Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Sơn Dương (TAND tỉnh Tuyên Quang)
Số hiệu: 83/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh D với chị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26/9/2024
Về việc: “Không công nhận quan hệ vợ
chồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh Uyên và bà Đinh Thị Hạnh.
- Thư phiên toà: Ông Hoàng Thế Anh - Thư Tòa án nhân dân huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tán nhân dân huyện Sơn Dương
mở phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
403/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, về việc “Không công nhận
quan hệ vợ chồng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-
HNGĐ, ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Anh Trịnh Văn D, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn R, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Thôn R, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
(Anh D1 và chị H đều có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H về chung
sống với nhau từ cuối năm 1990 trên sở được tự do tìm hiểu, yêu thương nhau
được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi
về chung sống với nhau anh chị chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND
theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới anh chị về sinh sống làm việc tại thôn
R, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống hạnh phúc được vài năm đầu, đến
năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình, suy nghĩ
không hiểu nhau, vợ chồng thiếu lòng tin vào nhau dẫn đến vợ chồng thường
xuyên xảy ra cãi vã, chửi nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Trịnh
2
Văn D đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết
cho anh được ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) với chị Nguyễn Thị H.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết, nguyên đơn anh
Trịnh Văn D trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính
nh, suy nghĩ không hiểu nhau, vợ chồng thiếu lòng tin vào nhau dẫn đến vợ
chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi nhau, xích mích. Hiện nay anh chị H
đang sống ly thân. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh với chị
Nguyễn Thị H chưa đăng kết hôn chỉ về chung sống như vợ chồng nên yêu
cầu Tòa án không công nhận anh và chị Nguyễn Thị H là vợ chồng.
Tại Bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Nguyên nhân mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình, suy nghĩ không hiểu nhau, anh D
ham chơi không chịu khó làm ăn kinh tế gia đình, anh D đi theo người phụ nữ
khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi nhau, ch mích. Hiện
nay anh chị đang sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn,
nhất trí đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị anh Trịnh
Văn D do anh chị chưa có đăng ký kết hôn mà chỉ về chung sống như vợ chồng.
- Về con chung: Anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H 01 người con
chung Trịnh Hoàng Tuấn V, sinh ngày 18/01/1991. Quá trình giải quyết anh D
chị H cùng quan điểm cháu V đã trưởng thành, xây dựng gia đình riêng nên
anh chị không đề nghị Toà án giải quyết.
- Về tài sản, đất đai chung: Anh Trịnh n D và chị Nguyễn Thị H xác định
tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Anh Trịnh Văn D chNguyễn Thị H xác định không
có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Kết quả xác minh thể hiện: Anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H đăng
hộ khẩu thường trú tại thôn R, S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị về
chung sống với nhau từ năm 1990 trên cơ sở được tự do tìm hiểu, yêu thương nhau
và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không
làm thủ tục đăng kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới anh chị
sinh sống làm việc tại thôn R, S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung
sống thời gian đầu hạnh phúc sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất
đồng quan điểm, có to tiếng cãi vã, xích mích. Hiện nay anh D và chị H đang sống
ly thân. Tại sổ đăng kết hôn do UBND S lưu trữ từ trước tới nay không
tên anh Trịnh Văn D và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo
đúng quy định.
Về việc giải quyết ván, anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H kết hôn
vào năm 1990 trên sở tự nguyện, t do tìm hiểu. Quá trình chung sống vợ
chồng hạnh phúc thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn, hiện anh chđang sống
3
ly thân. Do anh chị không đăng kết hôn tại UBND cấp theo quy định nên
xác định hôn nhân của anh chị không hợp pháp. Căn cứ vào Điều 8, 14, 53 Luật
Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX tuyên bố không công nhận anh Trịnh Văn D
chị Nguyễn Thị H vợ chồng; Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Các đương
sự không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí
tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng
Theo đơn khởi kiện thể hiện anh Trịnh Văn D đề nghị Tòa án giải quyết
không công nhận anh chị Nguyễn Thị H vợ chồng; không đề nghị giải quyết
về con chung, tài sản, công nợ chung. Do vậy quan hệ pháp luật đây được xác
định “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, ván thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Điều
28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, các đương sự anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H vắng
mặt, đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt
nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Văn D và chNguyễn Thị H về chung
sống với nhau từ năm 1990 trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện chung sống, được
hai bên gia đình tổ chức lcưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng
kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh
phúc sau phát sinh mâu thuẫn. Xác định tình cảm vchồng không còn anh Trịnh
Văn D chị Nguyễn Thị H cùng quan điểm đnghị Tòa án giải quyết không
công nhận anh chị là vchồng. Theo kết quả xác minh thể hiện tại sổ đăng kết
hôn do UBND xã S lưu trữ từ trước đến nay không có tên anh Trịnh Văn D chị
Nguyễn Thị H đăng kết hôn. Căn cứ kết quả xác minh lời khai của các
đương sự xác định hôn nhân của anh D và chị H không đăng ký kết hôn.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình quy định: Nam, nữ đủ
điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vchồng
không đăng kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ
chồng” tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Trong
trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên
bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật
này…”. Như vậy, anh D chị H sống với nhau từ năm 1990 đến nay không
đăng kết hôn, hôn nhân của anh chị không được pháp luật công nhận vợ
chồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 8, 14, 53 Luật Hôn nhân gia đình, tuyên
4
bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị
H.
[3]. Về con chung: Anh Trịnh Văn D và chị Nguyễn Thị H có 01 người con
chung cháu Trịnh Hoàng Tuấn V, sinh ngày 18/01/1991 đã trưởng thành các
đương sự không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về tài sản, đất đai chung: Anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H đều
xác định tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xkhông xem
xét.
[5]. Về vay nợ chung: Anh Trịnh Văn D chị Nguyễn Thị H đều xác định
không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Anh Trịnh Văn D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn thẩm
theo quy định pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 144; 147; 227; 228; 266; 271 và 273 của B
luật Tố tụng dân sự; các Điều 8; 14; 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ n nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh
Trịnh Văn D và chị Nguyễn Thị H.
2. Về án phí: Anh Trịnh Văn D phải chịu án phí ly n thẩm 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001486 ngày
30 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương Giấy
thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000001777807, ngày 30 tháng 8 năm
2024 của Công ty cổ phần T. Anh Trịnh Văn D đã nộp đủ án phí của vụ án.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết./.
Nơi nhận
- TAND tỉnh TQ;
- VKSND huyện SD;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
- UBND xã S (để biết);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Toà án;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Tạ Hồng Chiến
5
Tải về
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất