Bản án số 732/2024/HC-PT ngày 15/07/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 732/2024/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 732/2024/HC-PT ngày 15/07/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 732/2024/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2024
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM ĐỂ XÉT XỬ LẠI
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 732/2024/HC-PT
Ngày: 15 - 7 - 2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản Nhà nước về đất
đai (hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất).
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Ngọc Huynh
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số:
578/2023/TLPT-HC ngày 17 tháng 08 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản Nhà nước về đất đai (hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất)”.
Do Bản án hành chính thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1122/2024/QĐPT-HC ngày
21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
1/ Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (có mặt)
2/ Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1976 (có mặt)
Cùng địa chỉ: số nhà E, Thôn A, Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện D;
Địa chỉ: đường T, Tổ dân phố I, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức C - Chức vụ: Chủ tịch Ủy
2
ban nhân dân huyện D (vắng mặt)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1952 (vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà G đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng;
Đại diện theo ủy quyền:
- Ông Lâm Tuấn P, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ liên hệ: 6 đường số H, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành
phố Hồ Chí Minh
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Đỗ Ngọc A - Công ty
L1, thuộc Đoàn Luật Thành phố H (có mặt)
2. Ông Bùi Minh K, sinh năm 1963 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ liên hệ: Thôn A, L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
3. Ông Dương Văn H1 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
4. Ông Lâm Tuấn P, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Nguyễn
Thị Kim H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25-9-2022, đơn khởi kiện sửa đổi b sung ngày
14-10-2022, bản tự khai của Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Xuân N trình bày:
Toàn bộ diện tích đất tại thửa 135, tờ bản đồ số 13, Đ nguồn gốc do
gia đình ông N, L khai phá từ năm 1996 sử dụng ổn định từ đó đến nay,
không tranh chấp với ai. Đến năm 2021, ông bà thực hiện thủ tục đăng cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích trên t được biết diện tích
đất trên đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Kim H.
Ông N, L đã liên h làm việc với H nhiều lần không được, UBND Đ đã
tổ chức buổi làm việc nhưng H không hợp tác đến làm việc.
Theo Thông báo số 91/TB-UBND ngày 08-12-2021 của UBND Đ thì
ông N, L được biết diện tích đất của ông đang sử dụng đã được UBND
huyện D cấp lần đầu cho ông Dương Văn H1, sau chuyển nhượng cho ông Lâm
3
Tuấn P ông Lâm Tuấn P tiếp tục chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Kim H.
Sau Nguyễn Thị Kim H đã thực hiện cấp đổi thành Giấy chứng nhận số BV
058311 do UBND huyện D cấp ngày 14-07-2014. Việc UBND huyện D cấp
giấy chứng nhận cho H trùng lên diện tích đất của gia đình ông N, L đang
sử dụng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông bà.
Do đó L, ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
BV 058311 do UBND huyện D cấp ngày 14-07-2014 cho bà Nguyễn Thị Kim H.
Theo văn bản của người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND
huyện D trình bày:
1. Diễn biến việc cấp Giấy chứng nhận số BV 058311 do UBND huyện D
cấp ngày 14/7/2014 tại thửa đất số 135 t bản đồ số 13 Đ cho Nguyễn Thị
Kim H, ngụ tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: Theo hồ địa chính
được lưu trữ do Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện D cung cấp, thể
hiện:
- Thửa đất số 135 tờ bản đ số 13 Đ, diện tích: 3.486 m2 đất trồng cây
lâu năm được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s H
010169 cho ông (bà) Bùi Minh K theo Quyết định số 422/QĐ- UB ngày
01/10/1996 vào sổ theo dõi cấp giấy số 174/QSDĐ (cùng với thửa đất số 135 tờ
bản đồ số 13 Đ, diện tích 11.778 m2 (400m2 đất ONT + 11.378 m2 đất CLN).
Ngày 31/5/1999, ông (bà) i Minh K chuyển nhượng thửa đất số 21 135 tờ
bản đồ số 13 xã Đ cho ông Dương Văn H1 theo Hợp đồng s 208/HĐCN do
Phòng Địa chính huyện D xác nhận tại trang 4 Giấy chứng nhận nêu trên.
- Ngày 14/2/2006, ông Dương Văn H1 chuyển nhượng thửa đất số 21
135 tờ bản đồ số 13 cho ông Lâm Tuấn P theo Hợp đồng số 26/HĐCN, được
Phòng Tài nguyên Môi trường huyện D chỉnh tại trang 4 Giấy chứng nhận
nêu trên.
- Ngày 19/6/2014, ông Lâm Tuấn P lập hợp đồng tặng cho thửa đất số 21,
135 tờ bản đ số 13 cho Nguyễn Th Kim H theo số 2630/quyển 34/TP/CC-
SCC/HĐ-GD do Văn phòng C1 công chứng.
Ngày 27/6/2014, Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất (nay Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện D) chỉnh tại trang 4 giấy chứng nhận
nêu trên.
Ngày 14/7/2014, Nguyễn Thị Kim H được UBND huyện D cấp Giấy
chứng nhận số BV 058311 tại thửa đất số 135 t bản đồ 13, diện tích 3.486 m2
đất trồng cây lâu năm (CLN), số vào sổ cấp GCN: CH 10087.
2. Ý kiến của UBND huyện D: Căn cứ Luật đất đai năm 1993, Luật đất
đai năm 2013 các văn bản pháp luật liên quan thì trình tự, thủ tục UBND
huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 010169, chỉnh hồ
4
chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV
058311 được thực hiện theo đúng quy định đã cập nhật vào hồ sơ địa chính.
Đối với nội dung Nguyễn Thị L ông Nguyễn Xuân N yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận số BV 058311 do UBND huyện D cấp ngày 14/7/2014 cho
Nguyễn Thị Kim H. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét xử
theo quy định pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim H, ông Bùi
Minh K, ông Dương Văn H1, ông Lâm Tuấn P đã được triệu tập hợp lệ nhiều
lần nhưng không đến Tòa làm việc, không văn bảntrình bày ý kiến.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ theo thủ tục chung; không tổ chức đối thoại được.
Tại Bản án hành chính thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 05 tháng 6 năm
2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Xuân N
về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản n nước v đất
đai”(yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)”:
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BV 058311 do UBND huyện D cấp ngày 14-7-2014 cho
Nguyễn Thị Kim H.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí quyền kháng cáo của
đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 19-6-2023 người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyễn Thị Kim H kháng cáo bản án thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim H (có ông
Trần Văn T đai diện theo ủy quyền) vẫn giữ kháng cáo yêu cầu a án cấp phúc
thẩm hủy bản án thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ
án Tòa án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi tống đạt
các văn bản tố tụng cho H tại địa chỉ H không trú là t dân phố H,
phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng trong khi H địa chỉ ràng tại số
G T, tổ dân phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã được thể hiện
trong đơn đăng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm cho H
không thực hiện được các quyền nghĩa vụ tố tụng. Ngoài ra, Tòa án cấp
thẩm cũng chưa làm ranh giới đất giữa H với L.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị Kim H Luật
Đỗ Ngọc A phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của H Tòa án thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng n người
đại diện theo ủy quyền của H đã trình bày. Ngoài ra, về nội dung, thửa đất số
135 được cấp cho ông Bùi Minh K năm 1996, đến năm 1999 chuyển nhượng
5
cho ông Dương Văn H1, năm 2006 ông H1 chuyển nhượng lại cho ông Lâm
Tuấn P, sau đó ông P tặng cho mẹ Nguyễn Thị Kim H vào năm 2014. H
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
L, ông N cho rằng nguồn gốc đất do gia đình L khai phá năm 1996, sử
dụng ổn định không tranh chấp nhưng không tài liệu chứng minh. Hơn nữa,
ông K đã được cấp đất trước thời điểm L khai phá đất nên nếu cho rằng L
khai phá năm 1996 t việc khai phá đất của L cũng hành vi lấn chiếm đất
trái phép.
Người khởi kiện Nguyễn Thị L ông Nguyễn Xuân N thống nhất
không đồng ý kháng cáo của H, yêu cầu Hội đồng xét xử bác kháng cáo
giữ nguyên bản án thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định
của pháp luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng thực hiện các
quyền, nghĩa v theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tòa án cấp thẩm đã tống đạt văn bản tố tụng cho H
theo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo về tố tụng của H không
căn cứ. Về nội dung vụ án, Tòa án cấp thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của L, ông N căn cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, H
kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề
nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo giữ nguyên bản án thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của
Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án triệu tập hợp lệ, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Bùi Minh K xin vắng mặt; người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện D những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố
tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt c đương sự
này.
[2] Hồ vụ án thể hiện, vụ án đã được Toà án cấp thẩm đưa ra xét xử 04 lần
vào các ngày 17-3-2023, 05-4-2023, 05-5-2023 05-6-2023. Tại các biên bản
tống đạt của Văn phòng thừa phát lại thành phố B đối với Nguyễn Thị Kim H
thì việc tống đạt cho H không thực hiện được với do: Tại thời điểm tống
đạt Nguyễn Thị Kim H, địa chỉ tại: Tổ dân phố H, phường B, thành phố B,
tỉnh Lâm Đồng không tên trong danh sách thường trú của tổ dân phố H,
phường B. Do đó, Toà án cấp thẩm đã thực hiện việc niêm yết giấy triệu tập
tại Tổ dân phố 8 trụ sở Ủy ban nhân dân phường B để tiến hành xét xử vắng
mặt H.
6
[3] Xét, theo các tài liệu, chứng cứ như Đơn đ nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu n tài sản khác gắn liền với đất
ngày 20-6-2014 (BL 50), H địa chỉ: Số G đường T, tổ dân phố H, phường
B; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 058311 ngày 14/7/2014 của
UBND huyện D cấp cho Nguyễn Thị Kim H thì H địa chỉ tại: Tổ dân
phố H, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tại Đơn kháng cáo ngày 19-6-
2023 (BL 149) giấy uỷ quyền ngày 16-6-2023 (BL 148) giấy xác nhận
thông tin về trú ngày 05/12/2023 của Công an phường B t địa chỉ thường
trú của H số G T, tổ D, phường B. Như vậy, sự không thống nhất về địa
chỉ của H. Lẽ ra, Tòa án cấp thẩm phải thu thập chứng cứ làm địa chỉ
của H để thực hiện tống đạt hợp lệ cho H nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
không thực hiện niêm yết tại địa chỉ tổ dân phố H, phường B không đúng
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 108 Luật tố tụng hành chính năm 2015. Mặt
khác, việc H vắng mặt được th hiện tại các quyết định hoãn phiên toà số
67/2023/QĐST-HC ngày 17-3-2023 97/2023/QĐST-HC ngày 05-4-2023,
nhưng trong các quyết định hoãn này đều thể hiện H vắng mặt lần thứ nhất.
Hồ vụ án không biên bản phiên toà các ngày 17-3-2023, 05-4-2023, 05-5-
2023 nên không căn cứ để thể hiện sự mặt, vắng mặt của đương sự diễn
biến các phiên toà trên. Do vậy, Toà án cấp thẩm tiến hành xét xử vắng mặt
H chưa đảm bảo về thủ tục tố tụng.
[4] Ngày 28-11-2022, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng Quyết định số
370/QĐ-ĐĐXXTĐTC đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa 135 tờ
bản đồ số 13, Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Thị Kim H đương
sự tham dự. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08-12-2022 thì H
vắng mặt, nhưng hồ vụ án không tài liệu thể hiện bà H đã được thông báo
hoặc tống đạt văn bản về việc xem xét, thẩm định tại chỗ nêu trên, nên chưa đủ
căn cứ xác định việc xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án cấp thẩm thực
hiện đúng thủ tục quy định tại Điều 88 Luật t tụng hành chính năm 2015.
[5] L cho rằng nguồn gốc thửa đất số 135 do gia đình L, ông N khai phá
từ năm 1996, sử dụng ổn định không tranh chấp. Tuy nhiên, ngoài lời trình
bày t L không cung cấp tài liệu, chứng c chứng minh nguồn gốc đất. Bản
án của Toà án cấp thẩm căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể
hiện trên đất 01 căn nhà tạm kết cấu xi măng, tường gạch, mái tôn, diện tích
còn lại trồng phê, sầu riêng 01 ao nước; Toàn bộ diện tích chỉ ranh do
ông N, L đang sử dụng để chấp nhận yêu cầu khởi kiện chưa đủ n cứ, bởi:
- Thửa đất số 135, tờ bản đồ số 13, diện tích 3.486m
2
được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu số H 010169 cho ông Bùi Minh K theo Quyết định số
422/QĐ-UB ngày 01-10-1996 số vào sổ theo dõi cấp giấy số 174/QSDĐ (cùng
với thửa đất ông K chuyển nhượng thửa 21 thửa 135 tờ bản đồ số 13 Đ)
tổng diện tích 11.778m
2
. Năm 1999, ông K chuyển nhượng thửa 21 thửa 135
cho ông Dương Văn H1, sau đó ông H1 chuyển nhượng cho ông Lâm Tuấn P.
Năm 2014, ông Phương t cho Nguyễn Thị Kim H được Ủy ban nhân dân
7
huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 058311 ngày 14-7-2014.
Vậy, theo h quản đất đai thì phần đất trên đã được cấp giấy chứng nhận
quyền s dụng quyền sử dụng đất cho ông K từ ngày 01-10-1996, nên cần thiết
phải làm thời điểm ông N, L vào quản sử dụng đất năm 1996 trước
hay sau thời điểm ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để làm
căn cứ chứng minh lời trình bày của L, ông N về nguồn gốc đất.
- Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28-11-2022 thể hiện ông Lâm
Tuấn P người sử dụng đất giáp ranh với phần diện tích đất của L, ông N,
sau đó ông P tặng cho bà H tiếp tục sử dụng phần đất trên, không tranh chấp.
Theo cán bộ địa chính tham gia buổi xem xét thẩm định trình bày: Vị trí phần
đất L chỉ ranh thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 13; Theo sổ mục thể hiện thửa
đất do ông P đăng khai (số theo bản đồ mới 2005), theo sổ mục lập
năm 2019 vị trí thửa 135 không thể hiện tên người sử dụng đất.
Căn cứ theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên thì phần đất L, ông
N đang sử dụng phần đất H được tặng cho 02 phần đất nằm giáp
ranh nhau; thực tế thì L, ông N H đều đang quản sử dụng. Nhưng
theo hồ quản đất đai t phần đất H được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất phần đất do L, ông N quản sử dụng cùng thửa đất 135. Theo
nội dung nhận định nêu tại mục [4] thì H vắng mặt chưa đủ căn cứ xác
định việc thẩm định tại chỗ được thực hiện đúng quy định pháp luật, nên chưa
sở xác minh nội dung nêu trong biên bản xem xét thẫm định. Mặt khác,
Toà án cấp thẩm chưa xác minh làm phần đất H được tặng cho đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất H đang quản lý
sử dụng (là phần đất giáp ranh với thửa 135) cùng một phần đất hay hai phần
đất, để xem xét việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền s dụng đất thửa 135 cho ông K đúng đối tượng sử dụng
đất hay không. Ngoài ra, cần thu thập chứng cứ làm H sử dụng, canh
tác phần diện tích đất đang tranh chấp hay không; ai người xây dựng căn nhà
tạm, đào ao, trồng khai thác các cây trồng trên phần đất này và từ thời điểm
nào, qua đó mới đủ sở giải quyết vụ án.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bản án của Tòa án
cấp thẩm vi phạm tố tụng thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án. Những thiếu sót này Tòa án cấp phúc thẩm
không thể khắc phục được nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của H, hủy bản
án thẩm chuyển hồ vụ án về cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo
đúng quy định của pháp luật. Lập luận này cũng sở để không chấp nhận đ
nghị của đại diện giữ nguyên bản án thẩm của vị Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[7] Bản án thẩm bị hủy do vi phạm tố tụng nên Hội đồng xét xử chưa
xem xét đến nội dung vụ án.
[8] Án phí hành chính phúc thẩm: Do hủy bản án thẩm nên người
8
kháng cáo không phải chịu.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyễn Thị Kim H;
Hủy bản án hành chính thẩm s 35/2023/HC-ST ngày 05-6-2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Chuyển hồ vụ án về cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Nguyễn Thị Kim H không phải
chịu.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
Tòa án nhân dân tối cao (1);
VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh (1);
TAND tỉnh Lâm Đồng (1);
VKSND tỉnh Lâm Đồng (1);
Cục THADS tỉnh Lâm Đồng (1);
Các đương sự (7);
Lưu: hồ vụ án (1), VP (5), 18b (PPC);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CH TỌA PHIÊN TÒA
( đã ký)
Phan Nhựt Bình
Tải về
Bản án số 732/2024/HC-PT Bản án số 732/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 732/2024/HC-PT Bản án số 732/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất