Bản án số 88/2021/HNGĐ-ST ngày 26/08/2021 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 88/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 88/2021/HNGĐ-ST ngày 26/08/2021 của TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đức Linh (TAND tỉnh Bình Thuận)
Số hiệu: 88/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà V và ông D có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi ly hôn bà V khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

A ÁN NN N
HUYỆN ĐỨC LINH
TNH NH THUẬN
Bản án số: 88/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2021
V/v: Tranh chấp chia tài sản
sau khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH NH THUẬN
- Tnh phần Hội đồng xét xử sơ thm gồm có:
Thm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Binh;
2. Ông Hồ Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức
Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức
Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số 215/2020/TLST-
HNGĐ, ngày 02/6/2020, về: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xsố 113/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 6/7/2021, Quyết định hoãn
phiên tòa số 88/2021/QĐST- HNGĐ ngày 20/7/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1970 . Có mặt
Địa chỉ: Số 266 đường ĐT 766, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
2. Bị đơn: Ông Nguyễn D, sinh năm 1969. Có mặt
Địa chỉ: Số 266 đường ĐT 766, thôn Z, NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Hiện tại: khu vực rẩy Hố Tre, Hố Mây, thuộc thôn Z, NC, huyện Đ, tỉnh Bình
Thuận;
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Ông Nguyễn Viết Thành U, sinh năm 1989. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 21 đường 39, tổ 4, thôn 10, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1996 . Vắng mặt
Địa chỉ: Số 266 đường ĐT 766, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Cháu Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 2006 (Do Thị Hồng V làm giám
hộ).
Địa chỉ: Số 266 đường ĐT 766, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1925. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 79 đường 22, tổ 7, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 9 đường số 3, tổ 6, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Ông Phạm Phú T1, sinh năm 1965. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 38 đường số 3, tổ 7, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Ông Nguyễn C1, sinh năm 1961 Vắng mặt
Địa chỉ: Số 300 đường ĐT 766, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;;
-Ông Phạm Phú T2, sinh năm 1978. Vắng mặt
Địa chỉ: Số 292 đường ĐT 766, thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Ông Võ Văn C2, sinh năm 1969 và bà Lâm Thị D1, sinh năm 1969. Có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Số 11 đường 16, tổ 6, thôn 8, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;
-Bà Phan Thị K, sinh năm 1932 (đã chết)
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phan Thị K gồm:
3
+Ông Trần Văn H, sinh năm 1957. Vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn VX, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+Bà Trần Thị Ánh K2, sinh năm 1960. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+Bà Trần Thị H2, sinh năm 1963. Vắng mặt
Địa chỉ: Huyện , tỉnh Bình Phước
+Ông Trần Văn H1, sinh năm 1964. Vắng mặt
Địa chỉ: Xã , huyện CM, tỉnh Đồng Nai
-Bà Trần Thị Tuyến H3, sinh năm 1966. Vắng mặt
Địa chỉ: Xã , huyện CM, tỉnh Đồng Nai
+Bà Trần Thị Tuyến H, sinh năm 1969. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 8, NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+Ông Trần Văn C3, sinh năm 1972. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 5, VH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+Bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1975. Vắng mặt
Địa chỉ: Xã , huyện CM, tỉnh Đồng Nai
+Ông Trần Văn D2, sinh năm 1978. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Z, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2020, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 22/5/2020,
trong quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn Thị Hồng V trình bày:
Thị Hồng V ông Nguyễn D là vợ chồng, nhưng đã ly n theo Bản án số
88/2018/HNGĐ-ST ngày 9/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình
Thuận, nhưng không tranh chấp vtài sản khi ly hôn. Trong thời kỳ hôn nhân từ năm
1989 đến khi ly hôn bà V và ông D có tạo lập được khối tài sản chung gồm:
4
-01 thửa đất tại thôn 1, Đức Chính (nay thôn Z, NC). Đất này V và
ông D nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn H và Nguyễn Thị Lệ H vào năm
1992, lúc này con đầu của V ông D Nguyễn Viết Thành U mới 03 tuổi. Đất
này được Nhà nước cấp quyền sử dụng vào năm 1999, thửa đất 175, tờ bản đ02,
diện tích 234m
2
(diện tích thực tế qua đo đạc 211,3m
2
), trên thửa đất 01 căn n
cấp 4 các công trình phụ, được xây dựng từ năm 1995, nhà này hiện V đang sử
dụng.
-Thửa đất ruộng số 91, tờ bản đồ 04, diện tích 2370m
2
, tại Đồng II, Đức
Chính (nay là NC) được cấp cho hộ ông D. Ruộng này bà V ông D đã hoán đổi
cho ông Nguyễn Văn C, để lấy khoảng 02 sào ruộng Hố Tre. Ruộng ông C chưa
được cấp quyền sử dụng , nên chưa làm thủ tục hoán đổi. Nay V tiếp tục chuyển
đổi ruộng này cho ông C, nên đề nghị Tòa án phân chia diện tích ruộng nhận hoán đổi
của ông C ở Hố Tre cho bà V và ông D.
-Diện tích đất rẩy, đất ruộng, ao tại khu vực Hố Tre, Hố Mây, theo đo đạc
tổng diện tích 26.371.5m
2
. nguồn gốc nsau: Mẹ chồng (bà Trần Thị Đ1) cho
V ông D vào năm 1990, khi V sinh con đầu lòng khoảng 7 tháng tuổi, diện
tích bao nhiêu V không rõ, đất hiện trồng cây cao su một phần ruộng; hoán
đổi với ông Nguyễn C1 diện tích khoảng từ 2- 3 sào, giáp với đất Đ1 cho, đất hiện
trồng cao su; nhận sang nhượng của Phan Thị K, ông Văn C2, ông Phạm Phú
T2 một số diện tích đất ruộng; hoán đổi với ông Nguyễn Văn C khoảng 02 sào ruộng;
khi sang nhượng, nhận hoán đổi có viết giấy tay. Toàn bộ diện tích ở Hố Mây, Hố Tre
đến nay vẫn chưa được cấp quyền sdụng. Tại phiên tòa V đồng ý trả lại cho
Đ1 phần diện tích Đ1 đã cho V ông D trước đây, theo xác định tại Công
văn số 966/UBND-NC ngày 21/5/2021 của UBND huyện Đức Linh thì diện tích
Đ1 cho ông D, bà V là 11.000m
2
; đề nghị xem xét chia cho con Nguyễn Viết Thành U
một phần vì cũng có công sức đóng góp. Bà V nguyện vọng được nhận căn nhà
thửa đất 175; còn đất rẩy, ruộng giao cho ông D, vì hiện tại ông D đã vợ và đang ở
trên đất này.
Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn trình bày: Ông D và V
là vợ chồng, nhưng đã ly hôn. Khi còn là vợ chồng ông D, bà V có tạo lập khối tài sản
chung: Thửa đất số 175, tờ bản đồ 02, diện tích 134m
2
(diện tích thực tế 211,3m
2
)
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất O 993730 do ông D, V nhận chuyển
nhượng của ông H4 (H) vào năm 1989 hoặc 1990. Sau khi chuyển nhượng ông D
5
gánh đất đắp để nâng lên cao, vào năm 1995 thì ông D, V làm nhà ở. Đến năm
1999 được nhà nước cấp quyền sử dụng, nên yêu cầu chia cho ông D, bà V. Các con
không được hưởng, các con không công sức đóng góp gì. Riêng đất tại khu vực
Hố Tre, Hố Mây, mẹ ông D bà Trần Thị Đ1 cho khoảng 8 o đất rẩy khoảng 3
sào đất ruộng đất ao. Đây đất bà Đ1 cho vợ chồng làm để nuôi con, nay vợ
chồng ly hôn thì trả lại đất này cho Đ1. Đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng
hoán đổi với ông Phạm Phú T2 khoảng 1,2 sào, với ông C2 khoảng 1,5 sào, với
ông Phạm Phú T1 khoảng 1,6 sào, với bà Phan Thị K khoảng 0,8 sào, với ông Nguyễn
Văn C khoảng 1,7 sào toàn bộ đất này chưa được cấp quyền sử dụng. Đất này ông D
đồng ý chia cho ông D V. Riêng đất ruộng (đã hoán đổi cho ông C), đất cấp
cho hộ thì chia làm 4 cho ông D, bà V, và 02 con ông U, ông T. ông D là người
trực tiếp canh tác, cải tạo đất, nên yêu cầu xem xét công sức của ông D.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quan điểm:
-Trần Thị Đ1 trình bày: Ông Nguyễn D con út của bà Đ1. m 1989 khi
con đầu lòng, Đ1 giao khoảng hơn 1 hecta đất tại khu vực Hố Tre, Hố Mây
(khu vực Núi Dinh) cho ông D bà V sản xuất để nuôi con. Đất này do gia đình
Đ1 khai phá từ những năm 1961- 1962. Đất chưa được cấp quyền sử dụng. Nay D
V đã ly hôn thì Đ1 yêu cầu lấy lại đất này để bán dưỡng già. đất này Đ1
chỉ giao cho ông D, bà V sản xuất, chứ không cho.
-Ông Nguyễn Viết Thành U trình bày: Cha mông U ông D, V đã ly hôn.
Ông U sinh sống cùng gia đình từ nhỏ, đến năm 2015 vợ ra riêng. Trong thời
gian sống cùng gia đình, ông U tham gia lao động cùng cha, mẹ để phát triển kinh tế
gia đình. Tài sản hiện cha, mẹ tranh chấp, ông U ý kiến: Những tài sản nào Nhà
nước cấp cho hộ gia đình thì chia làm 4 phần cho ông D, bà V, ông U và ông T. Ngoài
ra nội cho gia đình hơn 1 hecta đất rẩy, gia đình mua thêm hoán đổi với những
người khác ở khu vực Núi Dinh, tổng cộng gần 3 hec ta đất. Vì ông U có tham gia lao
động cùng cha, mẹ nên yêu cầu được chia từ 2- 3 sào đất này.
-Ông Nguyễn Văn C trình bày: Vào năm 2013 ông C vợ chồng ông D, V
hoán đổi đất cho nhau. Cụ thể: Ông C giao cho ông D, V khoảng 1,7 sào đất
Hố Tre; ông D, bà V giao cho ông C thửa đất số 91, tờ bản đồ 04, diện tích 2370m
2
tại
đồng II xã Đức Chính (nay là xã NC), nhưng chưa làm thủ tục chuyển đổi. Nay ông C
yêu cầu bà V ông D thực hiện hiện việc chuyển đổi đất này, để ông C tiếp tục sử
dụng.
6
-Phan Thị K trình bày: Trước đây K 1 đất khoảng 01 sào (đất chưa
cấp quyền sử dụng), do điều kiện khó khăn, nên K thỏa thuận chuyển nhượng cho
ông D V sdụng. Sau khi chuyển nhượng ông D, bà V sử dụng từ đó đến nay.
K không có tranh chấp hay yêu cầu gì về đất này. Sau khi bà K chết, Tòa án đưa tất cả
những người thừa kế hàng thứ nhất (các con của K) vào tham gia tố tụng với
cách những người kế thừa quyền và nghĩa vtố tụng của K. Tòa án trực tiếp lấy
ý kiến của Trần Thị Ánh K2 con K, được biết: Các anh, em của K2 đều
không có tranh chấp gì về diện tích đất bà K đã chuyển nhượng cho ông D, bà V trước
đây.
-Ông Phạm Phú T1 trình bày: Ông T1 01 đất khoảng 1.800m
2
tại khu vực
Hố Tre, Núi Dinh. Do xa, đất khó canh tác, không quản được. Nên cách đây hơn
10 năm ông T1 và ông D, bà V thỏa thuận đổi đất cho nhau, cụ thể: Ông D, bà V nhận
khoảng 1.800m
2
đất ở Hố Tre, Núi Dinh của ông T1, đổi lại ông D, bà V giao cho ông
T1 01 diện tích tương đương khu vực khác để sản xuất. Do lúc đó đất chưa được
cấp quyền sử dụng, nên hai bên không làm thủ tục chuyển nhượng, nhưng sử dụng ổn
định từ đó đến nay. Nay ông T1 không tranh chấp gì về việc này.
-Ông Phạm Phú T2 trình bày: Ông T2 01 mảnh đất khoảng 300m
2
tại khu vực
Hố Tre, Núi Dinh. Do đất ít, khó canh tác, nên vào năm 2011 hoặc 2012 ông T2
ông D V thỏa thuận đổi đất cho nhau. Ông T2 nhận phần đất của ông D, V vị
trí khác, phần đất khoảng 300m
2
Hố Tre thì ông T2 giao cho ông D V sử dụng.
Đất của hai bên lúc này chưa được cấp quyền sử dụng. Nay ông T2 không tranh chấp
gì về phần đất đã đổi cho ông D, bà V.
-Ông Văn C2 trình bày: Trước đây ông C2 01 đất ương điền, ương thổ
khu vực Hố Tre, Núi Dinh, đất chưa được cấp quyền sử dụng. Do đất khó làm và
nằm kề đất ông D, bà V, nên vợ chồng ông C2 viết giấy tặng cho ông D, bà V đất này.
Nay ông C2 không có tranh chấp gì về đất này.
Đối với những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Ông Nguyễn C1,
ông Nguyễn Thành T không tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của
những người này.
Qua định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án thành lập, xác định
toàn bộ khối tài sản tranh chấp như sau:
7
A. Đất tài sản trên đất tại khu vực Hố Tre, Núi Dinh thuộc thôn Z, NC,
theo Mảnh trích đo hiện trạng thửa đất đang tranh chấp, hệ tọa độ VN 2000- Khu vực
Bình Thuận, Hố Tre, Hố Mây, tờ bản đồ số 96(236392-5), gồm những phần sau đây:
-Đất trồng cây lâu năm gồm thửa số 1, diện tích 17.188,6m
2
thửa số 4, diện
tích 762,7m
2
, với tổng diện tích đất trồng cây lâu năm 17.951,3m
2
; Hội đồng định
giá tài sản với sự hổ trợ của nhân viên đo đạc phân định được như sau: 3.700m
2
là đất
ao nuôi cá, 14.000m
2
đất trồng cây cao su 251,3m
2
(làm tròn 250m
2
) đất trống
giếng nước, sân xi măng, chuồng heo, nhà tạm, chái tạm và những cây trồng riêng lẻ.
-Phần đất ruộng gồm thửa số 2, diện tích 6.218,1m
2
thửa số 3, diện tích
2.202,1m
2
, tổng là 8.420,2m
2
(làm tròn 8.420m
2
).
Hội đồng định giá như sau:
-Đất trồng cây cao su 14.000m
2
, mật độ trồng 2,5m x 5m, tlệ cây cao su sống
sót khoảng 80%, cây cao su lớn không đồng đều, do chết nên trồng dặm hàng năm,
định giá theo giá thị trường, cụ thể:
+ Về đất: 14.000m
2
x 32.080đồng/m
2
= 449.120.000 đồng
+Về cây cao su:896 cây x 280.000đồng/cây = 250.880.000 đồng.
-Đất ao nuôi cá: 3.700m
2
x 15.000 đồng/m
2
= 55.500.000 đồng.
-Phần đất trống nhà tạm, sân xi măng, chái tạm, chuồng heo: 250m
2
x 32.080
đồng/m
2
= 8.020.000 đồng.
-01 giếng nước đường kính 1,2m, sâu 7m, có giá 2.374.000 đồng.
-Những cây trồng riêng lẽ, nhà tạm, chái tạm, chuồng heo cũ, sân xi măng nằm
trên phần đất 250m
2
nói trên không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng không định giá.
-Đất ruộng: 8.420m
2
x 22.000 đồng/m
2
= 185.244.000 đồng.
B. Phần nhà, tài sản trên thửa đất 175, tờ bản đồ 02, Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số O 993730, được Hội đồng định giá như sau:
-Diện tích đất theo thực tế là 213,1m
2
, theo Mảnh trích đo hiện trạng thửa đất
đang tranh chấp, h tọa độ VN-2000, khu vực Bình Thuận, thôn Z, t bản đồ số
117(236392-1-d), đất chiều ngang tiếp giáp đường ĐT 766 9,41m, chiều ngang
phía sau là 8,53m, trong đó 43,9m
2
đất thuộc hành lang đường bộ. Do chiều ngang
phía trước sau không bằng nhau nên lấy trung bình cộng của trước sau để làm
căn cứ định giá theo mét ngang tiếp giáp đường ĐT 766, (9,41m + 8,53m) : 2 = 8,97m
Định giá: 8,97m x 230.000.000 đồng/m = 2.063.100.000 đồng.
8
-Phần nhà: Do 03 phần nhà được xây nối tiếp nhau, kết cấu dính liền nhau,
không tách rời được. Do vậy Hội đồng định giá thống nhất định giá chung cả 03 phần
nhà có tổng giá trị là 40.000.000 đồng.
-Mái vòm có diện tích 50m
2
, xây dựng năm 2018, kết cấu khung sắt mái che tôn,
có giá trị 14.350.000 đồng.
-01 giếng nước đường kính 1,4m, sâu 8,5m có giá trị 3.363.000 đồng.
-Hàng rào cao trung bình 2m, phần dưới xây gạch, phần trên giằng lưới B40,
tổng chiều dài 23,3m, trong đó có 18,3m trong phần đất thuộc hành lang đường bộ.
Định giá: 23,3m x 150.000 đồng/m
2
= 3.495.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản tranh chấp là: 3.038.038.000 đồng.
Tình tiết trong vụ án các đương sự thống nhất: thửa đất 175 do ông D, V
tạo lập; thửa đất ruộng số 91 là do Nhà nước cấp cho hộ gia đình ông D gồm 4 người:
ông D, V 02 con ông U, ông T, ruộng này thống nhất hoán đổi cho ông
Nguyễn Văn C, để nhận khoảng 1.700m
2
đất ruộng Hố Tre, Hố Mây; ông D, V
hoán đồi, nhận chuyển nhượng đất của K, ông T2, ông T1, ông C2, ông C1 đất
tại Hố Tre, Hố Mây. Ông D và bà V đồng ý trả lại cho bà Đ1 11.000m
2
đất tại Hố Tre,
Hố Mây (gồm 8.000m
2
đất trồng cây lâu năm và 3.000m
2
đất ruộng).
Tình tiết trong vụ án các đương sự không thống nhất: Ông U và V đề nghị
chia cho ông U khoảng 2 đến 3 sào đất tại Hố Tre, Hố Mây. Còn ông D không đồng ý,
cho rằng ông U không công sức đóng góp trong việc tạo lập đất tại Hố Tre, Hố
Mây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý
kiến:
Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo
cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định,
xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến
hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định,
Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.
Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Các đương sự
khác thực hiện không đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Về nội dung ván: Việc nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung đúng quy
định. Nhưng cần phải xem xét trả lại cho Đ1 phần đất đã giao cho ông D, V sử
dụng tại khu vực Hố Tre, Hố Mây, nên đề nghị ngưng phiên tòa, để thu thập thêm
9
chứng cứ yêu cầu Văn phòng đăng đất đai xác định thửa đất Đ1 đã cho ông
Do, bà V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét
tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:
[1] Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền: Căn cứ vào
nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện, Tòa án xác định đây là vụ án: Tranh chấp chia tài
sản sau khi ly hôn; ván thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân huyện Đức
Linh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan lần thứ hai, đã được triệu tập hợp lệ, nên xét xử vắng mặt họ theo điểm b khoản
2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nội dung tranh chấp: Ông Nguyễn D Lê Thị Hồng V kết hôn hợp pháp
vào năm 1989 và đã ly hôn vào năm 2018. Nay bà V khởi kiện tranh chấp chia tài sản
chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[3.1] Đối với thửa đất 175, tbản đồ 02, diện tích 234m
2
(diện tích thực tế qua
đo đạc 211,3m
2
), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất O 993730, trên thửa đất 01
n nhà cấp 4 và các công trình phụ như mái vòm, hàng rào, tọa lạc tại thôn Z, xã NC,
các bên đều thừa nhận tài sản do ông D, V tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, nên
đây là tài sản chung của ông D và bà V.
[3.2] Đối với tài sản tại Hố Tre, Hố Mây thuộc thôn Z, NC, hiện chưa được
cấp quyền sử dụng: Phần đất rẩy, đất ruộng nhận hoán đổi của ông C, ông C1, ông T2,
ông T1, nhận chuyển nhượng của K, ông C2, thì ông D, V đều thống nhất tài
sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Phần đất này ông C, ông C1, ông T2, ông
T1, K, ông C2 đều không tranh chấp đồng ý để cho ông D, V tiếp tục
được sử dụng. Qua trao đổi với UNBND huyện Đức Linh quan quản đất đai,
tại Công văn số 966/UBND-NC, thì đất đủ điều kiện cấp quyền sử dụng cho ông D,
V. Do đó, phần đất này cũng tài sản của ông D, V tạo lập trong thời kỳ hôn
nhân.
[3.3] Đối với phần đất tại Hố Tre, Hố Mây Trần Thị Đ1 giao cho ông D,
V sản xuất từ năm 1989- 1990. Đất này hiện vẫn chưa được cấp quyền sử dụng.
10
Theo bà Đ1 đất này bà chỉ giao cho ông D, bà V sản xuất để nuôi các con, nay ông D,
V ly hôn tlấy lại để bán dưỡng già. Đồng thời, ông D V đều đồng ý trả
lại phần đất này cho Đ1. Đây sự tự nguyện của các đương sự nên chấp nhận.
Phần đất của Đ1 diện tích 11.000m
2
, gồn 8.000m
2
đất trồng cây lâu năm
3.000m
2
đất ruộng, theo như xác định của ông D căn cứ. Hiện Đ1 đã già
không nhu cầu sản xuất, hơn nữa trên đất này còn cây cao su tài sản của ông
D, bà V, nên tiếp tục giao cho ông D hoặc V sử dụng đất này thối trả giá trị đất
bằng tiền cho Đ1 phù hợp. Nên không phải nhất thiết ngưng phiên tòa để thu
thập chứng cứ là tách thửa đất của bà Đ1, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đối
với diện tích đất tại Hố Tre, Hố Mây, đề nghị UBND huyện Đức Linh tiến hành cấp
quyền sử dụng đất cho đương sự được Tòa án công nhận quyền sử dụng đất này. Việc
ông U yêu cầu được chia từ 2 đến 3 sào đất tại Hố Tre, Hố Mây, vì công sức
đóng góp, nhưng ông U không chứng minh được yêu cầu của mình căn cứ
ông D không thừa nhận yêu cầu của ông U, nên không chứng cứ chấp nhận yêu
cầu của ông U. Việc ông D yêu cầu xem xét công sức đóng góp trong việc cải tạo tài
sản chung, nhưng không có chứng cứ nào xem xét, nên không chấp nhận.
[3.4] Đối với thửa đất 91, tờ bản đồ 04, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất O
993730, diện ch 2.370m
2
ông D, V đã hoán đổi cho ông Nguyễn Văn C vào năm
2013, để nhận lại 1.700m
2
đất ruộng tại Hố Tre, Hố Mây, chưa thực hiện phần thủ tục,
nhưng các bên đương sự đều đồng ý tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi. Đây là tài sản
chung trong hộ ông D, nên xác định giá trị của 1.700m
2
đất ruộng ở Hố Tre, Hố Mây,
để chia cho các thành viên trong hộ ông D mặt tại thời điểm cấp đất gồm: ông D,
V, ông U và ông T. n việc thực hiện hoán đổi đất các đương skhông đơn
khởi kiện để yêu cầu, nên không xem xét giải trong vụ án này. Nếu sau này các bên
có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Cách thức phân chia tài sản: Căn cứ vào tình hình sử dụng đất, tài sản thực
tế, nhu cầu sử dụng đất của từng đương sự, để phân chia tài sản bằng hiện vật hoặc
bằng tiền cho phù hợp, nhằm ổn định về đời sống, cũng như việc sản xuất cho các
đương sự về sau. Xét thấy, hiện bà V các con đang tại căn nhà trên thửa đất 175,
nên tiếp tục giao cho bà V sử dụng quyền sử dụng thửa đất 175, đồng thời sở hữu toàn
bộ tài sản có trên thửa đất này. Còn ông D hiện đã có vợ, đang ở và trực tiếp sản xuất
trên phần đất tại Hố Tre, Hố Mây khu vực Núi Dinh, nên công nhận toàn bộ diện tích
11
đất này (kể cả phần đất của bà Đ1) tài sản gắn liền cho ông D được sử dụng là hợp
lý.
[5] Tính giá trị tài sản của mỗi người được chia: Theo Biên bản định giá tài sản
lập ngày 30/3/2021, tổng giá trị tài sản được định giá là 3.075.446.000 đồng; trong đó
phần tài sản chung của hộ gồm 04 người: ông D, V, ông U, ông T 1.700m
2
đất
ruộng nhận hoán đổi của ông C giá trị 1.700m
2
x 22.000 đồng/m
2
= 37.400.000
đồng, mỗi người được nhận 01 phần tài sản giá trị 37.400.000 đồng : 4 =
9.350.000 đồng. Phần tài sản của bà Đ1 gồm 8.000m
2
đất trồng cây lâu năm có giá trị
8.000m
2
x 32.080đồng = 256.640.000 đồng và 3.000m
2
đất ruộng có giá trị 3.000m
2
x
22.000 đồng = 66.000.000 đồng. Tổng giá trị đất của Đ1 là 322.640.000 đồng.
Phần tài sản còn lại giá trị 3.075.446.000 đồng (37.400.000 đồng +
322.640.000 đồng ) = 2.715.406.000 đồng là phần của ông D, bà V, nên chia đôi, mỗi
người được nhận tài sản có giá trị là: 2.715.406.000 đồng : 2 = 1.357.703.000 đồng.
[6] Về phương thức thối trả: Căn cứ vào tài sản được nhận, giá trị tài sản được
chia để buộc thối trả tài sản cho đương sự khác như sau:
[6.1]Tài sản chia cho V: Thửa đất 175, tờ bản đồ 02, diện tích 234m
2
(diện
tích thực tế qua đo đạc 211,3m
2
), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất O 993730,
giá trị 2.063.100.000 đồng; các tài sản trên đất gồm: 03 căn nhà cấp 4, giá trị
40.000.000 đồng, 50m
2
mái vòm, giá trị 14.350.000 đồng, 01 giếng nước giá trị
3.363.000 đồng và 23,3m hàng rào có giá trị 3.495.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bà V
được nhận 2.124.308.000 đồng. Giá trị tài sản bà V được chia là: 1.357.703.000 đồng
+ 9.350.000 đồng = 1.367.053.000 đồng.
Giá trị tài sản V phải thối trả chênh lệch tài sản là: 2.124.308.000 đồng
1.367.053.000 = 757.255.000 đồng. V thối trả cho ông U, ông T, mỗi người
9.350.000 đồng, ông D 415.915.000 đồng, cho bà Đ1 322.640.000 đồng.
[6.2]Tài sản chia cho ông D: 14.000m
2
đất trồng cao su, trị giá 449.120.000 đồng
(trong đó 8.000m
2
đất của Đ1, trị g256.640.000 đồng); 896 cây cao su, trị giá
250.880.000 đồng; 3.700m
2
ao cá, trị giá 55.500.000 đồng; 250m
2
đất trống, trị giá
8.020.000 đồng;1 giếng nước, trị giá 2.374.000 đồng; 8.420m
2
đất ruộng, trị giá
185.240.000 đồng (trong đó có 3.000m
2
đất ruộng của bà Đ1 trị giá 66.000.000 đồng)
415.915.000 đồng do V thối trả. Tổng số tài sản ông D được chia giá trị:
1.367.053.000 đồng.
12
[6.3]Tài sản chia cho ông U ông T: Mỗi người được nhận ¼ giá trị của
1.700m
2
đất ruộng nhận hoán đổi của ông C, do bà V thối trả là 9.350.000 đồng.
[6.4] Trần Thị Đ1 được quyền sở hữu số tiền 322.640.000 đồng do V thối
trả (trị giá của 8.000m
2
đất trồng cây lâu năm 256.640.000 đồng 3.000m
2
đất
ruộng là 66.000.000 đồng).
[7] Về án phí dân sthẩm chi phí tố tụng: V, ông D, ông U, ông T, bà
Đ1 cùng chịu chi phí định giá tài sản, chi pđo đạc tiền án phí theo quy định của
pháp luật, tương ứng với giá trị tài sản được chia. Miễn tiền án phí cho Đ1 tuổi
già và có đơn xin miễn án phí
[8] Về kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 33, khoản 2, 3 Điều 59, khoản 2 Điều 62 của Luật Hôn nhân
gia đình; Điều 212, 213, 357, 468 Bộ luật Dân sự; điểm d khoản 1 Điều 99, khoản 2
Điều 101, Điều 103, 166 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều
227, Điều 271, 273, Bộ luật Tố tụng n sự; Điều 12, 14, 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lpTòa án của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Chia tài sản chung cho các đương sự như sau: Thị Hồng V ông
Nguyễn D mỗi người được chia phần tài sản giá trị 1.367.053.000 đồng (một tỷ
ba trăm sáu ơi bảy triệu không trăm năm mươi ba ngàn đồng). Ông Nguyễn Viết
Thành U ông Nguyễn Thành T mỗi người được chia phần tài sản giá trị
9.350.000 đồng (chín triệu ba trăm năm chục ngàn đồng). Trần Thị Đ1 được chia
tài sản giá trị 322.640.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu sáu trăm bốn chục
ngàn đồng).
2. Cách thức phân chia tài sản:
13
-Chia cho Thị Hồng V quyền sử dụng thửa đất 175, tờ bản đồ 02, diện tích
234m
2
(diện tích thực tế qua đo đạc 211,3m
2
), Giấy chứng nhận quyền sdụng đất O
993730, gtrị 2.063.100.000 đồng; các tài sản trên đất gồm: 03 căn nhà cấp 4,
giá trị 40.000.000 đồng, 50m
2
mái vòm, có giá trị 14.350.000 đồng, 01 giếng nước
giá trị 3.363.000 đồng và 23,3m hàng rào có giá trị 3.495.000 đồng.
Có kèm theo Mảnh trích hiện trạng thửa đất đang tranh chấp, hệ tọa độ VN- 2000
khu vực Bình Thuận, thôn Z, tờ bản đồ s117 (236392-1-d).
Tổng giá trị tài sản V được nhận 2.124.308.000 đồng, tài sản V được chia
1.367.053.000 đồng. Do đó bà Lê Thị Hồng V phải có nghĩa vụ thối trả chênh lệch tài
sản cho: Ông Nguyễn D số tiền 415.915.000 đồng; ông Nguyễn Viết Thành U và ông
Nguyễn Thành T mỗi người số tiền 9.350.000 đồng; Trần Thị Đ1 322.640.000
đồng.
- Công nhận cho ông Nguyễn D được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất
26.370m
2
ã làm tròn số) tại khu vực Hố Tre, Hố Mây, NC, gồm 14.000m
2
đất
trồng cây lâu năm, trị giá 449.120.000 đồng; ao nuôi cá: 3.700m
2
, trị giá 55.500.000
đồng; 250m
2
đất trống, trị giá 8.020.000 đồng; 8.420m
2
đất ruộng, trị giá
185.244.000 đồng. Ông Nguyễn D được quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên
khu vực đất tại Hố Tre, Hố Mây, gồm: 896 cây cao su, trị g 250.880.000 đồng; 01
giếng nước đường kính 1,2m, sâu 7m, trị giá 2.374.000 đồng số tiền 415.915.000
đồng do bà Lê Thị Hồng V thối trả;.
Có kèm theo Mảnh trích hiện trạng thửa đất đang tranh chấp, hệ tọa độ VN- 2000
khu vực Bình Thuận, Hố Tre Hố Mây, tờ bản đồ số 96 (236392-5).
-Ông Nguyễn Viết Thành U và ông Nguyễn Thành T mỗi người được sở hữu số
tiền 9.350.000 đồng (chín triệu ba trăm năm chục ngàn đồng) do Thị Hồng V
thối trả.
-Trần Thị Đ1 được sở hữu số tiền 322.640.000 đồng (ba trăm hai mươi hai
triệu sáu trăm bốn chục ngàn đồng) do bà Lê Thị Hồng V thối trả.
Kể từ ngày những người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án về khoản
tiền Thị Hồng V phải thối trả chênh lệch tài sản cho đến khi thi hành xong án,
Thị Hồng V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
14
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bluật Dân sự, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Các đương sự được chia quyền sử dụng đất, được công nhận quyền sử dụng đất
trách nhiệm liên hệ với quan của Nhà nước thẩm quyền để thực hiện việc
khai, đăng ký, để được cấp, được điều chỉnh quyền sử dụng đất được chia, được công
nhận theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Thị Hồng V ông Nguyễn D mỗi người
phải chịu 53.011.000 đồng án phí. Thị Hồng V được trừ 18.000.000 đồng tạm
ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận,
theo biên lai thu tiền số 0003678 ngày 02/6/2020. ThHồng V còn phải nộp
35.011.000 đồng án phí dân sự. Ông Nguyễn Viết Thành U ông Nguyễn Thành T
mỗi người phải chịu 467.500 đồng án phí. Miễn toàn bộ tiền án phí cho bà Đ1.
4. Về chi phí đo đạc định giá tài sản: Thị Hồng V ông Nguyễn D
mỗi người phải chịu 6.441.000 đồng tiền chi phí đo đạc 1.556.000 đồng tiền chi
phí định giá; ông Nguyễn Viết Thành U và ông Nguyễn Thành T mỗi người phải chịu
45.000 đồng tiền chi phí đo đạc 10.000 đồng tiền chi phí định giá; bà Trần Thị Đ1
phải chịu 1.520.000 đồng chi phí đo đạc 368.000 đồng chi phí định giá. Buộc ông
Nguyễn D phải nộp số tiền 7.997.000 đồng, ông Nguyễn Viết Thành U, ông Nguyễn
Thành T mỗi người phải nộp số tiền 55.000 đồng; Trần Thị Đ1 phải nộp lại số tiền
1.888.000 đồng, để hoàn lại cho bà Thị Hồng V, vì bà V đã chi tạm ứng số tiền đo
đạc và định giá tài sản.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 26/8/2021; đương sự vắng mặt tại
phiên tòa người đại diện của đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày,
tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc
thẩm.
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự./-
15
Nơi nhận:
-TAND tỉnh;
-VKSND huyn;
-CCTHADS huyn;
-Đương s;
-Lưu./
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thái
Tải về
Bản án số 88/2021/HNGĐ-ST Bản án số 88/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất