Bản án số 84/2020/DS-PT ngày 11/06/2020 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 84/2020/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 84/2020/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 84/2020/DS-PT ngày 11/06/2020 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Hà Nội |
| Số hiệu: | 84/2020/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án dân sự về việc “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ” |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 84/2020/DS-PT
Ngày: 11/6/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Ông Nguyễn Vũ Đông.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly - Thư ký Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội,
mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 221/2019/TLPT-
DS ngày 12 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ”, do có
kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với
Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2019/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Toà án
nhân dân thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3789/2020/QĐ-PT ngày 21 tháng
5 năm 2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: 173A Kim M, phường Kim M,
quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
2. Ông Nguyễn Thế S, sinh năm 1958; địa chỉ: 173A Kim M, phường Kim M,
quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Thế X, sinh năm 1961; địa chỉ: 173 Kim M, phường Kim M,
quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 21, ngõ 43 phố Liễu Gi,
quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1966; địa chỉ: P501, cụm 15, tổ 25, phường
Cống V, quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
6. Bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1968. Hiện ở Cộng hòa Liên bang Nga; vắng
mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông S, ông X, bà Th, ông Hà, bà Th1: Bà
Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: 173A Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ,
thành phố Hà Nội; có mặt.
* Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Thế S1, sinh năm 1937; vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1940; có mặt.
Địa chỉ: Nhà số 16, ngõ 82, ngách 208 phố Kim M, phường Kim M, quận
Ba Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Đức M1 -
Văn phòng luật sư Đức Tùng và cộng sự, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Thế D, sinh năm 1974; có mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Th2, sinh năm 1976; vắng mặt.
3. Cháu Nguyễn Thế Đ1, sinh năm 1999; vắng mặt.
4. Cháu Nguyễn Bảo Ng, sinh năm 2001; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số 173B Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, thành phố Hà
Nội.
5. Anh Nguyễn Thế Th3, sinh năm 1971; vắng mặt.
6. Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1970; vắng mặt.
7. Cháu Nguyễn Kiều O, sinh năm 1996; vắng mặt.
8. Cháu Nguyễn Kiều A, sinh năm 2000; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số nhà 16, ngõ 82, ngách 208 phố Kim M, phường Kim M,
quận Ba Đ, thành phố Hà Nội.
9. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1943; địa chỉ: Số 01 dãy B Tập thể Trường
Đại học Môi trường công nghệ, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố
Hà Nội; vắng mặt.
10. Chị Lê Thanh Ng1, sinh năm 1991; vắng mặt.
11. Anh Lê H3, sinh năm 1983; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số 173 Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, thành phố Hà
Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H2, chị Ng1, anh H3: Bà Nguyễn
Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: số 173A Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, thành
phố Hà Nội; có mặt.
12. Chị Hoàng Thanh Th4, sinh năm 1971; địa chỉ: địa chỉ: số 173A Kim
M, phường Kim M, quận Ba Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2017 và lời khai tại Tòa án, các nguyên
đơn do bà Nguyễn Thị L đại diện trình bày:
3
Bố mẹ của các nguyên đơn là cụ Nguyễn Thế B (chết năm 2001) và cụ
Nguyễn Thị K (chết năm 2008) có 07 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Nh, bà
Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thế S, ông Nguyễn Thế X, bà Nguyễn Thị Th, ông
Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Thị Th1.
Bà Nguyễn Thị Nh chết năm 2015, có chồng là ông Lê Văn H2 và 2 con là
chị Lê Thanh Ng1 và anh Lê H3.
Năm 1955 bố mẹ của các nguyên đơn mua 3 gian nhà cấp 4 mang số 53A,
53B và 53C Kim M, Ba Đ, Hà Nội của cụ Phạm Văn Ngh được xây dựng trên
thửa đất có diện tích 177m
2
. Việc mua bán có thị thực của đại diện khối 52 tiểu
khu Kim M. Hiện nay, nhà đất trên mang số 173A, 173B và 173C Kim M, quận
Ba Đ, thành phố Hà Nội.
Cụ Nguyễn Thế B và ông Nguyễn Thế S1 là anh em ruột, khi ông nội mất,
bà nội đi lấy chồng ở miền Nam, cụ B phải đi làm thuê để nuôi ông S1. Khoảng
năm 1960, ông S1 lấy vợ là bà Nguyễn Thị Bích Ph, bố mẹ nguyên đơn đã cưới
vợ cho ông S1 và cho vợ chồng ông S1 ở nhờ gian nhà 53B Kim M, gia đình
nguyên đơn ở tại gian nhà 53A và 53C Kim M, năm 1963 cụ B cho vợ chồng cụ
Lê Thị M1 ở nhờ gian nhà 53C Kim M. Tại thời điểm bố mẹ nguyên đơn cho gia
đình ông S1 ở nhờ nhà 53B Kim M thì chỉ nói miệng với nhau, không có giấy tờ
gì. Tuy nhiên, năm 1996 khi Nhà nước giải phóng mặt bằng mở rộng đường Kim
M, vợ chồng ông S1, bà Ph cũng đã viết giấy thừa nhận là ở nhờ nhà của cụ
Nguyễn Thế B (bố các nguyên đơn) và có xác nhận của Chủ tịch UBND phường
Kim M. Gia đình nguyên đơn đã đóng thuế đất từ năm 1958 đến nay.
Nhà 53B Kim M (nay là 173B Kim M) là của bố mẹ nguyên đơn cho ông
Nguyễn Thế S1 và bà Nguyễn Thị Bích Ph ở nhờ từ năm 1960 là nhà cấp 4 diện
tích khoảng 20m
2
, quá trình sử dụng gia đình ông S1, bà Ph đã làm thêm gác xép,
mái lợp tôn, phần gác xép phía sau nhà có lồng sắt (sàn thép, lát gỗ, trên mái lợp
tôn) đua ra ngõ. Hiện nay, gia đình ông S1, bà Ph đã có nhà ở riêng, còn nhà đất
số 173B Kim M hiện đang do gia đình anh Nguyễn Thế D (con trai ông S1, bà
Ph) đang quản lý sử dụng, anh D đã cho chị Hoàng Thanh Th4 thuê gian nhà tầng
1 để mở cửa hàng bán quần áo. Trong khi phía nguyên đơn có khó khăn về nhà ở
(ông Nguyễn Thế X không có nhà để ở). Sau rất nhiều lần hai bên gia đình bàn
bạc về việc yêu cầu gia đình ông S1, bà Ph trả nhà cho nguyên đơn nhưng không
giải quyết được.
Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông S1, bà Ph phải trả lại toàn
bộ nhà đất số 173B Kim M, Ba Đ, Hà Nội cho đồng nguyên đơn. Nguyên đơn sẽ
thanh toán cho gia đình ông S1, bà Ph toàn bộ giá trị cải tạo sửa chữa nhà số 173B
Kim M theo định giá của Hội đồng định giá. Đề nghị Tòa án hủy Hợp đồng thuê
nhà xác lập ngày 01/01/2018 giữa chị Hoàng Thanh Th4 và anh Nguyễn Thế D đối
với diện tích tầng 1 nhà số 173B Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội.
4
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thế S1, bà Ngụvễn Thị Bích Ph do bà Ph trình bày:
Bà kết hôn với ông Nguyễn Thế S1 năm 1958, khi đó bố chồng đã mất còn mẹ
chồng đã kết hôn với người khác và ở riêng. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà ở cùng
với anh chồng và chị dâu là Nguyễn Thế B và Nguyễn Thị K tại nhà số 53 Kim
M. Ngôi nhà lúc đó gồm 3 gian, cụ B, cụ K ở 2 gian, còn vợ chồng bà ở 1 gian
(nay là nhà số 173B Kim M, Ba Đ, Hà Nội). Năm 1996 khi Nhà nước giải phóng
mặt bằng mở rộng đường Kim M đã thu hồi của gia đình bà 1,6m
2
nhà và bồi
thường cho gia đình số tiền 10.003.250 đồng, còn gia đình cụ B, cụ K nhận tiền
bồi thường đối với toàn bộ diện tích sân chung, bếp chung bị Nhà nước thu hồi.
Quá trình sử dụng nhà, gia đình bà đã sửa chữa, cải tạo nhà nhiều lần, năm 2002
gia đình bà xây dựng lại nhà 173B Kim M như hiện nay.
Hiện nay, gia đình anh Nguyễn Thế D (con trai) đang ở nhà số 173B Kim
M, còn vợ chồng bà ở cùng với gia đình Nguyễn Thế Th3 (con trai) tại nhà số 16,
ngõ 82, ngách 208 phố Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội. Bà Ph không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện đòi nhà của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo về việc cung cấp tài
liệu, chứng cứ số 856/2018/TB-TA ngày 06/8/2018 và Thông báo số
1476/2018/TB-TA ngày 13/12/2018 yêu cầu gia đình ông S1, bà Ph cung cấp tài
liệu, chứng cứ chứng minh về quyền sở hữu nhà, sử dụng đất tại 173B Kim M và
việc xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà nhưng gia đình ông S1, bà Ph không cung
cấp. Bà Ph xuất trình tài liệu về phương án đền bù giải phóng mặt bằng mở đường
Kim M năm 1996 của UBND quận Ba Đình.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thế D khai: Bố mẹ anh ở nhà số 53B Kim M (nay là nhà số
173B Kim M), Ba Đ, Hà Nội từ trước năm 1960 cho đến nay gia đình anh vẫn ở
tại nhà đất này. Từ khi gia đình anh ở nhà 53B Kim M đến nay, anh chưa bao giờ
được nghe bố mẹ anh hay ai nói về việc gia đình anh ở nhờ nhà đất của cụ B. Gia
đình anh không đóng thuế nhà đất và không biết ai đóng thuế đối với nhà đất nói
trên.
Hiện nay, anh đang cho chị Hoàng Thanh Th4 thuê diện tích tầng 1 nhà số
173B Kim M để mở cửa hàng bán quần áo, hai bên ký kết Hợp đồng thuê nhà
ngày 01/01/2018; thời hạn thuê nhà là 03 năm (từ ngày 01/01/2018 đến ngày
01/01/2021); giá thuê nhà 18.000.000đ/tháng và trả tiền thuê nhà 06 tháng một
lần. Sau khi thuê nhà, chị Th4 không phải sửa sang gì thêm vì trước đó anh đang
kinh doanh cửa hàng quần áo và anh không nhận khoản tiền sang nhượng cửa
hàng nào của chị Th4. Hiện nay, những người đang ở tại nhà 173B Kim M gồm
có: Vợ chồng anh cùng hai con và chị Th4 đang thuê của hàng. Anh D không
đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Anh Nguyễn Thế Th3, chị Nguyễn Thị Th2, chị Nguyễn Thị Hồng H1,
cháu Nguyền Thế Đ1, cháu Nguyễn Bảo Ng, cháu Nguyễn Kiều O và cháu
5
Nguyễn Kiều A (là các con trai, con dâu, cháu của bị đơn) đã được Tòa án tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ án nhiều
lần, nhưng không có mặt. Chị Nguyễn Thị Hồng H1 (vợ anh Th3) có lời khai từ
chối tham gia tố tụng, còn các đương sự khác không có lời khai.
- Chị Hoàng Thanh Th4 khai: Chị thuê gian nhà tầng 1 nhà số 173B Kim
M, quận Ba Đ, Hà Nội của anh Nguyễn Thế D (con trai ông S1, bà Ph) để mở cửa
hàng bán quần áo, hai bên ký kết Hợp đồng thuê nhà ngày 01/01/2018; thời hạn
thuê nhà là 03 năm (từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/01/2021); giá thuê nhà
18.000.000đ/tháng và trả tiền thuê nhà 06 tháng một lần. Trước đó, anh D đang
mở cửa hàng bán quần áo nên anh D đã nhượng lại cửa hàng cho chị với giá
50.000.000 đồng, sau đó chị đã sửa sang cửa hàng với chi phí khoảng 30.000.000
đồng. Trường hợp phải trả lại nhà cho nguyên đơn, chị yêu cầu thanh toán cho chị
số tiền sang nhượng cửa hàng là 50.000.000 đồng và chi phí sửa sang cưa hàng là
30.000.000 đồng.
Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu chị Th4 cung cấp các tài liệu, chứng cứ
việc chị Th4 sửa sang cửa hàng khi thuê nhà và trả tiền sang nhượng cửa hàng
cho anh D , nhưng chị Th4 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu
của Tòa án.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2019/DSST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội quyết định áp dụng Điều 4, 5 Nghị quyết số 58/1998/NQ-
UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch nhà ở
được xác lập trước ngày 01/7/1991; Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch nhà ở
được xác lập trước ngày 01/7/1991 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 357, khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 118, Điều 119, Điều 131 Luật nhà ở; Điều 147,
Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều
12, Điều 15, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nhà số 173B Kim M, phường Kim M,
quận Ba Đ, Hà Nội của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thế S, ông Nguyễn Thế
X, bà Nguyễn Thị Th, ông Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Thị Th1 do bà Nguyễn
Thị L đại diện đối với ông Nguyễn Thế S1 và bà Nguyễn Thị Bích Ph.
Buộc ông Nguyễn Thế S1, bà Nguyễn Thị Bích Ph, anh Nguyễn Thế D, chị
Nguyễn Thị Th2, cháu Nguyễn Thế Đ1, cháu Nguyễn Bảo Ng, chị Hoàng Thanh
Th4 và những người đang sử dụng nhà phải trả lại toàn bộ nhà đất (diện tích
23,81m
2
) tại số 173B Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội cho bà Nguyễn
Thị L, ông Nguyễn Thế S, ông Nguyễn Thế X, bà Nguyễn Thị Th, ông Nguyễn
Thế Hà, bà Nguyễn Thị Th1, ông Lê Văn H2, chị Lê Thanh Ng1 và anh Lê H3 do
bà Nguyễn Thị L đại diện.
6
2. Ghi nhận tự nguyện của bà Nguyễn Thị L (người đại diện của các nguyên
đơn) thanh toán giá trị xây dựng nhà số 173B Kim M, phường Kim M, quận Ba
Đ, Hà Nội cho gia đình ông Nguyễn Thế S1 và bà Nguyễn Thị Bích Ph số tiền là
67.133.250đ ( Sáu mươi bẩy triệu, một trăm ba mươi ba nghìn, hai trăm năm mươi
đồng).
3. Hủy Hợp đồng thuê nhà xác lập ngày 01/01/2018 giữa chị Hoàng Thanh
Th4 và anh Nguyễn Thế D.
Giành quyền khởi kiện giải quyết hậu quả của việc hủy Hợp đồng thuê nhà
giữa chị Hoàng Thanh Th4 và anh Nguyễn Thế D bằng vụ án khác khi đương sự
có yêu cầu.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2019, bị đơn là ông Nguyễn Thế S1, bà
Nguyễn Thị Bích Ph và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh
Nguyễn Thế D, chị Nguyễn Thị Th2, cháu Nguyễn Thế Đ1, cháu Nguyễn Bảo
Ng; anh Nguyễn Thế Th3, chị Nguyễn Thị Hồng H1, cháu Nguyễn Kiều O, cháu
Nguyễn Kiều A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử bác
kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn giữ nguyên
nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đều
chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm trong
hạn luật định được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xem xét theo thủ tục phúc
thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Nguồn gốc 3 gian nhà cấp 4 mang biển số 53A, 53B, 53C
Kim M, Ba Đ, Hà Nội (nay là số 173A, 173B, 173C Kim M) là của cụ Ngh chuyển
nhượng cho cụ B và cụ K. Về thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhà chưa hoàn
tất nhưng hai bên đã lập giấy tờ mua bán, có thị thực của UBHC Kim M. Xác định
nhà đất trên cụ B và bà L đóng thuế thổ trạch đến năm 2013 nên Tòa án cấp sơ
thẩm căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày
20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch nhà ở được xác lập trước
ngày 01/7/1991 và điểm a khoản 3 Mục III Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện
7
kiểm sát nhân dân tối cao công nhận hợp đồng mua bán giữa cụ B và cụ Ngh xác
định nhà đất trên thuộc quyền sở hữu của cụ B, cụ K. Mặt khác, năm 1996, khi
Nhà nước giải phóng mặt bằng mở rộng đường thì cụ S1, cụ Ph đã ký Giấy xác
nhận của hộ đang ở ngày 09/9/1996 có nội dung “Tôi đang ở là đất của ông B” và
ngày 20/11/1996 UBND phường Kim M xác nhận “Ba hộ trên đã hòa giải xong
và đã ký tên”. Cụ Ph cho rằng nhà đất năm 1996 khi Nhà nước giải phóng mặt
bằng mở rộng đường, ngày 20/11/1996 UBND phường Kim M xác nhận “Ba hộ
trên đã hòa giải xong và đã ký tên” theo Quyết định giải phóng mặt bằng số
683/QĐ-UB ngày 23/9/1996 và Quyết định 984/QĐ-UB ngày 14/10/1996 của
UBND quận Ba Đ thể hiện: Gia đình vụ Ph bị thu hồi 1,6m
2
nhà và được bồi
thường 10.003.250 đồng, gia đình cụ B, ông Hà bị thu hồi 34,73m
2
đất ở 53 Kim
M và được bồi thường 285.546.830 đồng nhưng quá trình giải quyết vụ án cụ Ph
không đưa ra được các tài liệu chứng minh nhà đất trên là của cụ. Do vậy Tòa án
cấp sơ thẩm đã buộc cụ S1, cụ Ph phải trả lại đất cho các đồng nguyên đơn là đúng
pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, sau kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
làm trong hạn luật định đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
1. Về nguồn gốc nhà, đất tại 173B Kim M, Ba Đ, Hà Nội:
Bà Nguyễn Thị L (đại diện của các đồng nguyên đơn) khai: Năm 1955 bố
mẹ bà là cụ Nguyễn Thế B và cụ Nguyễn Thị K mua 3 gian nhà cấp 4 mang biển
số nhà 53A, 53B, 53C Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội (nay là nhà số 173A, 173B,
173C Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội) của cụ Phạm Văn Ngh. Khi mua nhà, bố mẹ
bà có lập giấy tờ mua bán, có xác nhận của đại diện khối 52 tiểu khu Kim M. Ba
gian nhà này được cụ Ngh làm nhà trên thửa đất số 25, tờ bản đồ số 1, làng Kim
M diện tích 177m
2
của cụ Nguyễn Thị Nh mang Bằng khoán điền thổ số 23 lập
ngày 16/6/1944. Bà L xuất trình Giấy bán nhà ngày 29/4/1955 có nội dung: Cụ
Phạm Văn Ngh xác nhận bán cho cụ Nguyễn Thế B 1 nhà gạch 3 gian, 1 nửa lợp
tôn, 1 nửa lợp danh làm trên đất của cụ Nguyễn Thị Nhân với giá 200.000 đồng,
có thị thực của UBHC Kim M ngày 30/4/1955. Như vậy, có căn cứ xác định vợ
chồng cụ B, cụ K đã mua mua 3 gian nhà cấp 4 mang biển số nhà 53A, 53B, 53C
Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội (nay là nhà số 173A, 173B, 173C Kim M, quận Ba
Đ, Hà Nội) của cụ Ngh. Tuy thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhà chưa hoàn
tất, nhưng hai bên đã lập Giấy tờ mua bán, có thị thực của UBHC Kim M. Hợp
đồng mua bán nhà giữa cụ Ngh và cụ B đến nay không có tranh chấp, theo quy
định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998
8
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch nhà ở được xác lập trước ngày
01/7/1991 và điểm a khoản 3 Mục III Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thì Hợp đồng mua bán nhà này được công nhận. Do đó
nhà 3 gian nêu trên thuộc quyền sở hữu của vợ chồng cụ B, cụ K.
2. Về quyền sử dụng đất: Tại Công văn số 5789/TNMT-NĐ-TCHC ngày
26/11/2007 của Sở Tài nguyên Môi trường & Nhà đất Hà Nội và Trích lục bản đồ
của nhà số 53ABC thể hiện: Nhà 53 Kim M nằm trên thửa đất số 25, tờ bản đồ số
1, làng Kim M, thửa đất có diện tích 177m
2
đứng tên cụ Nguyễn Thị Nhân đăng
ký năm 1944. Sau khi cụ Nhân chết, bà Nguyền Thị Tái (là con dâu của cụ Nhân)
là người đang quản lý đất của cụ Nhân có đơn ngày 23/5/1963 gửi Ủy ban hành
chính khu Ba Đ xin giao cho Nhà nước quản lý thửa đất tại 53A,B,C Kim M theo
quy định tại Thông tư số 73/TTG ngày 07/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy
nhiên cơ quan Nhà nước chưa có văn bản quản lý. Ngày 12/5/1965 cụ B có Giấy
xin sử dụng đất số 593/QLĐ-HS 22BĐ xin được sử dụng từ ngày 01/01/1965 thửa
đất số 25, tờ bản đồ số 1 khu Kim M diện tích 177m
2
tọa lạc tại 53A phố Kim M
khối 52, khu Ba Đ trên có 1 nhà gạch của cụ Nguyễn Thế B mua của cụ Phạm
Văn Ngh ngày 29/4/1955 chưa trước bạ, cụ B đã sử dụng từ năm 1955. Giấy
không có ký duyệt của Sở quản lý nhà đất cho sử dụng.
Thực tế, từ năm 1955 đến nay cụ B và các con cụ B là người nộp thuế nhà,
đất trong khi chủ sử dụng đất cũ đã từ bỏ quyền lợi của mình. Do đó, có đủ cơ sở
xác định vợ chồng cụ B, cụ K có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích
đất khuôn viên theo nhà.
Năm 1996 khi Nhà nước giải phóng mặt bằng mở rộng đường thì ông S1
bà Ph đã ký Giấy xác nhận của hộ đang ở ngày 09/9/1996 có nội dung “Tôi đang
ở là đất của ông B” và ngày 20/11/1996 UBND phường Kim M xác nhận “Ba hộ
trên đã hòa giải xong và đã ký tên”. Theo Quyết định giải phóng mặt bằng số
683/QĐ-UB ngày 23/9/1996 và 894/QĐ-UB ngày 14/10/1996 của UBND quận
Ba Đ thể hiện: Gia đình bà Ph bị thu hồi l,6m
2
nhà và được bồi thường số tiền là
10.003.250 đồng, gia đình cụ B ông Hà bị thu hồi 34,73m
2
đất ở 53 Kim M và
được bồi thường số tiền là 285.546.830 đồng.
Từ nhận định trên, có đủ cơ sở xác định vợ chồng cụ B, cụ K có quyền sở
hữu, sử dụng nhà đất số 53B Kim M (nay là nhà số 173B Kim M), phường Kim
M, quận Ba Đ, Hà Nội.
3. Đối với yêu cầu đòi nhà của nguyên đơn:
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bích Ph, anh Nguyễn Thế D (con ông S1, bà Ph)
không đồng ý trả nhà cho nguyên đơn với lý do gia đình bị đơn đã ở nhà đất số
53B Kim M (nay là 173B Kim M) từ trước năm 1960 đến nay đã mấy chục năm,
nhưng gia đình ông S1, bà Ph cũng không đưa ra được bất cứ tài liệu nào chứng
minh gia đình ông S1, bà Ph có quyền sở hữu sử dụng nhà đất số 173B Kim M.
9
Hiện nay gia đình anh Nguyễn Thế D (con trai ông S1, bà Ph) đang ở số
nhà 173B Kim M, còn ông S1 bà Ph đang ở cùng gia đình anh Nguyễn Thế Th3
(con trai) tại nhà số 16, ngõ 82, ngách 208 phố Kim M, phường Kim M, quận Ba
Đ, Hà Nội.
Những người đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà số 173B Kim M gồm có:
Ông S1, bà Ph, vợ chồng anh Th3, chị Th2 cùng hai con và vợ chồng anh D, chị
H1 cùng hai con.
Như vậy, vợ chồng cụ B, cụ K có quyền sở hữu, sử dụng nhà đất số 173B
Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội. Gia đình ông S1 bà Ph đã có nhà ở
riêng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên
đơn, buộc gia đình bị đơn và những người đang sử dụng nhà phải trả lại toàn bộ
nhà đất tại số 173B Kim M cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thế S, ông Nguyễn
Thế X, bà Nguyễn Thị Th, ông Nguyễn Thế Hà, bà Nguyễn Thị Th1, ông Lê Văn
H2, chị Lê Thanh Ng1 và anh Lê H3 (do bà Nguyễn Thị L đại diện) là có căn cứ,
đúng pháp luật.
4. Về việc xây dựng, sửa chữa nhà số 173B Kim M :
Theo biên bản xem xét, thẩm định và định giá tài sản ngày 18/10/2018 thể
hiện: Nhà số 173B Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, thành phố Hà Nội là nhà
01 tầng diện tích là 23,81m
2
, có gác xép, mái lợp tôn, tường xây 220, cao trên 3m,
có khu phụ. Phần gác xép phía sau nhà có lồng sắt (sàn thép, lát gỗ, trên mái lợp
tôn) đua ra ngõ rộng khoảng 60cm, diện tích là 2,04m. Tổng giá trị xây dựng nhà
là 67.133.250 đồng.
Nguyên đơn do bà L đại diện khai: Bố mẹ bà cho ông S1, bà Ph ở nhờ nhà
từ năm 1960 là nhà cấp 4, quá trình sử dụng gia đình ông S1, bà Ph đã cải tạo, sửa
chữa nhà như hiện nay. Bị đơn là bà Ph và con trai là anh D khai: Gia đình bà đã
sửa chữa, cải tạo nhà nhiều lần, năm 2002 gia đình bà xây dụng lại nhà 173B Kim
M như hiện nay, nhưng bị đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng
minh. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L đã tự nguyện thanh toán cho gia đình bị đơn
toàn bộ giá trị xây dụng nhà số 173B Kim M theo định giá của Hội đồng định giá,
do đó Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận tự nguyện của bà L (đại diện cho các nguyên
đơn) thanh toán cho gia đình ông S1 và bà Ph toàn bộ giá trị xây dựng nhà số
173B Kim M, phường Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội, số tiền là 67.133.250 đồng là
có căn cứ, đúng pháp luật.
5. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Hợp đồng thuê nhà giữa chị
Hoàng Thanh Th4 và anh Nguyễn Thế D.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, nên cần phải hủy Hợp
đồng thuê nhà xác lập ngày 01/01/2018 giữa chị Hoàng Thanh Th4 và anh Nguyễn
Thế D đối với gian nhà tầng 1 nhà số 173B Kim M, quận Ba Đ, Hà Nội.

10
Chị Th4 là người thuê nhà của anh D đề nghị trong trường hợp phải trả lại
nhà cho nguyên đơn, chị yêu cầu anh D phải thanh toán cho chị số tiền sang
nhượng cửa hàng là 50.000.000 đồng và chi phí sửa sang cửa hàng là 30.000.000
đồng, nhưng chị Th4 không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và không có
đơn đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu độc lập theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giành quyền khởi kiện giải quyết hậu quả của
việc hủy hợp đồng thuê nhà chị Th4 và anh D bằng vụ án khác khi đương sự có
yêu cầu là có căn cứ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham
gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
6. Về án phí: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo
không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thế S1, bà Nguyễn
Thị Bích Ph và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế D,
chị Nguyễn Thị Th2, cháu Nguyễn Thế Đ1, cháu Nguyễn Bảo Ng, anh Nguyễn
Thế Th3, chị Nguyễn Thị Hồng H1, cháu Nguyễn Kiều O và cháu Nguyễn Kiều
A; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2019/DS-ST ngày 14/5/2019 của Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Thế S1, bà Nguyễn Thị Bích Ph, anh Nguyễn Thế
D, chị Nguyễn Thị Th2, cháu Nguyễn Thế Đ1, cháu Nguyễn Bảo Ng, anh Nguyễn
Thế Th3, chị Nguyễn Thị Hồng H1, cháu Nguyễn Kiều O và cháu Nguyễn Kiều A
mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Bích Ph đã nộp án phí dân sự phúc thẩm tại Biên
lai số 0013276 ngày 20/6/2019 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND Tp Hà Nội;
- VKSND Tp Hà Nội;
- Cục THADS Tp Hà Nội;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HS, HCTP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tự Học
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm