đổi bằng email hoặc n bản qua lại mục đích để ông H đồng ý
Hợp đồng lao động với Công ty. Công ty vẫn hết sc thiện c nếu ông H chịu ký hợp
đồng Lao động, chịu xuống C m việc. Nhu cầu tớc mắt của Công ty khi tuyển ông
H về m việc m ththông minh cho học sinh Trường E, thiết lập đội ngũ ng
nghệ thông tin mạnh trường, cải tiến hoạt động nh chính theo ớng áp dụng
ng nghệ thông tin hiện đi. Ông H hiểu không đúng vì Hp đồng thử việc kèm theo
Bản mô tng việc mà ông H cnhquênghi rõ những nội dung mà cng i đã
viện dẫn phần 1 u trên ng ty được quyền điều chuyển ông H xuống trường E
ông H muốn hay không vẫn phải chấp nh trước. Kể cả khi hai n c lập
quan hệ lao động chính thc thì cũng buộc ông Hphải chấp hành theo đúng quy định
của Luật Lao động. Theo kế hoạch tuyển nhân sự đã được bàn thảo, việc tuyển ông H
phụ tch giám đc Công nghệ tng tin đviệc đầu tn là làm thẻ thông minh cho
học sinh Trường E. Ông H viện crằng t mời m việc hợp đồng thviệc chỉ
i là làm việc tại Quận Gn kng đồng ý tới Tờng EC là cố tình hiểu sai luật
cả Hợp đng thviệc hoàn tn. Từ c quan điểm trên, nhn thấy việc ông H
9
không ký kết hợp đồng lao động, yêu cầu Công ty ra quyết định nghviệc đều phn
ánh ý đmuốn i bẫy ng ty, nhằm thực hiện mục đích khởi kiện để u cầu bồi
thường Hợp đồng lao động với lý do sa thải trái luật. ng ty khẳng định, ng ty
không chấm dứt hợp đồng lao động với ông H, việc không kết hp đồng lao động
do ông H kng chịu kết. Đối với yêu cầu phn tố mà ngưi đại din theo uỷ
quyền của bđơn tự ý đưa ra tại cấp thẩm đã ợt quá phạm vi uỷ quyền, bị đơn
c định xin rút yêu cầu phn tố này. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
kháng o của bđơn, kng chp nhận kháng o của nguyên đơn, sửa bản án
thẩm c yêu cầu khi kin của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm t nhân n Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pp luật trong qtrình giải quyết vụ ánphúc thẩm n sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nằm trong hạn luật định n
được chấp nhận hợp lệ. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người
tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ vụ án cho đến
trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vnội dung: Sau khi phân tích những nh tiết liên quan đến vụ án, trên
sở Bộ luật lao động, Viện kiểm t nhân n Thành phHồ Chí Minh đề nghị Hội
đồngt xử không chấp nhn yêu cầu kngo của nguyên đơn, chấp nhậnu cầu
kháng cáo của bị đơn. Sửa toàn bộ Bản án lao động thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày
30/11/2018 của a án nn n Quận G. Theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu
khi kiện của nguyên đơn về việc c định bị đơn Công ty N đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động với ông Trần Viết H trái pháp luật; Kng chấp nhận c yêu
cầu khởi kiện của ngun đơn về việc buộcng ty N phải thanh toán cho ông Trần
Viết H tiền bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
nh từ ny 05/11/2017 đến ngày t x pc thẩm thanh toán cho ông H tiền bo
hiểm xã hội, bo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp t ngày 05/11/2017 đến ngày xét xử
phúc thm; ơng tháng th13 85.000.000 đồng; Tiền phép năm 8.500.000
đồng. Do bị đơn rút u cầu phản tố nên đề nghị đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu
phn tố của ng ty N đối với ông Trần Viết H về việc u cầu bồi tờng do đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật số tiền 136.000.000 đồng. Do sa
toàn bộ bản án thm nên đề nghị Hội đồng xét xử nh lại án phí thẩm, án phí
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền:
10
Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp lut tranh chấp của vụ án là tranh chấp lao
động về “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao độngthuộc thm quyền giải quyết
của Toà án, do bị đơn trsở tại Quận G n vụ án thuộc thẩm quyn giải quyết
của Toà án nn n Quận G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, đim c
khoản 1 Điều 35, điểm a khon 1 Điều 39 Bộ luật tố tụngn sự là đúng quy định.
[1.2] Về thời hạn kháng cáo:
Kháng cáo của nguyên đơn bđơn nằm trong hạn luật định phù hợp với
quy định tại Điều 272, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên
được chấp nhận.
[1.3] Về việc bị đơn rút yêu cầu phản tố tại phiên tòa phúc thẩm:
Xét Đơn phản tố ngày 06/11/2018 do người phản tố là ông Nguyễn Trọng Đ,
đại diện uỷ quyền của bị đơn tên với vai trò người phản tố nội dung
Giấy uỷ quyền ngày 05/11//2018 do người đại diện theo pháp luật của Công ty N
Nguyễn Thị Kiều O lập uỷ quyền cho bên nhận uỷ quyền ông Nguyễn
Trọng Đ có một phần nội dung uquyền thể hiện: n được uỷ quyền được
quyền đại diện thay mặt bên uỷ quyền thực hiện quyền phản tố (nộp đơn, rút
đơn phản tố…) trong vụ kiện và đóng tiền tạm ứng án phí liên quan đến việc phản
tố” thì ông Nguyễn Trọng Đ không quyền thay mặt cho bên uỷ quyền đơn
phản tố. Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận việc phản tố này, cho bị đơn nộp tiền
tạm ứng án phí phản tố, thực hiện các thủ tục tố tụng có liên quan và xem xét giải
quyết yêu cầu phản tố này khi không đảm bảo tư cách của người có quyền ký đơn
phản tố trong trường hợp này thiếu sót vi phạm về tố tụng dân sự. Tuy
nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn người bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đều c định người đại diện theo uỷ
quyền của bị đơn cấp thẩm đã tý thực hiện đơn phản tố và đề nghị xin
được rút yêu cầu phản tố này do người đại diện theo uỷ quyền không được uỷ
quyền. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn,
không xem xét lại phần quyết định đối với yêu cầu phản tố đã được Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết.
Đối với án phí lao động thẩm đã được tuyên trong bản án thẩm do cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, về nguyên tắc cần áp dụng
tương tự pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân
sự thì “Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí thẩm theo
quyết định của Tòa án cấp thẩm phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo
quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, do việc xem xét giải quyết yêu cầu phản tố
này khi không đảm bảo cách của người quyền ký đơn phản tố trong trường
hợp này một phần do lỗi của Tòa án cấp thẩm, nên bị đơn không phải chịu án
phí lao động thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, hoàn trả cho bị đơn s
tiền tạm ứng án phí đã nộp là đảm bảo quyền lợi cho bị đơn.
11
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn, kháng cáo của bị đơn
[2.1] Về quan hệ lao động tranh chấp:
Căn cứ vào các tài liệu trong lời trình bày của các đương sự,
nhận thấy:
Ngày 27/7/2017, Công ty N thư mời (mail) mời ông H làm việc với vị trí
Giám đốc công nghệ thông tin.
Ngày 28/7/2017, ông H gửi mail lại cho Công ty N thỏa thuận về một số
vấn đề liên quan đến hợp đồng thử việc hợp đồng lao động.
Ngày 02/8/2017, Công ty mail trả lời những thắc mắc của ông H. Đồng
thời, Công ty có văn bản là Thư mời làm việc đề ngày 02/8/2017 ghi nhận các điều
khoản và điều kiện bản, tài liệu này xác nhận của ông H ngày 03/8/2017, tài
liệu này không ghi nhận về địa điểm làm việc.
Ngày 03/8/2017, ng ty N ông Trần Viết H Hợp đồng thử việc số
24/HĐTV-KNE-TCNS với thời gian thử việc 02 tháng kể từ ngày 03/8/2017 đến
ngày 02/10/2017, công việc phải làm: Thực hiện công việc theo bảng tả công
việc đính kèm, mức ơng thử việc 100% của tổng thu nhập là 68.000.000
đồng/tng, địa điểm làm việc theo Hợp đồng thử việc được ghi nhận s 86
đường Y, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ny 01/8/2017, ng ty bản nhận t đánh giá thời gian thử việc của ông
Hơng đối đạt yêu cầu. Ngày 03/10/2017,ng ty ban hành Hợp đồng lao động s
73 ngày 03/10/2017, hợp đồng xác định thời hạn (từ ngày 3/10/2017 đến
02/10/2018), nội dung về cơ bản tương tự hợp đồng thử việc chỉ khác địa điểm làm
vic: Trường tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông E (E khu dân 13C,
Đại lộ L, P, huyn C hoặc thể làm việc tại c địa điểm khác trong hề thống
n phòng của ng ty Tại thành phHChí Minh, chức danh chuyên môn: Giám
đốc ng nghệ thông tin, chịu sự quản trực tiếp, đồng thời báo o ng việc trực
tiếp cho gm đốc điều nh trường E và anh Nguyễn Hồng G.
Ny 12/10/2017, ng ty đề nghị ông H kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ Chánh
n phòng, Giám đốc điều nh ng với đề xuất ng ơng n 75.000.000/tháng
1 suất học miễn 100% cho một con ruột tại S (mail ngày 17/10/2017 - Bút lục số
46 tại mail ngày 24/10/2017 - Bút lục số 49).
Trong mail ngày 15/10/2017, ông H ghi nhận “Tổng thu nhập là 75.000.000
VND (Gross) thay chỉ 68.000.000 VND. H xin đợi bản mô tảng việc cho vị trí
qun này và hy vọng sẽ nhận được sớm từ chị để H quyết định.
Trong mail ngày 17/10/2017, ông H ghi “Trong khi chờ đợi Chị thảo bản mô t
ng việc cho vị trí kiên nghkiêm nhiệm thêm từ phía Trường, để sở cho H
xem t việc kiêm nhiệm thêm vị trí mới này, Chvui ng cho tiến hành hợp
12
đồng lao động với H giúp, như đãi với anh Đ1, chị O trong cuộc họp lúc 2 giờ 00
phút chiều thứ năm, ngày 12/10/2017 tuần tớc”.
Trong mail ngày 21/10/2017, ông H gửi cho bà O có đoạn viết: “N tinh thần
cuộc họp với Chị t 01 giờ 30 phút chiều đến 02 giờ 25 pt chiu ngày 18/10/2017,
chvui lòng cho H Quyết định thôi việc để H chấm dt công việcN...”.
Trong mail ngày 22/10/2017, ông H gửi cho D1 nội dung: “D1 giúp cho
anh Quyết định thôi việc o ng mai, ngày 23/10/2017.
Ny 23/10/2017, lúc 12 gi 40 phút, D1 giám đốc nhân sự giao Biên bản
thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động cho ông H (Bn bản y được O n,
đóng dấu Công ty tớc).
Trong mail lúc 16 giờ 59 phút, ngày 23/10/2017, ông H cho rằng “biên bản
này (“Thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động”) không đúng với nội dung tinh
thần Chị H đã thảo luận” ngày 18/10/2017 ông H yêu cầu bà O cho H
quyết định chính thức khi H nhận được quyết định cho nghỉ việc từ chị, H sẽ
bàn giao toàn bộ cho B”.
Trong mail ngày 26/10/2017, ông H gửi cho O đề nghị Công ty ra quyết
định cho ông thôi việc chính thức.
Tại cuộc họp ny 26/10/2017, ng ty đề nghông H kết hợp đồng lao
động, ng ty ý kiến ng ty sẵn ng ký hợp đồng, nếu trong hợp đồng có
vấn đề thì anh H phản hồi sớm để thay đổi hợp đồng”, ông H ý kiến
ngày 31/10/2017 sẽ trả lời trước 04 gi 00 pt cầnn nhắc”.ng ty đã gửi cho
ông H bn dự thảo hợp đồng lao động.
Vào lúc 08 giờ 33 phút, ngày 02/11/2017, ông H nhận Văn bản số
01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017 yêu cầu ông Trần Viết H trlời lần cuối
bằng văn bản về việc hợp đồng lao động, gửi về địa chỉ Công ty chậm nhất
17 giờ 00 phút ngày 02/11/2017, nội dung văn bản ghi rõ “Nếu không có phản hồi
nào bằng văn bản trong thời hạn nêu trên nghĩa ông không đồng ý kết
hợp đồng lao động với Công ty”.
Vàoc 17 giờ 37 phút, ngày 02/11/2017, ông H có văn bản trả lời Côngn s
01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017, lần này, ông H lại yêu cu Công ty cung cấp bản
thảo Hợp đồng lao động Phlục hợp đồng lao động có đóng dấu Công ty. Bản
thảo Hợp đồng lao động và Phụ lục hợp đng lao động có đóng dấu Công ty đã được
ng ty cung cp cho ông H o c 09 gi37 pt, ny 03/11/2017.
Ngày 02/11/2017, Công ty N tiếp tục Văn bản số 02/2017/CV-KNE yêu
cầu ông H “trả lời lần cuối về việc hợp đồng lao động chậm nhất vào lúc 16
giờ 00 phút ngày 03/11/2017 để nhằm bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của cả hai
bên theo đúng quy định pháp luật. Nếu quá thời hạn trên chúng tôi không
13
nhận được trả lời bằng văn bản của ông về việc này, có nghĩa ông không đồng
ý ký kết hợp đồng lao động với Công ty”.
Ny 03/11/2017, ông H có văn bản trả lời là sẽ phản hồi sau ba ny làm việc
kể từ ngày 03/11/2017. Cùng ngày 03/11/2017, Công ty N Văn bản số
03/2017/CV-KNE ngày 3/11/2017 thông o u cầu ông H Kng mặt tại
ng ty tsau 12 giờ 00 phút, ny 04/11/2017”. Vào c 10 gi30 phút ny
04/11/2017, nguyên đơn nhận được Tng o số 03/2017/CV-KNE ngày
03/11/2017 của bị đơn yêu cầu ngun đơn không mặt tại ng ty kể từ sau 12
gi 00 phút ng ngày 04/11/2017 yêu cầu nguyên đơn bàn giao công việc.
Tại phn tòa phúc thẩm: Phía nguyên đơn xác định trong giai đoạn từ
03/10/2017 đến 03/11/2017 ông H Công ty đang thương tho các điều khoản hợp
đồng lao động chính thức. Trong giai đoạn đang thương thảo hợp đồng thì Công ty
đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông bằng thông báo số 03/2017/CV-KNE ngày
03/11/2017. Phía bị đơn xác nhận, sau khi kết thúc thời gian thử việc, giữa Công ty
ông H vẫn đang thương thảo việc kết hợp đồng lao động, Công ty không
chấm dứt hợp đồng lao động với ông H, việc không ký kết hợp đồng lao động là do
ông H không chịu ký kết.
N vậy, cùng với những tình tiết diễn biến u trên, đủ cơ sở c định sau
khi kết thúc thời gian thử việc, Công ty đã ban nh Hợp đồng lao động số 73 ngày
03/10/2017, sau đó hai n có thỏa thuận thêm một số vấn đề kc liên quan đến đến
giao kết hợp đồng lao động, c thể: Thỏa thuận kéo dài thời gian hợp đồng th việc;
Thỏa thuận kiêm nhiệm thêm chức danh quản lý với mức ơng điều chỉnh ng n
một số quyền lợi khác, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thử việc Thỏa thuận ký
kết hợp đồng lao động chính thc với c nội dung bản theo hợp đồng thviệc
nhưng chi tiết hơn.
[2.3] Căn cứ vào các tình tiết, diễn biến của quá trình thỏa thuận giao kết
hợp đồng chính thức giữa ông H và Công ty N như đã phân tích tại Mục [2.1] nêu
trên, Hội đồng xét xử xác định trong trường hợp này, giữa người lao động
người sử dụng lao động chưa xác lập quan hệ hợp đồng lao động do sau khi hết
thời gian thviệc người sử dụng lao động người lao động đã những thỏa
thuận khác nhằm thương lượng giao kết hợp đồng, do đó, đề nghị của người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu áp dụng Án lệ số
20/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày
17/01/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của
Chánh án Tán nhân dân Tối cao không có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Căn cứ quy định tại Điều 15 Bộ luật lao động thì “Hợp đồng lao động
sự thoả thuận giữa người lao động người sử dụng lao động về việc làm
trả lương, điều kiện làm việc, quyền nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao
động”. Nội dung hợp đồng lao động được quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật
14
lao động, so với Hợp đồng thử việc được quy định theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật
lao động “Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các
điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này” thì khi thỏa thuận giao
kết Hợp đồng lao động, các bên còn thỏa thuận các nội dung quy định tại các
điểm i và k khoản 1, khoản 2 Điều 23 của Bộ luật lao động.
Tại cuộc họp ny 26/10/2017, nời sdụng lao động đã đề nghị với ngưi lao
động về việc kết hợp đồng lao động đã giao cho người lao động bản dự tho
hợp đồng lao động để ông Hnghiên cứu và cho ý kiến. Không có quy định pháp luật
o bắt buộc bản hợp đồng dự thảo phải chữ của người đại diện và đóng dấu
của ni sử dng lao động. Căn cứ các nguyên tắc giao kết hp đồng lao động đưc
quy định tại Điều 17 Bộ lut lao động, việc Công ty N đã đề nghị với ông H về vic
kết hợp đồng lao động và đã giao cho ông H bản dự thảo hợp đồng lao động ca
n đóng dấu thực hiện đúng quy định về đề nghgiao kết hợp đồng lao động.
Tại cuộc họpy, ông H ý kiến là cần xemt hp đồng và sẽ trả lời về việc giao
kết hợp đồng trước 04 giờ 00 phút ngày 31/10/2017. Thời điểm 04 giờ 00 pt ny
31/10/2017 theo đxuất của ông H tại cuộc họp ngày 26/10/2017, ông H không có tr
lời về vấn đề giao kết hợp đồng lao đng.
o lúc 08 giờ 33 phút ngày 02/11/2017, Công ty giao cho ông H nhận n
bản 01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017 yêu cầu ông Trần Viết H trả lời lần
cuối bằng văn bản về việc ký hợp đồng lao động, gửi về địa chỉ Công ty chậm nhất
17 giờ 00 phút ngày 02/11/2017, nội dung văn bản ghi “Nếu không phản
hồi nào bằng văn bản trong thời hạn nêu trên có nghĩa là ông không đồng ý kết
hợp đồng lao động với Công ty”. Vào lúc 17 gi37 phút, ông H có n bản trả lời
Công n số 01/2017/CV-KNE ngày 01/11/2017, lần này, ông H lại u cầu Công
ty cung cấp bản thảo Hợp đồng Lao động Phlục hợp đồng lao động đóng
dấu Công ty. Tuy yêu cầu này bất hợp nhung bản thảo Hợp đồng Lao động
Phụ lục hợp đồng lao động đóng dấu Công ty đã được Công ty cung cấp cho
ông H vào lúc 09 giờ 37 phút ngày 03/11/2017.
Ngày 02/11/2017, Công ty N tiếp tục văn bản số 02/2017/CV-KNE yêu
cầu ông H “trả lời lần cuối về việc hợp đồng lao động chậm nhất vào lúc 16
giờ 00 phút ngày 3/11/2017 để nhằm bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của cả hai
bên theo đúng quy định pháp luật. Nếu quá thời hạn trên chúng tôi không
nhận được trả lời bằng văn bản của ông về việc này, có nghĩa ông không đồng
ý ký kết hợp đồng lao động với Công ty”.
n cquy định tại khoản 1 Điều 394 Bộ luật Dân sự năm 2015 vThời hạn tr
lời chấp nhận giao kết hợp đồng t1. Khi n đề nghị có ấn đnh thi hạn trả lời thì
việc trả lời chấp nhận chcó hiệu lực khi được thc hiện trong thời hạn đó; nếu n
đề nghị giao kết hợp đồng nhn được trlời khi đã hết thời hạn trlời thì chấp nhận
y được coi đề nghmới của n chậm tr lời...”. Với các nh tiết i trên, giữa
người lao động nời sử dụng lao động đã 3 lần ấn định thi hạn trlời về việc tr
15
lời chấp nhn giao kết hợp đồng lao động hay không. Do ông H không tr lời chp
nhận giao kết trong thời hạn ấn định, cần c định ông H không chấp nhn giao kết
hợp đồng lao động với Công ty N. Vic Công ty N có Văn bản số 03/2017/CV-KNE
ngày 03/11/2017 gửi đến ông H yêu cu ông H không có mặt tại ng ty kể từ sau 12
gi00 pt ngày 04/11/2017 p hợp.
Ngoài ra, tại phn a pc thẩm, ông Hc định ông kng đồng ý ký kết hợp
đồng lao động chính thức do Hp đng lao động dự thảo số 73 ngày 03/10/2017
mà Công ty đưa cho ông khác vi hp đồng thử việc cụ th: Kc địa điểm m việc
thay làm việc tại Qun G thì hợp đng ghi địa điểm m việc Trường tiểu học
Trung học cơ sở Trung học phổ thông E (E khu dân cư 13C, đại lộ L, P, huyện C
hoặc thể làm việc tại các địa điểm khác trong hệ thống n png của công ty Tại
thành phố Hồ Chí Minh).n cạnh đó, dự thảo hợp đồng ghi chức danh chuyên môn
của ông: Giám đốc công nghệ tng tin nhưng phải chịu sự quản trc tiếp, đồng
thời o o ng vic trực tiếp cho giám đốc điều nh trưng E anh Nguyễn
Hồng G. Tuy nhn, tại Điều 1 của hợp đng thử vic quy định ng việc phải m:
thc hiện theo bản mô tả công việc đính kèm. Tại mục 3 của bản mô tả công việc ghi
khi kết thúc thử việc, địa điểm m việc là tại trsở ng ty hoặc c trường học tại
ng ty tại Thành phố HChí Minh theo sự điều động của chủ tịch Hội đồng qun
trị công ty. Trong hợp đồng thử vic không quy định cụ thể chế độo cáo công việc
của ông H. D thảo Hợp đồng lao động chính thc số số 73 ngày 03/10/2017 không
khác so với hợp đông thử việc ny 03/8/2017. Do đó, ông Trn Viết H viện do
y để kng kết hợp đồng lao động hoàn toàn do lỗi của ông H.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đủ căn cứ để xác
định: Sau khi chấm dứt hợp đồng thử việc, giữa ông Trần Viết H Công ty N
không thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động do ông Trần Viết H không đồng
ý kết Hợp đồng lao đồng. Công ty N không đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật với ông Trần Viết H. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa toàn bộ
bản án sơ thẩm theo ớng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, xác định lại án phí sơ thẩm cho
phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.5] Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí lao động sơ thẩm và án phí lao
động phúc thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí lao động thẩm án phí lao
động phúc thẩm.
[2.6] Thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát nhân n Thành phố Hồ Chí
Minh về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Viết H, chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, sửa toàn bộ bản án sơ thẩmcó căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
16
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 5, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụngn sự;
Căn cứ vào các Điều 15, 17, 23, 26, 27, 28, 29 của Bộ luật lao động;
Căn cứ vào Điều 394 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Luật phí, lệ phí Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, sửa toàn bộ Bản án thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018
của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Viết
H về việc:
-u cầu tuyên bố Công ty N đơn pơng chấm dứt hợp đồng lao động với ông
Trần Viết H là trái pháp luật.
- Các yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty N phải thanh toán cho
ông Trần Viết H tiền bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2017 đến ngày xét xử phúc thẩm, đóng bảo
hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 05 tháng 11 năm 2017
đến ngày xét xử phúc thẩm, tiền lương tng thứ 13 và tiền pp năm tính đến ngày
xét xử phúc thẩm.
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của Công ty N đối với ông
Trần Viết H về việc yêu cầu bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật số tiền 136.000.000 đồng.
3. Án phí lao động sơ thẩm:
- Ông Trần Viết H được miễn án phí lao động sơ thẩm.
- Hoàn lại Công ty N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.040.000 (Hai triệu
không trăm bốn mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
AA/2017/0026225 ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự
Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Án phí lao động phúc thẩm:
- Ông Trần Viết H được miễn án phí lao động phúc thẩm.
- Công ty N không phải chịu tiền án phí lao động phúc thẩm. Hoàn lại Công ty
N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu
17
tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0026431 ngày 13 tháng 12 năm 2018 của Chi cục
Thinh án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.H Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân n cp cao ti TP.H Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Thành ph H C Minh
;
- Tòa án nn dân Quận G, Thành phHChí Minh;
- Cục Thi nh án n sTnh ph H Chí Minh;
- Chi cc Thi hành án dân s Qun G, TP.H Chí Minh;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu (T25).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XPHÚC THẨM
THẨM PN CHTỌA PHIÊN A
Nguyễn Thị Thoa
Tải về
Bản án số 886/2019/LĐ-PT Bản án số 886/2019/LĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất