Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 79/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thủ Dầu Một (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 79/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-7-2024
V/v: Tranh chấp chia tài sản chung,
nợ chung sau khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Trí;
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n thành phThủ Dầu Một tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Kim Hằng Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 m 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một,
tỉnh Bình Dương xét xử thẩm công khai ván thụ số 396/2023/TLST-HNGĐ ngày
10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s69/2024/QĐXXST-HNngày 08 tháng 7 m
2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1985; địa chỉ: I đường Đ, Tổ E,
Khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị Trường A, sinh năm
1991; địa chỉ: Số E Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình ơng người đại diện
theo ủy quyền của Nguyễn Thị Kiều T (theo văn bản ủy quyền ngày 21/9/2023), có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Việt H-
Công tác tại Chi nhánh văn phòng L2, thuộc đoàn luật tỉnh B, có đơn đề nghị t xử
vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T1, sinh m 1984; địa chỉ: Số I đường Đ, Tổ E,
Khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Phạm Thị Thanh T2, sinh năm 1987; địa
chỉ: Số B, Tổ A, Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình ơng người đại diện
theo y quyền của ông Nguyễn Thành T1 (theo văn bản y quyền ngày 25/10/2023),
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh T3, sinh m 1987;
địa chỉ: Khu phố N, thị trấn L, tỉnh Bình Phước, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 21/9/2023 qtrình giải quyết vụ án, đại diện
nguyên đơn Nguyễn Thị Trường A trình bày: Nguyễn Thị Kiều T và ông Nguyễn
Thành T1 vợ chồng nhưng do xảy ra mâu thuẫn nên đã ly hôn vào ngày 17/5/2023 tại
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Khi ly hôn, bà T và ông T1 không yêu cầu Tòa
án giải quyết về tài sản chung nợ chung. Sau khi ly hôn, do hai bên không thỏa thuận
được với nhau về tài sản riêng của T nợ chung của vợ chồng nên T phải khởi
kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết, cụ thể:
- Về tài sản:
+ Đối với đất diện tích 150,6m
2
, thửa đất số 1108, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại
phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN
CH02230 cấp cho Nguyễn Thị Kiều T ngày 24/5/2012. Đây tài sản riêng của T
ngày 24 tháng 3 m 2012 T hợp đồng chuyển nhượng để nhận chuyển nhượng
của ông Huỳnh Ngọc T4, Trịnh Thị L. Nguồn tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trên tiền của T bỏ ra thời điểm y giữa T ông T1 chưa đăng
kết hôn.
Mặc đây tài sản riêng của T nhưng sau khi kết hôn với ông T1, do muốn
căn nhà để sinh sống đất thì đất nông nghiệp nên T đã chuyển mục đích sử
dụng đất 100m
2
từ đất nông nghiệp lên đất (nợ tiền sử dụng đất), đến ngày 21/3/2016
bà T với ông T1 mới trả tiền nợ chuyển mục đích. Mặc dù tiền trả nợ chuyển mục đích
tiền chung của vợ chồng vợ chồng y dựng n nhà trên đất nhưng T không
nhập phần đất trên vào tài sản chung của vợ chồng. Do diện tích 150,6m
2
tài sản riêng
của bà T nênT yêu cầu Tòa án công nhận tài sản riêng của bà T. Bà T đồng ý hoàn trả
10% giá trị công sức đóng góp cho ông T1.
+ Đối với căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, bà T xác định đây là tài sản chung của vợ
chồng đã y dựng n đồng ý mỗi người ½. T yêu cầu được nhận bằng hiện vật
đồng ý hoàn trả bằng giá trị cho ông T1.
- Về nợ chung: Tiền nợ Ngân hàng N - Chi nhánh B - Phòng giao dịch T tiền
1.500.000.000đ vào m 2021. Kể từ khi ly hôn đến nay, T người trả nợ cho ngân
hàng nên T đồng ý trả toàn bộ số tiền 1.500.000.000đ cho ngân hàng yêu cầu ông
T1 hoàn trả lại cho bà T số tiền 750.000.000đ.
Tuy nhiên, hiện nay số tiền nợ của ngân ng, T đã vay của em trai ông
Nguyễn Anh T3 số tiền 1.528.800.000đ trả cho Ngân hàng, Ngân hàng đã giải chấp
nên nguyên đơn xác định Ngân hàng N không còn liên quan đến vụ án y. Việc T
khi vay tiền của ông T3, T đưa bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN
CH02230 cấp cho Nguyễn Thị Kiều T ngày 24/5/2012 để ông T3 làm tin.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu chia đôi số tiền nợ 1.500.000.000đ, yêu cầu ông T1
hoàn trả lại cho bà T số tiền 750.000.000đ để bà T trả cho ông T3.
3
* Đại diện bị đơn Phạm Thị Thanh T2 trình bày: Ông Nguyễn Thành T1
Nguyễn Thị Kiều T m hiểu nhau từ cuối năm 2010 và tự nguyện đi đến hôn nhân. Ngày
09/11/2011, tchức đám cưới nhà gái (gia đình T), đến ngày 10/12/2011, tổ chức
nhà trai (gia đình ông T1). Sau khi tổ chức đám ới, vợ chồng về sống chung với nhau,
đến ngày 28/4/2012 mới đăng ký kết hôn.
Sau khi tổ chức lễ cưới xong, T ông T1 một khoản tiền, vàng từ quà
mừng cưới của cha mẹ, họ hàng hai bên, bạn bè, người thân nên dùng số tiền này để
nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 150,6m
2
, thửa 1108, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại
phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương của vợ chồng ông Huỳnh Ngọc T4, Nguyễn
Thị L1 với giá 300.000.000đ.
Ngày 15/3/2012 ông T1 đã ký và đặt cọc số tiền cọc 10.000.000đ, đến ngày
24/3/2012 ông T1 cùng với T đến Văn phòng C để hợp đồng nhận chuyển nhượng
với ông Huỳnh Ngọc T4 Trịnh Thị L đối với phần đất trên. Tuy nhiên, do ông T1
làm nghề sửa y lạnh, cung cấp thức ăn cho cá (bán cám) bận rộn, còn T làm kế toán
ngân hàng, rành về thủ tục giấy tờ n ông T1 để cho T đứng tên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thuận tiện cho việc
làm các thủ tục giấy tờ. Khi giao tiền chuyển nhượng thì giao bằng tiền mặt, làm biên
nhận tiền nhưng do đã lâu nên ông T1 không còn lưu giữ. Đến ngày 24/5/2012, ông T1
T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Nguyễn Thị Kiều T đại diện
đứng tên.
Do phần đất trên đất nông nghiệp vợ chồng nhu cầu xây dựng nhà trên đất
để nên ngày 25/5/2012, bà T ông T1 đăng nợ tiền chuyển mục đích sử dụng đất
từ y lâu m lên thổ diện tích 100m
2
. Đến ngày 21/3/2016, ông T1 T đã hoàn
thành nghĩa vụ tài chính theo giấy nộp tiền thổ vào ngân sách nnước số 0000541
ngày 16/3/2016 của Kho bạc nhà nước tỉnh B. Ngày 24/3/2021, ông T1 T hợp
đồng thế chấp phần đất trên để vay Ngân hàng N - Chi nhánh B- Phòng giao dịch T tiền
1.500.000.000đ. Sau đó, do dịch bệnh Covid bùng phát, công việc làm ăn thua lỗ, nên
ông T quyết định bán xe ôtô để trả nợ Ngân hàng, số tiền bán được 680.000.000đ
ông T1 đưa cho bà T để trả nhưng ông T1 không nắm được T trả hay không rồi đến
nay bà T vẫn xác định đang còn nợ ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng.
Đến đầu m 2023, ông T1 T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn
gắn được. T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên đã đượca án nhân dân thành
phố Thủ Dầu Một chấp chận theo Bản án số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 17/5/2023. Khi
giải quyết ly hôn, bà T và ông T1 không yêu cầu chia tài sản chung.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà T, ông T1 có ý kiến như sau:
- Về tài sản: Đối với yêu cầu tuyên công nhận phần đất diện tích 150,6m
2
, thuộc
thửa 1108, tờ bản đồ 15, tọa lạc tại phường H, thành phố T tài sản riêng của T thì
ông T1 không đồng ý vì Quyền sử dụng đất nêu trên tài sản chung của T ông T1.
Nguồn tiền để nhận chuyển nhượng phần đất trên là của ông T1 và bà T trong thời kỳ hôn
nhân, tiền trả nợ chuyển mục đích quyền sử dụng đất cũng tiền của hai vợ chồng.
Chính quyền sử dụng đất tài sản chung vợ chồng nên khi hợp đồng thế chấp tài
sản để vay tiền cũng T ông T1 tên trong hợp đồng tín dụng hợp đồng thế
chấp. Đối với yêu cầu chia đôi căn nhà cấp 4 công trình y dựng trên đất, ông T1
đồng ý. Do nhà đất u trên tài sản chung của vợ chồng trong thời k hôn nhân, ông
T1 yêu cầu chia đôi i sản y yêu cầu được nhận bằng hiện vật nhà đất y hiện
4
ông T1 con gái sinh sống, nơi duy nhất để ông T1 kiếm sống (mở tiệm sửa y
lạnh). Mặc bản án ly hôn tuyên giao cho T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng
thực tế con gái với ông T1. T đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Do vậy ông không
đồng ý giao nhà đất cho bà T được quản lý, sử dụng.
- Về nợ chung: Đối với yêu cầu buộc ông thanh toán cho T 50% khoản nợ ngân
hàng, tương đương số tiền 750.000.000 đồng, ông không đồng ý ông đã bán xe đưa
toàn bộ số tiền này cho T trả nợ Ngân hàng, hàng tháng thu nhập của ông đều đã đưa
cho bà T để trả nợ Ngân hàng. Do vậy, ông không đồng ý yêu cầu này của bà T, ông cũng
không đồng ý đối trừ nghĩa vụ.
* Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 17/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Anh T3 trình bày: Từ tháng 11/2023, ông T3 cho T vay tiền để
trả tiền lãi Ngân ng N. Tính đến ngày 22/3/2024, ông cho T vay tổng số tiền
1.528.800.000đ để T trả nợ cho ngân hàng theo Giấy vay tiền đề ngày 22/3/2024, thời
hạn vay là 01 năm kể từ ngày 22/3/2024, lãi suất 2%/tháng. Khi vay bà T đưa cho ông
T3 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN CH02230 cấp cho Nguyễn Thị
Kiều T ngày 24/5/2012 để làm tin. Khi T trả hết nợ, ông T3 sẽ trả bản chính sổ đất
trên cho ông T3 chứ ông T3 không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ vụ án đúng thẩm
quyền. Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư
phiên tòa đã tiến nh đầy đủ các thủ tục ttụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố
Tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng quy định tại
các điều 70, 71, 228 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát
không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
+ Về mặt nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T đối với bị đơn ông Nguyễn Thành T1 về việc
tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kiều T loại việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân
sự; bị đơn ông Nguyễn Thành T1 có địa chỉ thường trú tại phường H, thành phố T nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định
tại điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về xác định cách của đương sự: Sau khi thụ vụ án, Tòa án đưa Ngân
hàng N vào tham gia ttụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy
nhiên, quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn đã tất toán toàn bộ khoản nvay cho
ngân hàng, phía Ngân hàng cũng xác định T ông T1 còn còn nợ tại Ngân hàng.
Do đó, ngày 03/6/2024 Tòa án đã ban hành Thông báo 396/TB-TLVA đưa Ngân hàng N
ra khỏi vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5
[3] Về nội dung:
[3.1] Đối với quyền sử dụng đất diện tích 150,6m
2
, thửa 1108, tờ bản đồ số 15, tọa
lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyễn Thị Kiều T ông Nguyễn Thành T1 vợ chồng, đã ly hôn theo Bản
án số 34/2023/HNGD-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố ThDầu Một,
phần tài sản chung nợ chung chưa giải quyết. T yêu cầu Tòa án xác định phần đất
diện tích 150,6m
2
, thửa 1108, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh
Bình ơng, theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN CH02230 cấp cho Nguyễn
Thị Kiều T ngày 24/5/2012 tài sản riêng của T. Bị đơn ông Nguyễn Thành T1 cho
rằng đây là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời k hôn nhân chứ không phải
tài sản riêng của T nên ông T1 yêu cầu chia đôi tài sản này, ông T1 yêu cầu nhận bằng
hiện vật.
Xét thấy: Theo như hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
150,6m
2
, thửa 1108, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương
thì ngày 24/3/2012 Nguyễn Thị Kiều T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với ông Huỳnh Ngọc T4, Nguyễn Thị L1 để nhận chuyển nhượng phần đất trên.
Thời điểm này giữa T ông T1 chưa đăng kết hôn, đến ngày 28/4/2012 giữa T
với ông T1 mới đăng kết hôn tại UBND phường M, TP L, tỉnh An Giang, đến ngày
24/5/2012 phần đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà T.
Mặc dù, thời điểm T hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/3/2012 chưa đăng
ký kết hôn. Tuy nhiên, giữa T ông T1 đã tổ chức đám cưới sống chung với nhau
trước đó. Theo như hình ảnh bị đơn cung cấp thì ngày 09/11/2011 hai bên đã tổ chức
đám cưới. Thậm chí, trong lịch xin vào đảng của T bị đơn cung cấp thì T
ghi tháng 12/2011 lập gia đình cùng chồng Nguyễn Thành T1, điều y hoàn toàn
thống nhất với lời trìnhy của bị đơn.
Mặt khác, theo như Giấy đặt cọc Phiếu thu ngày 15/3/2012 số tiền đặt cọc giữa
ông T1 với Công ty cổ phần Đ (bên môi giới) thì ông T1 người với cách bên đặt
cọc, mặc chỉ bản phô nhưng quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn bị đơn
đều xác định quá trình chung sống giữa T ông T1 chỉ tạo lập được một tài sản bất
động sản diện tích đất trên thời điểm nhận chuyển nhượng phần đất y giá
300.000.000đ nên căn cứ xác định phần diện tích đất ông T1 đặt cọc phần đất
hiện nay đang tranh chấp.
Bà T cho rằng tài sản trên tài sản riêng của T. Tuy nhiên, ngày 24/3/2021,
T cùng với ông T1 đã hợp đồng thế chấp đối với phần đất trên đthế chấp cho Ngân
hàng N- Chi nhánh B- Phòng G để vay số tiền 1.600.000.000đ. Theo quy định tại Khoản
1 Điều 13 Nghị định s70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2011 quy định chi tiết thi hành Luật
Hôn nhân gia đình thì Việc nhập tài sản nhà ở, quyền sử dụng đất các tài sản
khác giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của
vợ chồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập
thành văn bản, chữ của cả vợ chồng. Văn bản đó thể được công chứng hoặc
chứng thực theo quy định của pháp luật”. Điều 46 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014
quy định Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo
thỏa thuận của vợ chồng. Tài sản được nhập vào tài sản chung theo quy định của
6
pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa
thuận phải bảo đảm hình thức đó..”. Cho T xác định đây i sản riêng của mình,
nhưng chính đã cùng ông T1 hợp đồng thế chấp để vay tiền thì theo đuy định nêu
trên, được coi T đã nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, chính cũng xác định số tiền nợ Ngân hàng N- Chi
nhánh B- Phòng giao dịch T cũng chính nợ chung của vợ chồng yêu cầu chia đôi số
nợ y, trong khi tài sản đảm bảo cho khoản nợ đó chính tài sản cho rằng tài
sản riêng. Do đó, lời trình y của bị đơn hoàn toàn mâu thuẫn với tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án.
Thậm chí, phần đất trên khi nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp nên tại trang 4
cập nhật biến động thể hiện ngày 25/5/2012 nợ tiền thổ cư. Đến ngày 16/3/2016, chính
ông T1 người đã nộp tiền thổ 169.854.000đ vào ngân sách nhà ớc theo giấy nộp
tiền số 0000541 ngày 16/3/2016 của Kho bạc nhà nước tỉnh B đến ngày 21/3/2016 đã
hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Do đó, việc T yêu cầu Tòa án xác đinh phần đất diện tích đất trên tài sản
riêng của bà T là không có căn cứ chấp nhận mà đó là tài sản chung của vợ chồng bà T
ông T1.
[3.2] Đối với căn nhà cấp 4 diện tích 86,1m
2
kết cấu mái tôn, ch tường, nền
gạch men gắn liền với phần đất diện tích 150,6m
2
, thuộc thửa số 1180, tờ bản đồ số 15,
tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bị đơn xác định xác định căn nhà y được vợ chồng T ông
T1 y dựng trong thời kỳ hôn nhân. Sự thừa nhận của các đương sự tình tiết không
phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[3.3] Do phần đất diện tích 150,6m
2
, thuộc thửa số 1180, tờ bản đồ số 15, tọa lạc
tại phường H, thành phT, tỉnh Bình Dương tài sản gắn liền với đất căn nhà cấp 4
diện tích 86,1m
2
kết cấu mái tôn, vách tường, nền gạch men tài sản chung của T
ông T1 hình thành trong thời khôn nhân, cả T ông T1 cùng công sức đóng
góp để tạo nên tài sản trên nên chia đôi mỗi người ½ . Quá trình giải quyết vụ án và qua
xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện nay ông T1 người đang trực tiếp sinh sống trên nhà
đất y. Ông T1 cho rằng kể từ khi ly thân đến nay T đã dọn ra ngoài sinh sống, còn
ông T1 con đang sống trên nhà đất y. Tuy nhiên, theo như Bản án số
34/2023/HNGĐ-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thì
giao con chung của ông T1 T cháu Nguyễn Khả T5, sinh ngày 23/5/2013 cho
T trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến nay vẫn chưa quyết định hay bản án bào thay đổi
người trực tiếp nuôi con. Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 59 thì Bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên”. Do đó, cần giao cho bà T quản lý sử dụng
nhà đất trên, bà T trách nhiệm hoàn trả lại giá trị cho ông T1, cụ thể như sau:
Đối với quyền sử dụng đất diện tích 150,6m
2,
trong đó: Đất thổ cư 100m
2
x
15.000.000đ = 1.500.000.000đ; đất trồng y lâu năm 50,6m
2
x 12.000.000đ =
607.200.000đ, tổng cộng 2.107.200.000đ.
Đối với căn nhà cấp 4 diện tích 86,1m
2
x 3.908.000đ x 60% giá trị sử dụng =
201.887.280đ.
Tổng giá trị nhà đất 2.107.200.000đ+ 201.887.280đ = 2.309.087.280đ.
7
Như vậy, T phải hoàn trả lại giá trị nhà đất cho ông T1 với số tiền
1.154.543.640đ.
[3.4] Về nợ chung: T yêu cầu chia đôi số nợ của vợ chồng trong thời k hôn
nhân nợ của Ngân hàng N- Chi nhánh B- Phòng giao dịch Thủ Dầu Một số tiền
1.500.000.000đ. T là người trả nợ cho ngân hàng nên T đồng ý trả toàn bộ số tiền
1.500.000.000đ cho ngân hàng, yêu cầu ông T1 hoàn trả lại cho T số tiền
750.000.000đ.
Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn xác định bà T đã tất toán
toán bộ khoản vay trên cho ngân hàng và đã được giải chấp tài sản bảo đảm. Tại Công
văn số 305NHNo.TDM-TA ngày 02/5/2024 Ngân hàng N- Chi nhánh B- Phòng G cũng
cho rằng hiện nay khách hàng không còn dư nợ tại ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng thừa nhận bị đơn cùng với nguyên đơn
hợp đồng thế chấp với ngân hàng để vay tiền nên xác định đây là nchung của vợ chồng
trong thời khôn nhân. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng ngày 11/10/2022 ông T1 T đã
bán xe tải được số tiền 680.000.000đ, ông T1 đưa cho T để trả bớt cho ngân hàng
nhưng chính ông T1 không nắm được T trả hay không không cung cấp được tài
liệu, để chứng minh ông T1 đưa cho T số tiền 680.000.000đ trả cho ngân hàng nên
không căn cứ chấp nhận lời trình y của bị đơn. Do đó, số tiền 1.500.000.000đ nợ
chung của ông T T trong thời kỳ hôn nhân nên phải chia đôi số nợ y. Tuy nhiên,
do số tiền nợ y do T đã trả cho ngân ng nên ông T1 trách nhiệm hoàn trả lại
cho bà T số tiền 750.000.000đ.
[3.5] Đối với số nợ 1.528.800.000đ được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Kiều T và ông
Nguyễn Anh T3 theo giấy vay tiền đề ngày 22/3/2024. Bà T ông T3 cho rằng T đã
vay của ông T3 số tiền nay từ ngày 22/3/2024, thời hạn vay đến ngày 22/3/2025. Để đảm
bảo cho số tiền vay này, T đã đưa cho ông T3 giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ
cấp GCN CH02230 cấp cho bà Nguyễn Thị Kiều T ngày 24/5/2012 để ông T3m tin.
Xét, theo như Văn bản trình bày ý kiến ngày 17/5/2024 kèm với Đơn đề nghị giải
quyết vắng mặt ông Nguyễn Anh T3 xác định thời hạn vay tiền giữ ông T3 ông T đến
ngày 22/3/2025, khi T trả hết nợ, ông T3 sẽ trả bản chính sổ đất chứ ông T6 không
yêu cầu trong vụ án này. Do đó, việc vay mượn tiền giữa T ông T3 sẽ được giải
quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Tuy nhiên, như phần ch trên thi do phần đất phần đất diện tích 150,6m
2
, thuộc
thửa số 1180, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình ơng tài
sản chung của T ông T1 nên việc ông T3 đang giữ bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nêu trên không đúng quy định n buộc phải trả lại cho ông T1
bà T.
[4] Về việc phân chia tài sản chung, nợ chung và đối trừ nghĩa vụ của hai bên:
[4.1] Về tài sản chung, giá trị tài sản bị đơn được chia như sau:
- T nghĩa v thanh toán lại cho ông T ½ giá trị nhà, đất với số tiền
1.154.543.640đ.
- Ông T1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà T ½ số tiền đã trả cho Ngân hàng N- Chi
nhánh B- Phòng G 750.000.000đ.
8
[4.2] Như vậy, đối trừ nghĩa vụ của hai n thì T phải thanh toán cho ông T1 số
tiền 404.543.640đ.
[5] Về quyền lưu cho bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy ngoài nhà đất tranh
chấp, ông T1 hiện chưa chỗ mới. Do đó, để tạo điều kiện cho ông T1 chổn
định trong thời gian chờ tìm chỗ ở, đảm bảo cuộc sống quyền lợi mọi mặt cần dành
quyền lưu cho ông T1 tại nhà đất tranh chấp trong thời gian 06 tháng kể từ ngày T
thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền cho ông T1 theo quy định tại Điều 63 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014.
[6] Từ những phân tích trên căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[7] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.
[8] Về chi phí sao lục, đo đạc định giá: Nguyên đơn bị đơn phải chịu theo
quy định của pháp luật.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bị đơn phải chịu theo quy định tại
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39,
Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 203, Khoản 1 Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều Điều 27, 33, 37, 63, 110 của Luật Hôn nhân gia đình m
2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T
đối với bị đơn ông Nguyễn Thành T1 về việc “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn”.
- Xác định phần đất diện tích 150,6m
2
, thuộc thửa số 1180, tờ bản đsố 15, tọa lạc
tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN
CH02230 cấp cho bà Nguyễn Thị Kiều T ngày 24/5/2012 cùng tài sản gắn liền trên đất
căn nhà cấp 4 diện tích 86,1m
2
kết cấu mái tôn, vách tường, nền gạch men tài sản
chung của bà Nguyễn Thị Kiều T với ông Nguyễn Thành T1.
- Nguyễn Thị Kiều T được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng phần đất diện tích
150,6m
2
, thuộc thửa số 1180, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh
Bình ơng, theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN CH02230 cấp cho Nguyễn
Thị Kiều T ngày 24/5/2012 cùng tài sản gắn liền trên đất là căn nhà cấp 4 diện tích
86,1m
2
có kết cấu mái tôn, vách tường, nền gạch men.
T quyền nghĩa vụ liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để thực
hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
9
- Ông Nguyễn Thành T1 được quyền lưu trong thời gian 06 (Sáu) tháng kể từ
ngày Nguyễn Thị Kiều T thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền cho ông T1.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Nguyễn Thị Kiều T trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thành T1 số
tiền 404.543.640đ (Bốn trăm lẻ bốn triệu năm trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm bốn
mươi đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc ông Nguyễn Anh T3 trả lại cho Nguyễn Thị Kiều T ông Nguyễn
Thành T1 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số BK 533300, số vào sổ cấp GCN CH02230 cấp cho
Nguyễn Thị Kiều T ngày 24/5/2012.
2. Về chi phí sao lục, đo đạc và định giá:
- Nguyễn Thị Kiều T phải nộp số tiền 3.281.285đ (Ba triệu hai trăm tám
mươi mốt triệu hai trăm tám mươi m đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp
tại Tòa án.
- Ông Nguyễn Thành T1 phải nộp số tiền 3.281.285đ (Ba triệu hai trăm tám
mươi mốt triệu hai trăm tám mươi lăm đồng) để hoàn trả cho Nguyễn Thị Kiều T đã
nộp tạm ứng tại Tòa án.
3. Về án phí sơ thẩm:
+ Nguyễn Thị Kiều T phải chịu số tiền 46.636.00(Bốn mươi sáu triệu sáu
trăm ba mươi sáu nghìn đồng) được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp
28.328.000đ (Hai mươi tám triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền
số AA/2023-0000833 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương. T còn phải nộp thêm 18.308.000đ (Mười tám triệu ba
trăm lẻ tám nghìn đồng).
+ Ông Nguyễn Thành T1 phải chịu số tiền 69.136.000đ (Sáu mươi chín triệu một
trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
4. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án n sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND, VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Hồ Thị Hằng
Nơi nhận:
- TAND, VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Hoa Hạnh
11
Tải về
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất