Bản án số 86/2022/HS-ST ngày 27/09/2022 của TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 86/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 86/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 86/2022/HS-ST ngày 27/09/2022 của TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lạng Giang (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 86/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LG
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Bản án số: 86/2022/HSST
Ngày 27 tháng 9 năm 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh;
Bà Ngô Thị Mai- Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thư ký
Toà án nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG tham gia phiên toà: Bà Đồng
Thị Toàn- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc
Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2022/HSST ngày 14
tháng 9 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2022/HSST-QĐ
ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Tấn H, sinh năm 1972. Tên gọi khác: Không có. Giới tính:
Nam.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Số 25 Võ Thị S, tổ 6, phường TS, thị
xã K, tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái
xe; Văn hóa: 7/12.
Họ và tên bố: Lê B1, sinh năm 1950.
Họ và tên mẹ: Hồ Thị L2, sinh năm 1954.
Gia đình có 05 anh em, bản thân là thứ nhất.
Họ và tên vợ: Bùi Thị L3, sinh năm 1973.
Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2002. Tiền án,
tiền sự: Chưa có.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
cư trú có mặt tại phiên tòa.
2
-Bị hại: Cháu Trần Thị H1, sinh 26/10/2007 ( đã chết)
Đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1981 (vắng
mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Số 3, Thị Trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B: Ông Nguyễn Duy V1,
sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã H3, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
-Bị hại: Cháu Trần Hoàng L1, sinh 16/5/2009 (vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1980 (vắng
mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố TB, Thị Trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Văn H6, sinh năm 1979
(vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 3, phường P, thị xã K, tỉnh Gia Lai
- Những người tham gia tố tụng khác: Ủy ban nhân dân Thị Trấn K, huyện
LG, tỉnh Bắc Giang do ông Đặng Minh Kh- Chủ tịch UBND Thị Trấn K đại diện
theo pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Đình Kh1- Phó chủ tịch UBND Thị Trấn
K (có mặt)
Địa chỉ: Thị Trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 06/5/2022, Lê Tấn H, sinh năm
1972 ở số nhà 25, đường Võ Thị S, phường TS, thị xã K, tỉnh Gia Lai, điều khiển
xe ô tô tải biển kiểm soát 81H - 009.76 chở hàng (thuốc lá) từ thành phố ĐN đi
giao cho Công ty Thuốc lá LH (ở xã NG, huyện LG, tỉnh Bắc Giang). Khoảng 06
giờ 03 phút ngày 07/5/2022, H điều khiển xe ô tô đi đến khu vực Km 1 + 350 tỉnh
lộ 292, thuộc địa phận tổ dân phố Đồng 1, Thị Trấn K, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.
Khi H đang điều khiển xe ô tô đi ở khoảng giữa mặt đường theo hướng Kép - Bố
Hạ thì cháu Trần Thị H1, sinh ngày 26/10/2007 ở tổ dân phố số 3, Thị Trấn K,
huyện LG điều khiển xe đạp (nhãn hiệu “PLGM”) đi trước cùng chiều chuyển
hướng rẽ trái sang đường. Lúc này, do không làm chủ tốc độ, Lê Tấn H đã đánh
lái sang trái để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe ô tô của H
đâm vào sườn bên trái xe đạp của cháu Hoa rồi kéo rê trượt xe đạp và cháu Hoa
trên mặt đường một đoạn rồi va chạm với xe đạp (nhãn hiệu Vinabike) do cháu
Trần Hoàng L1, sinh năm 2009 ở tổ dân phố TB, Thị Trấn K, huyện LG điều
khiển thì dừng lại. Hậu quả: Cháu H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại
Bệnh viện Việt Đức- Hà Nội. Đến ngày 11/5/2022, cháu Trần Thị H1 được bệnh
3
viện trả về và bị tử vong tại gia đình. Cháu Trần Hoàng L1 bị thương nhẹ, điều
trị tại nhà.
Ngay sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông nêu trên, Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an huyện LG đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến
hành khám nghiệm hiện trường (BL 23-24), khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát
81H-009.76 (BL 103-104), khám nghiệm xe đạp, màu sơn hồng, trên thân có dán
nhãn hiệu “PLGM” (BL 101-102), khám nghiệm xe đạp, màu sơn hồng, trên thân
có dán nhãn hiệu “Vinabike” (BL 99-100), khám nghiệm tử thi Trần Thị H1 (BL
26- 27) và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 952/KL-KTHS ngày 03/6/2022 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận nguyên nhân chết của Trần
Thị H1: Chết do chấn thương sọ não: Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương
pH (BL: 91, 92).
Tại Bản kết luận giám định số 1129/KL-KTHS ngày 30/6/2022 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
- Dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, dính chất màu trắng (dạng sơn),
hướng từ sau ra trước ở bên trái giá thồ hàng của xe đạp màu sơn hồng, trên khung
có chữ “PLGM” (ảnh 4,5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu
vết trượt xước, mất sơn và ma tít, hướng từ trước ra sau, từ trái sang pH ở bên pH
ba đờ sốc trước của xe ô tô biển số 81H-009.76 (ảnh 5,6 bản ảnh khám phương
tiện).
- Dấu vết trượt xước nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng
bột đá) ở bên pH của xe đạp màu sơn hồng, trên khung có chữ “PLGM” gồm: đầu
tay nắm, bàn đạp, khung kim loại, đầu trục bánh sau, vành bánh sau được hình
thành do tiếp xúc, rê trượt trên bề mặt vật tày cứng không nhẵn (như mặt đường)
tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau va chạm, xe đạp màu sơn
hồng, trên khung có chữ “PLGM” đổ nghiêng pH, rê trượt trên mặt đường tạo
nên dấu vết trượt xước ký hiệu số 7.
- Dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn ở thanh kim loại phía sau bên trái giá
thồ hàng (gác ba ga) của xe đạp màu sơn hồng, trên khung có chữ “Vinabike”
(ảnh 5,6,7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước
kim loại, dính chất màu hồng (dạng sơn) ở mặt trước, dưới khung kim loại giá đỡ
giàn tản nhiệt của xe ô tô biển số 81H-009.76 (ảnh 10 bản ảnh khám nghiệm
phương tiện).
- Dấu vết mài trượt cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở
lò so và mặt sau yên của xe đạp màu sơn hồng, trên khung có chữ “Vinabike”
(ảnh 13,14,15 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước
kim loại, mất sơn ở mặt trước bên pH ba đờ sốc trước của xe ô tô biển số 81H-
4
009.76 (ảnh 8,11,12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại ở bên pH của xe đạp màu sơn hồng,
khung có chữ “Vinabike” gồm: giỏ xe, tay nắm, bàn đạp, để chân được hình thành
do tiếp xúc, rê trượt trên bề mặt vật tày cứng không nhẵn (như mặt đường) tạo
nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau va chạm, xe đạp màu sơn hồng,
trên khung có chữ “Vinabike” đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường tạo nên
dấu vết trượt xước ký hiệu số 8.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 81H-009.76 với xe đạp màu sơn hồng,
khung có chữ “PLGM” trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký
hiệu số 7, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên trái theo hướng Thị Trấn K
đi Bố Hạ.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 81H-009.76 với xe đạp màu sơn hồng,
khung có chữ “Vinabike” trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước
ký hiệu số 8, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên trái theo hướng Thị Trấn
K đi Bố Hạ.
- Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy
ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2022 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện LG, kết luận:
- Giá trị phần hư hỏng của chiếc xe đạp màu sơn hồng, trên khung xe có chữ
“Vinabike” là 150.000 đồng.
- Giá trị phần hư hỏng của chiếc xe đạp màu sơn màu hồng, trên khung xe
có nhãn hiệu “PLGM” là 250.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định nguyên
nhân dẫn đến vụ tai nạn như sau: Đối với Lê Tấn H điều khiển xe ô tô tham gia
giao thông không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có
thể dừng lại một cách an toàn khi qua đoạn đường có báo hiệu cảnh báo nguy
hiểm, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản
1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông
vận tải. Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông, gây thiệt hại tính
mạng cho cháu Trần Thị H1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Tấn H đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
LG đã truy tố bị cáo Lê Tấn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại
diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức
độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách
5
nhiệm hình sự, và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Lê Tấn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Tây Sơn, thị xã An Khê, tỉnh Gia
Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Tấn H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy
định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách,
nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi
hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó pH
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về tiền án phí hình sự sơ
thẩm đối với bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn
hối cải, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát, không có ý kiến
tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo mức hình phạt thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách
khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện bị hại, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện LG,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LG, Kiểm sát viên: Trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã
có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho
việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn
tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi

6
nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại
phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng
đã nêu. Lời khai của bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi,
biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, bản kết luận định
giá tài sản của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong
hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có
đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 07/5/2022, tại Km 1+350 tỉnh
lộ 292 (thuộc địa phận thôn Đồng 1, Thị Trấn K, huyện LG), Lê Tấn H điều khiển
xe ô tô biển kiểm soát 81H - 009.76 tham gia giao thông không đi về bên pH theo
chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua
đoạn đường có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm dẫn đến va chạm với xe đạp do cháu
Trần Thị H1 điều khiển chuyển hướng sang đường. Hậu quả làm cháu Trần Thị
H1 bị tử vong do chấn thương sọ não.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả, bị cáo biết rằng
khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của Luật
giao đông đường bộ nhưng vì tự tin vào tay lái của mình, bị cáo điều khiển xe lưu
thông không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có thể
dừng lại một cách an toàn khi qua đoạn đường có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm,
vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1 Điều
5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông, gây thiệt hại tính mạng
cho cháu Trần Thị H1.
Hành vi của Lê Tấn H đủ yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh
và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm
đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến
tính mạng của người khác, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân, không
gì bù đắp nổi, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu
quả của vụ án là nghiêm trọng. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị
cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội
đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa

7
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau phạm tội bị cáo đã bồi thường
thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả; nguyên nhân dẫn đến vụ tai
nạn có một phần lỗi của bị hại điều khiển xe đạp chuyển hướng sang đường không
đảm bảo an toàn, không có tín hiệu báo hướng rẽ, vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật
Giao thông đường bộ, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách
nhiệm hình sự, đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt
qúa trình sinh sống chấp hành tốt mọi nội quy, quy định của địa phương được
chính quyền địa phương xác nhận, nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự
khoan hồng của pháp luật xã hội chủ.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của
bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao
động, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm
tội với lỗi vô ý do cẩu thả, nguyên nhân dẫn đến tai nạn có một phần lỗi của bị
hại điều khiển xe đạp chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn, không
có tín hiệu báo hướng rẽ, vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ,
nên HĐXX xét thấy đây là lỗi hỗn hợp không cần thiết pH cách ly ra khỏi xã hội
mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để
giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội thể hiện tính nhân đạo của pháp
luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy trong vụ án này có một phần lỗi của
bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật
hình sự về việc cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Đối với mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo là
phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/5/2022, Lê Tấn H đã bồi thường cho
gia đình cháu Trần Thị H1 tổng số tiền 180.000.000 đồng; bồi thường cho gia
đình cháu Trần Hoàng L1 số tiền 5.000.000 đồng. Gia đình cháu Hoa và gia đình
cháu L1 đã nhận tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Võ Văn Hưng
không yêu cầu bị cáo Lê Tấn H pH bồi thường thiệt hại liên quan nên HĐXX
không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng là 01 xe ô tô tải (có mui), nhãn hiệu
HUYNDAI, biển kiểm soát 81H-009.76, số máy: D6CA4089210, số khung:
KMFPA18SP4C033745, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Võ Văn
H6, sinh năm 1979 ở tổ 3, phường P, thị xã K, tỉnh Gia Lai; 01 xe đạp màu sơn
màu hồng, trên khung xe có nhãn hiệu “PLGM” là của gia đình cháu Trần Thị
H1; 01 xe đạp màu sơn hồng, trên khung xe có chữ “Vinabike” là của gia đình
cháu Trần Hoàng L1. Ngày 06/7/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý
8
vật chứng trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu, HĐXX xét thấy là phù hợp với
quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Tấn H phải
chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333
của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn H 01 ( một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách 03 ( ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân
dân phường TS, thị xã K, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử
thách.
Trường hợp bị cáo Lê Tấn H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy
định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách,
nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi
hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Tấn H phải
chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015.
Bị cáo, đại diện bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản
án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
9
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều
7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
-TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
-VKSND, CA, Chi cục THADS huyện LG;
-Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
-Cổng TTĐT Tòa án;
-Bị cáo;
-UBND nơi bị cáo cư trú;
-Lưu hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm