Bản án số 878/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 878/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 878/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 878/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 878/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 878/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/09/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Giữ nguyên án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 878/2024/DS-PT
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số: 616/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm
2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2942/2024/QĐ-PT ngày
10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Ấp A, xã
T, huyện B, tỉnh Bình Dương (có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo Văn bản ủy quyền ngày
18 tháng 10 năm 2021):
- Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh
Bình Dương (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường
T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1937; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện
B, tỉnh Bình Dương (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964 (có mặt);
3.2. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1941 (đã chết);
2
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị H1: Ông Nguyễn
Thanh H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (có
mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1982 (vắng mặt, có đơn xin xét xử
vắng mặt);
3.4. Bà Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1984 (có mặt);
3.5. Ông Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1987 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thanh N1,
bà Nguyễn Hoàng T2, ông Nguyễn Hoàng T3: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1984
và bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1989 (theo Văn bản ủy quyền ngày 18 tháng
10 năm 2021) (đều có mặt).
3.6. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ C, khu phố H,
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
3.7. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1940; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh
Bình Dương (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1: Ông Nguyễn Văn N,
sinh năm 1937; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy
quyền ngày 26 tháng 9 năm 2024) (có mặt).
3.8. Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là “UBND”) huyện B, tỉnh Bình
Dương; Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 8 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung
và quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thanh H trình bày:
Gia đình nguyên đơn có thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64, thuộc xã T, huyện
B, tỉnh Bình Dương, được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (sau đây gọi tắt là “GCN.QSDĐ”) số 00013 ngày 30 tháng 10 năm 2000. Phần
đất này có mốc giới, ranh giới rõ ràng và được sử dụng ổn định từ năm 1973 cho
đến nay. Nguồn gốc đất do ông Trần Văn R là cha vợ của nguyên đơn nhận chuyển
nhượng của bà Lê Thị T4 và ông Nguyễn Văn Ự bằng giấy viết tay, được UBND
xã T xác nhận vào ngày 27 tháng 7 năm 1993, trong đó có thửa số 136, tờ bản đồ
số 64. Ngày 28 tháng 7 năm 1993, ông R lập giấy tay giao cho nguyên đơn thửa
đất số 136. Ngày 30 tháng 10 năm 2000, nguyên đơn được UBND huyện T (nay
là huyện B) cấp GCN.QSDĐ. Quá trình sử dụng đất từ ngày 28 tháng 7 năm 1993
cho đến nay, nguyên đơn canh tác, sử dụng đất ổn định, không có ai tranh chấp.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, nguyên đơn làm hồ sơ yêu cầu Chi nhánh Văn phòng
Đ1 (sau đây gọi tắt là “VPĐKĐĐ”) huyện B đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất tại
3
thửa đất số 136. Ngày 17 tháng 3 năm 2020, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B phối
hợp với UBND xã T và gia đình nguyên đơn, bị đơn tiến hành kiểm tra, đo đạc
thửa đất; trong quá trình đo đạc, các chủ sử dụng đất liền kề xác nhận ranh đất.
Sau đó đối chiếu với hồ sơ địa chính thì Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B xác định
phần đất của nguyên đơn đang sử dụng có khác so với GCN.QSDĐ và có liên
quan đến địa giới hành chính của thửa đất số 52, 53, tờ bản đồ số 14 của bị đơn
(ông Nguyễn Văn N) do xã T cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn. Ngày 04 tháng 5 năm
2020, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Bắc Tân U phối hợp với UBND xã T có mời
nguyên đơn và bị đơn đến giải quyết. Tại biên bản giải quyết cùng ngày 04 tháng
5 năm 2020, bị đơn xác định ranh giới, mốc giới giữa hai bên rõ ràng, sử dụng ổn
định nhưng do thời điểm bị đơn kê khai xin cấp GCN.QSDĐ, UBND huyện T chỉ
căn cứ trên bản đồ địa chính không ảnh nên có sự trùng lắp với phần thửa đất số
136 của nguyên đơn đã quản lý, sử dụng từ năm 1993; bị đơn không trực tiếp quản
lý, sử dụng đất nên bị đơn đồng ý giao GCN.QSDĐ của bị đơn cho Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký QSDĐ huyện B để điều chỉnh giảm diện tích thuộc thửa 52,
53, tờ bản đồ số 14. Tuy nhiên, sau ngày 04 tháng 5 năm 2020, bị đơn yêu cầu
Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B phối hợp cùng với UBND xã T đo đạc lại thửa đất.
Tại buổi đo đạc, bị đơn chỉ sai ranh giới, bị đơn không thực hiện đúng theo sự
thống nhất với kết quả đo đạc, kiểm tra ngày 17 tháng 3 năm 2020 do Chi nhánh
VPĐKĐĐ huyện B phối hợp cùng với UBND xã T và không thực hiện đúng như
cam kết tại buổi hòa giải ngày 04 tháng 5 năm 2020. Ngày 10 tháng 6 năm 2020,
nguyên đơn gửi đơn yêu cầu hòa giải về việc tranh chấp QSDĐ giữa nguyên đơn
và bị đơn đến UBND xã T. Ngày 14 tháng 8 năm 2020, UBND xã T tổ chức hòa
giải nhưng không thành. Trước đó, ngày 18 tháng 7 năm 2020, bị đơn có hành vi
nhổ các trụ rào, phá bỏ ranh giới, mốc giới phân định ranh giới. Ngày 20 tháng 8
năm 2020, UBND xã T lập biên bản về việc bị đơn nhổ trụ rào ranh giới, mốc giới
đất. Cùng ngày, nguyên đơn khởi kiện bị đơn đến Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân
Uyên để yều cầu giải quyết buộc bị đơn trả lại diện tích đất 2.174m
2
thuộc thửa
số 136, tờ bản đồ số 64.
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, nguyên đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy
GCN.QSDĐ số CH 00072 ngày 29 tháng 3 năm 2010 của bị đơn tại thửa số 52,
53, tờ bản đồ số 14.
Ngày 01 tháng 3 năm 2022, nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung
yêu cầu Tòa án giải quyết diện tích tranh chấp 2.449,7m
2
.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu lấy bản vẽ ngày 17 tháng 6 năm
2022 của Văn phòng Đăng ký QSDĐ tỉnh B để làm cơ sở giải quyết thì xác định
diện tích đất tranh chấp gồm có diện tích 705,3m
2
(ký hiệu phần A trên sơ đồ bản
vẽ ngày 17 tháng 6 năm 2022) và diện tích 1.327,9m
2
(ký hiệu phần A trên sơ đồ
bản vẽ ngày 17 tháng 6 năm 2022) nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử
dụng.
* Bị đơn Nguyễn Văn N trình bày:
Phần đất của bị đơn đang sử dụng tiếp giáp với đất của nguyên đơn (ông
Nguyễn Thanh H); ranh giới, mốc giới sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
4
Nguồn gốc đất là ông bà để lại, cha bị đơn sử dụng từ năm 1987. Năm 1999, hộ
gia đình bị đơn đăng ký kê khai đất và đến ngày 16 tháng 02 năm 2001 được
UBND huyện T (nay là huyện B) cấp GCN.QSDĐ số 01202 QSDĐ/TU. Ngày 29
tháng 3 năm 2010, hộ gia đình bị đơn xin cấp đổi lại GCN.QSDĐ, được UBND
huyện B cấp GCN.QSDĐ số CH 00072. Đến ngày 01 tháng 8 năm 2015, hộ gia
đình bị đơn lập văn bản thỏa thuận để cho vợ chồng bị đơn ông Nguyễn Văn N,
bà Nguyễn Thị L1 đứng tên QSDĐ cho nên Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B có cập
nhật biến động tên người sử dụng đất là vợ chồng ông N, bà L1.
Thời điểm kê khai cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn không qua đo đạc thực tế,
chỉ căn cứ trên bản đồ địa chính được lập bằng phương pháp không ảnh nên dẫn
đến việc cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn tại thửa số 52, 53, tờ bản đồ số 14 thì thửa
đất này nguyên đơn là người trực tiếp sử dụng đất, bị đơn không trực tiếp sử dụng
phần đất tranh chấp. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05 tháng 3 năm 2022, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc
nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hộ của nguyên đơn
chặt bỏ 479 cây tràm có trên đất để trả lại cho bị đơn diện tích đất 2.449,7m
2
và
yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý giảm diện tích
2.449,7m
2
tại thửa 136, tờ bản đồ số 64 nằm trong GCN.QSDĐ số 00013
QSDĐ/TU cấp ngày 30 tháng 10 năm 2000 của hộ nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị L (vợ của
nguyên đơn), bà Nguyễn Thanh N1, bà Nguyễn Hoàng T2, ông Nguyễn Hoàng
T3, bà Nguyễn Thị Thu T1 (các con của nguyên đơn): Thống nhất như ý kiến
của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 (vợ của bị đơn):
Thống nhất như ý kiến của bị đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện B trình bày:
Tại Công văn số 2066/UBND-NC ngày 08 tháng 7 năm 2021 và Công văn
số 4470/UBND-NC ngày 22 tháng 12 năm 2022 xác định việc cấp GCN.QSDĐ
số 00013/QSDĐ-TU ngày 30 tháng 01 năm 2000 cho hộ Nguyễn Thanh H đối với
thửa đất số 135, 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T được thực hiện theo trình tự, thủ tục
tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa
chính. Nguồn gốc đất theo đơn xin đăng ký QSDĐ kê khai năm 1993, đất của ông
Trần Văn R được UBND xã T xác nhận ngày 06 tháng 01 năm 2000. Theo hồ sơ
địa chính, tại thời điểm cấp GCN.QSDĐ cho hộ ông Nguyễn Thanh H không có
qua đo đạc thực tế, không có lấy ý kiến của các chủ sử dụng đất kiền kề.
Theo đơn đăng ký QSDĐ được UBND xã T xác nhận ngày 06 tháng 01
năm 2000, thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T do chủ sử dụng đất ông Nguyễn
Thanh H đăng ký kê khai vào ngày 12 tháng 10 năm 1999.
GCN.QSDĐ số CH 00072 ngày 29 tháng 3 năm 2010 cấp cho hộ ông
Nguyễn Văn N đối với thửa đất số 52, 53, tờ bản đồ số 14 tại xã T đã đăng ký biến
động QSDĐ ngày 01 tháng 9 năm 2015. Trình tự, thủ tục cấp GCN.QSDĐ cho hộ
Nguyễn Văn N theo quy định tại Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng
5
10 năm 2009 của Bộ T5. Nguồn gốc đất nhận chuyển quyền sử dụng theo văn bản
thỏa thuận của Văn phòng C chứng thực ngày 01 tháng 8 năm 2015. Theo hồ sơ
địa chính, thời điểm cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn ông N không có qua đo đạc thực
tế, chỉ trích lục địa chính để lập thủ tục thỏa thuận QSDĐ (theo bản trích lục địa
chính ngày 24 tháng 7 năm 2015 do Chi nhánh VPĐKĐĐ xác lập), không có lấy
ý kiến của các chủ sử dụng đất liền kề về ranh giới thửa đất.
Theo đơn đăng ký QSDĐ được UBND xã T xác nhận năm 2000, thửa đất
số 52, 53, tờ bản đồ số 14 tại xã T do chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn N đăng
ký kê khai ngày 03 tháng 10 năm 2000.
Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 63-2021 ngày 20 tháng
4 năm 2021 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B thể hiện:
Phần diện tích đất 701,5m
2
(kết quả đo đạc của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện
B) thuộc 01 phần thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T được cấp GCN.QSDĐ
số 00013 QSDĐ/TU cho nguyên đơn ông H vào ngày 30 tháng 10 năm 2000,
đồng thời thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 14 tại xã T được cấp GCN.QSDĐ
cho bị đơn ông N vào ngày 29 tháng 3 năm 2010.
Phần diện tích đất 1.349,9m
2
(kết quả đo đạc của Chi nhánh VPĐKĐĐ
huyện B) thuộc 01 phần thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T được cấp
GCN.QSDĐ số 00013 QSDĐ/TU cho nguyên đơn ông H vào ngày 30 tháng 10
năm 2000, đồng thời thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 14 tại xã T được cấp
GCN.QSDĐ cho bị đơn ông N vào ngày 29 tháng 3 năm 2010. Nguyên nhân dẫn
đến việc cấp GCN.QSDĐ chồng lấn là do tại thời điểm cấp GCN.QSDĐ cho hộ
ông H và ông N không có tiến hành đo đạc thực tế thửa đất mà chỉ dựa trên bản
đồ địa chính thành lập năm 1998, đồng thời bản đồ số 64 của xã T và bản đồ số
14 của xã T có sự chồng lấn phần diện tích như trên. Căn cứ theo bản đồ địa chính
và ranh địa giới hành chính thì phần đất tranh chấp thuộc địa giới hành chính của
xã T.
Tại Công văn số 2067/UBND-NC ngày 08 tháng 7 năm 2021, UBND
huyện B yêu cầu xét xử vắng mặt tại Tòa án các cấp.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm
2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai; Điều 164, Điều 175,
Điều 236 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thanh H đối với
bị đơn Nguyễn Văn N về việc tranh chấp QSDĐ.
- Hộ ông Nguyễn Thanh H được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất
705,3m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 và diện tích đất 1.327,9m
2
6
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
gắn liền cây trồng trên đất thuộc GCN.QSDĐ số 00013QSDĐ/TU ngày 30 tháng
10 năm 2000 do hộ nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H đứng tên QSDĐ (ký hiệu
phần A trên sơ đồ bản vẽ, có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Kiến nghị UBND huyện B thu hồi diện tích đất 705,3m
2
thuộc thửa số 52,
tờ bản đồ số 14 (ký hiệu phần A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo) và diện tích đất
1.327,9m
2
thuộc thửa số 53, tờ bản đồ số 14 (ký hiệu phần A trên sơ đồ bản vẽ)
đã cấp GCN.QSDĐ số CH 00072 ngày 29 tháng 3 năm 2010 cho ông Nguyễn
Văn N và bà Nguyễn Thị L1.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn N đối với
nguyên đơn Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh H phải giao cho
ông Nguyễn Văn N diện tích đất 705,3m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ
số 64 và diện tích đất 1.327,9m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã
T, huyện B, tỉnh Bình Dương gắn liền cây trồng có trên đất thuộc GCN.QSDĐ số
00013QSDĐ/TU ngày 30 tháng 10 năm 2000 do hộ ông Nguyễn Thanh H đứng
tên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 01 tháng 6 năm 2024, bị đơn Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, với lý do kháng cáo:
Bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã không điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, có dấu
hiệu không khách quan. Theo đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu
cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn Nguyễn Văn N trình bày: Bảo lưu lời trình bày và yêu cầu phản
tố như nội dung án sơ thẩm đã nêu, giữ nguyên các lý do và yêu cầu kháng cáo,
đồng thời yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N, sửa án sơ
thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, chấp nhận yêu cầu
phản tố của ông N.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh T,
bà Nguyễn Thị Thu T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan -
Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Hoàng T2, Nguyễn Hoàng T3, trình bày: Giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý đối với nhận định và quyết
định của án sơ thẩm, không đồng ý đối với kháng cáo của ông N, yêu cầu Hội
đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
7
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời
điểm hiện nay thấy rằng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia
tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi
phạm.
Về nội dung: Khi giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn
diện chứng cứ; quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật; tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn N, giữ nguyên án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các
đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn
diện và đầy đủ chứng cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của ông Nguyễn Văn N còn trong hạn luật định và hợp lệ
được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và
thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
- Về nội dung:
Đối với kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn N, xét:
[1] Về nguồn gốc đất và đăng ký kê khai đất tranh chấp của nguyên đơn và
bị đơn:
- Đối với nguyên đơn: Nguồn gốc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T
đã được UBND huyện T (nay là huyện B) cấp GCN.QSDĐ số 00013QSDĐ/TU
ngày 30 tháng 10 năm 2000 cho hộ nguyên đơn, theo đơn đăng ký QSDĐ của
nguyên đơn lập ngày 12 tháng 10 năm 1999 và được UBND xã T xác nhận vào
ngày 06 tháng 01 năm 2000. Thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 có nguồn gốc do
cha ông H là ông Trần Văn R tặng cho năm 1980.
- Đối với bị đơn: Nguồn gốc thửa đất số 52, 53, tờ bản đồ số 14 tại xã T đã
được UBND huyện T (nay là huyện B) cấp GCN.QSDĐ số 01202 QSDĐ/TU
ngày 16 tháng 02 năm 2001 và cấp đổi lại GCN.QSDĐ số CH 00072 ngày 29
tháng 3 năm 2010 cho hộ bị đơn ông N. Đến ngày 01 tháng 8 năm 2015, hộ ông
N lập văn bản thỏa thuận đồng ý giao toàn bộ phần đất này cho vợ chồng ông N,
bà L1 nên UBND huyện B điều chỉnh biến động sang tên cho vợ chồng ông N, bà
L1 (tại trang 2 của GCN.QSDĐ). Bị đơn ông N được cấp GCN.QSDĐ theo đơn
đăng ký QSDĐ của bị đơn lập ngày 03 tháng 10 năm 2000 và được UBND xã T
xác nhận năm 2000 (không có ghi ngày tháng xác nhận). Thửa đất số 52, 53, tờ
bản đồ số 14 tại xã T có nguồn gốc thừa kế năm 1976.
8
Tài liệu có trong hồ sơ xác định nguồn gốc đất của các đương sự thể hiện
thửa đất của nguyên đơn có được xuất phát từ ông R cùng với 02 người con là ông
Trần Hữu Đ và ông Nguyễn Thanh H (nguyên đơn) theo giấy mua ruộng ngày 28
tháng 7 năm 1993 (BL 25) mua lại của bà Lê Thị T4 do ông R đứng tên (theo đơn
xin chuyển nhượng QSDĐ - BL 27) đã được UBND huyện B phúc đáp tại Công
văn số 2066/UBND-NC ngày 08 tháng 7 năm 2021 (BL 136) và Công văn số
4470/UBND-NC ngày 22 tháng 12 năm 2022 (BL 249). Do đó, nguồn gốc đất đã
được cơ quan chuyên môn phúc đáp rõ mà không có sự mâu thuẫn về nguồn gốc
thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 cấp cho ông Nguyễn Thanh H cho nên không cần
thiết phải hỏi ý kiến của ông Trần Hữu Đ để xác định về nguồn gốc đất của ông
Nguyễn Thanh H; và giữa ông Nguyễn Thanh H với ông Nguyễn Văn N tranh
chấp đất với nhau nên không có liên quan đến quyền lợi của ông Trần Hữu Đ (anh
em của ông H). Vì vậy, Tòa sơ thẩm không đưa ông Đ tham gia tố tụng là đúng,
do không ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ.
Đối với nguồn gốc đất của bị đơn là thừa kế đất của ông bà thể hiện trong
hồ sơ cấp đất của bị đơn tại Công văn số 2066/UBND-NC ngày 08 tháng 7 năm
2021 của UBND huyện B (BL 136) và Công văn số 4470/UBND-NC ngày 22
tháng 12 năm 2022 (BL 249), đồng thời lời khai của đại diện bị đơn tại phiên tòa
và lời khai của bị đơn trong quá trình tố tụng xác định đất là của ông bà.
+ Về quá trình sử dụng đất tranh chấp: Thửa đất tranh chấp nguyên đơn sử
dụng từ năm 1993 cho đến nay đã 30 năm; bị đơn cũng thừa nhận tại biên bản làm
việc ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B là đất tranh
chấp do nguyên đơn là người quản lý, sử dụng, đồng thời để khẳng định thửa đất
tranh chấp nguyên đơn trực tiếp sử dụng thể hiện qua việc nguyên đơn canh tác
đất, có trồng 479 cây tràm. Mặt khác, thực tế còn thể hiện qua ranh giới đất thì
hiện trạng có ranh giới đất rõ ràng, mốc giới sử dụng đất ổn định, có trụ bê tông
kéo kẽm, trên hiện trạng thửa đất của nguyên đơn và bị đơn còn phân biệt đường
ranh giới qua bục đất cao thấp, thửa đất của nguyên đơn nằm vị trí cao, trong đó
có thửa đất số 136 nguyên đơn trồng cây tràm và vị trí đất của bị đơn nằm trũng
thấp trồng cây cao su, điều này được UBND xã T xác định tại Công văn số
145/UBND-KT ngày 04 tháng 5 năm 2023 (BL 254). Đồng thời, tại Công văn số
2066/UBND-NC ngày 07 tháng 8 năm 2021 và Công văn số 4470/UBND-NC
ngày 22 tháng 12 năm 2022 của UBND huyện B và xem xét hồ sơ cấp đất thì
nguyên đơn được cấp GCN.QSDĐ lần đầu vào ngày 30 tháng 10 năm 2000 và bị
đơn được cấp GCN.QSDĐ lần đầu vào ngày 16 tháng 02 năm 2001 (bị đơn được
cấp đất sau nguyên đơn). Do khi cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn tại thửa đất số 52,
53, tờ bản đồ số 14 không có qua đo đạc thực tế mà cấp dựa trên bản đồ địa chính
không ảnh nên có sự cấp trùng lắp thửa đất số 136, tờ bản đồ số 64 mà UBND
huyện T cấp trước đó cho nguyên đơn. Hơn nữa, nguyên đơn đăng ký kê khai đất
vào ngày 12 tháng 10 năm 1999, bị đơn đăng ký kê khai đất vào ngày 03 tháng 10
năm 2000 là đăng ký sau nguyên đơn. Chính vì thế, tại buổi hòa giải ngày 04
tháng 5 năm 2020 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B, bị đơn đã đồng ý giao
GCN.QSDĐ của bị đơn cho Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B để chỉnh lý giảm diện
tích thửa đất số 52, 53, tờ bản đồ số 14.
9
Tại Công văn số 2066/UBND- NC ngày 08 tháng 7 năm 2021 xác định căn
cứ theo bản đồ địa chính và ranh địa giới hành chính thì phần đất các đương sự
tranh chấp thuộc địa giới hành chính của xã T (xã của nguyên đơn).
[2] Từ những căn cứ nêu trên, Tòa sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp
thuộc QSDĐ của nguyên đơn, nên nguyên đơn được tiếp tục sử dụng. Do có sự
thiếu sót của UBND huyện B khi đã cấp GCN.QSDĐ cho nguyên đơn nhưng sau
đó lại cấp GCN.QSDĐ cho bị đơn, nên cần phải thu hồi GCN.QSDĐ của bị đơn
đối với thửa đất số 52, 53, tờ bản đồ số 14. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn nên Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có
căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận
quan điểm của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn
N, giữ nguyên án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi nên
được miễn nộp án phí phúc thẩm.
[4] Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí, chi phí tố tụng không có
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 228,
khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 105, Điều 106, Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 164, Điều 175, Điều 236 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn N, giữ nguyên án
sơ thẩm.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thanh H đối với
bị đơn Nguyễn Văn N về việc tranh chấp QSDĐ.
- Hộ ông Nguyễn Thanh H được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất
705,3m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 và diện tích đất 1.327,9m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
gắn liền cây trồng trên đất thuộc GCM.QSDĐ số 00013QSDĐ/TU ngày 30 tháng
10 năm 2000 do hộ ông Nguyễn Thanh H đứng tên QSDĐ (ký hiệu phần A trên
sơ đồ bản vẽ, có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
10
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn N đối với
nguyên đơn Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh H phải giao cho
ông Nguyễn Văn N diện tích đất 705,3m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ
số 64 và diện tích đất 1.327,9m
2
thuộc 01 phần thửa số 136, tờ bản đồ số 64 tại xã
T, huyện B, tỉnh Bình Dương gắn liền cây trồng có trên đất thuộc GCN.QSDĐ số
00013QSDĐ/TU ngày 30 tháng 10 năm 2000 do hộ ông Nguyễn Thanh H đứng
tên.
4. UBND huyện B có trách nhiệm thu hồi diện tích đất 705,3m
2
thuộc thửa
số 52, tờ bản đồ số 14 (ký hiệu phần A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo) và diện tích
đất 1.327,9m
2
thuộc thửa số 53, tờ bản đồ số 14 (ký hiệu phần A trên sơ đồ bản
vẽ) đã cấp GCN.QSDĐ số CH 00072 ngày 29 tháng 3 năm 2010 cho ông Nguyễn
Văn N và bà Nguyễn Thị L1.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi nên
được miễn nộp án phí phúc thẩm.
6. Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí, chi phí tố tụng không có kháng
cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Cục THADS tỉnh Bình Dương;
- Các đương sự;
- Lưu VT (5), HS (2), 28b, (TK-PH).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tửu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm