Bản án số 706/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 706/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 706/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 706/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm U - Ông Phạm C, vụ án thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lê Thị Minh Trang
Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Ông Nguyễn Hữu Bằng
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Tăng Thị NÝ - Thẩm tra
viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phCần Txét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 294/2025/TLPT-DS ngày
09 tháng 10 năm 2025, về “Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 06/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần
Thơ) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 637/2025/-PT ngày
17 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm U, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp B , P, huyện P,
tỉnh Hậu Giang (nay là xã P, thành phố Cần Thơ). Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi T, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Ấp B, P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay P, thành phố Cần Thơ).
Có mặt
- Bị đơn: Ông Phạm C, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp B , xã P, huyện P, tỉnh
Hậu Giang (nayxã P, thành phố Cần Thơ). Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phạm L, sinh năm 1952.
Địa chỉ: Ấp K, xã A, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay An Ninh, thành
phố Cần Thơ). Có mặt
2. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1954.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 706/2025/DS-PT
Ngày: 10 - 12 - 2025
V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: Ấp B , xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay P, thành phố Cần
Thơ). Có mặt
3. Phạm Thị C, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Ấp B , xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay P, thành phố Cần
Thơ). Có mặt
4. Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Ấp B , xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay P, thành phố Cần
Thơ). Có mặt
5. Phạm Thị T, 62 tuổi.
Địa chỉ: Ấp P, H, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay L, thành phố
Cần Thơ). Có mặt
6. Phạm Y, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L1, thành phố
Cần Thơ). Có mặt
7. Phạm TC, sinh năm 1969. Có mặt
Địa chỉ: Ấp B , xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay P, thành phố Cần
Thơ).
8. Phạm VT, sinh năm 1975 Có mặt
Địa chỉ: Ấp L, L, thị L, tỉnh Hậu Giang (nay xã P, thành phố Cần
Thơ).
9. Bà Lê Ph (và con là Phạm Ng). Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang).
- Người kháng cáo: Bị đơn Phạm C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án thẩm các tài liệu trong hồ vụ án thì nội dung
như sau:
* Nguyên đơn bà Phạm U trình bày: Cha mẹ của bà là cụ ông Phạm L (chết
năm 1982) cụ bà Nguyễn S (chết năm 2017). Sau khi cụ L chết, tài sản chung
của cụ L cụ S tạo lập còn lại 22.258m
2
đất, đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tạm thời số 11482/HĐCG.CNRĐ, do Ủy ban nhân dân huyện
P cấp cho cụ Nguyễn S ngày 20 tháng 10 năm 1997. Quá trình sử dụng, cụ S đã
chuyển nhượng hết khoảng 14.000m
2
, phần di sản còn lại khoảng 6.000m
2
ng
căn nhà tình thương tọa lạc tại ấp B , xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Lúc còn sống, cụ S đã hứa cho nguyên đơn toàn bộ phần đất còn lại khoảng
6.000m
2
, do nguyên đơn người chung sống với cụ S từ nhỏ. Tuy nhiên, khi
nguyên đơn trưởng thành và đi lấy chồng thì bị đơn là ông Phạm C về sống chung
3
với cụ S và quản lý, s dụng căn n phần đất nêu trên. Đến năm 2017,
nguyên đơn ly hôn với chồng, không nơi nên yêu cầu bị đơn giao trả phần
đất nêu trên nhưng bị đơn không đồng ý. Việc cụ S hứa cho nguyên đơn phần đất
nêu trên chỉ nói miệng, không có người làm chứng, không để lại di chúc.
Nay yêu cầu bị đơn Ông C giao trả cho nguyên đơn phần di sản của cụ
Nguyễn S để lại khoảng 6.000m
2
cùng căn nhà tình thương tọa lạc tại ấp B ,
P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
* Bị đơn ông Phạm C trnh bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên
đơn về phần di sản do cụ S để lại. Tuy nhiên, phần đất của cụ S trước đây đất
hoang, đến năm 2001 ông về sinh sống cùng cụ S mới khai phá, cải tạo canh
tác cho đến nay. Sau khi xây dựng ngôi nhà tình thương trên phần đất này, ông
cùng cụ S sinh sống cho đến khi cụ S mất. Khi cụ S mất, anh, chị em trong gia
đình thống nhất cho ông trong căn nhà trên thực hiện việc thờ cúng cha mẹ
cho đến nay. Riêng nguyên đơn không chăm c cụ S nên ông không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng di
sản do cụ S để lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng T trình bày:
Ông con ruột của cụ ông Phạm L cụ Nguyễn S. Cụ L chết năm
1982, cụ S chết năm 2017; cha mẹ ông tất cả 11 người con, gồm: Phạm L,
Phạm Văn T, Phạm Thị C, Phạm Hồng T, Phạm C, Phạm Thị T, Phạm Y, Phạm
TC, Phạm VT, Phạm Văn Quây (đã chết năm 2020, vợ Ph, con
Phạm Ng còn nhỏ, hiện khoảng 10 tuổi) và Phạm U.
Lúc còn sống, cha mẹ ông tạo lập khoảng hơn 100 công đất được
Nhà nước cho 01 căn nhà tình thương; cha mẹ ông đã cho ông ông Tịnh mỗi
người khoảng 25 công, cho Chì 11 công, cho Cúc 05 công, chuyển nhượng
cho người khác khoảng 14 công, những người con khác không được cho.
Sau khi cha mông chết, để lại khoảng 06 công đất cùng một căn nhà
tình thương, ngoài ra không để lại khác. Toàn bộ tài sản này do Ông C quản
sử dụng tnăm 2019 đến nay. Trước đó do Út quản sử dụng, do Phạm U
sống chung với mẹ ông từ nhỏ cho đến lớn. Ông C trước đó đã nhà, đất tại ấp
Phương Thạnh, xã P, đến năm 2019 Ông C ly thân với vợ mới đưa con về tại
căn nhà của mẹ ông.
Ông yêu cầu giao toàn bộ di sản của cha mẹ ông cho nguyên đơn bà Út
quản lý để thờ cúng cha mẹ, ông xin từ chối quyền hưởng thừa kế.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T trình bày:
Ông con ruột của cụ ông Phạm L cụ Nguyễn S. Cụ L chết năm
1982, cụ S chết năm 2017; cha mẹ ông tất cả 11 người con, gồm: Phạm L,
4
Phạm Văn T, Phạm Thị C, Phạm Hồng T, Phạm C, Phạm Thị T, Phạm Y, Phạm
TC, Phạm VT, Phạm Văn Quây (đã chết năm 2020, vợ Ph, con
Phạm Ng còn nhỏ, hiện khoảng 10 tuổi) và Phạm U.
Lúc còn sống, cha mẹ ông tạo lập khoảng hơn 100 công đất được
Nhà nước cho 01 căn nhà tình thương; cha mông đã cho ông ông Tự mỗi
người khoảng 25 công, cho Ông C khoảng 08 công, cho Cúc khoảng 05 công,
những người con khác không được cho.
Sau khi cha mẹ ông chết, để lại khoảng từ 04 đến 05 công đất cùng một
căn nhà tình thương, ngoài ra không để lại khác. Toàn bộ tài sản này do ông
Phạm C quản sử dụng từ năm 2019 đến nay. Trước đó do Út quản sử
dụng, do bà Út sống chung với mẹ ông khoảng 22 năm. Ông C trước đó đã
nhà, đất tại ấp Phương Hòa ấp Phương Thạnh, xã P, đến năm 2019 Ông C ly
hôn với vợ mới đưa con về ở với mẹ ông.
Ông yêu cầu giao toàn bộ di sản cha mẹ ông cho bà Út quản lý để thờ cúng
cha mẹ, ông xin từ chối quyền hưởng thừa kế.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm VT trình bày: Ông
con ruột của cụ ông Phạm L và cụ Nguyễn S. Cụ L chết năm 1982, cụ S chết
năm 2017; cha mẹ ông có tất cả 11 người con.
Lúc còn sống, cha mẹ ông tạo lập khoảng hơn 100 công đất được
Nhà nước cho 01 n nhà tình thương; cha mẹ ông đã cho ông Tịnh ông Tự
mỗi người khoảng 25 công, cho Ông C khoảng 08 công, cho c khoảng 05
công, những người con khác không được cho.
Sau khi cha mẹ ông chết, để lại khoảng từ 05 đến 06 công đất cùng một
căn nhà tình thương, ngoài ra không để lại khác. Toàn bộ tài sản này do Ông C
quản sử dụng thờ cúng cha mtnăm 2019 đến nay. Trước đó do bà Út
quản lý sử dụng, do bà Út sống chung với mẹ ông khoảng 22 năm.
Nay ông yêu cầu giao toàn bộ di sản trên cho Ông C quản để thờ cúng
cha mẹ, ông xin từ chối quyền hưởng thừa kế.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm TC trình bày: con
ruột của cụ ông Phạm L cụ Nguyễn S. Cụ L chết năm 1982, cụ S chết năm
2017; cha mẹ bà có tất cả 11 người con, gồm: Phạm L, Phạm Văn T, Phạm Thị C,
Phạm Hồng T, Phạm C, Phạm Thị T, Phạm Y, Phạm TC, Phạm VT, Phạm Văn
Quây (đã chết năm 2020, vợ Ph, con là Phạm Ng còn nhỏ, hiện
khoảng 10 tuổi) và Phạm U.
Lúc còn sống, cha mẹ tạo lập khoảng hơn 100 công đất được Nhà
nước cho 01 căn nhà tình thương; cha mẹ đã cho ông Tịnh và ông Tự mỗi
5
người khoảng 25 ng, cho Ông C khoảng 08 công, cho Cúc khoảng 05 công,
những người con khác không được cho.
Sau khi cha mẹ chết, để lại khoảng 04 đến 05 công đất cùng một căn
nhà tình thương, ngoài ra không đlại khác. Toàn bộ tài sản này trước đây do
bà Út quản lý sử dụng, do Út sống chung với mẹ bà. Hiện do Ông C quản lý từ
năm 2019 đến nay. Tước đó Ông C sinh sống tại ấp Phương Thạnh, P, sau khi
ly hôn với vợ thì Ông C đưa con về chỗ mẹ bà ở nhờ.
Nay yêu cầu toàn bộ di sản cha mẹ đlại cho Út, Út sống
chung với mẹ bà từ nhỏ cho đến lớn, bà xin từ chối quyền hưởng thừa kế.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Y, Phạm Thị T
Phạm L thống nhất trnh bày:
Phạm Y, Phạm Thị T Phạm L con ruột của cụ ông Phạm L
cụ Nguyễn S. Cụ L chết năm 1982, cụ S chết năm 2017; cha mẹ các
tất cả 11 người con. Lúc còn sống, cha mẹ các bà có tạo lập khoảng hơn 100 công
đất được Nhà nước cho 01 căn nhà tình thương; cha mẹ các đã cho ông
Tịnh ông Tự mỗi người khoảng 25 công, cho Ông C khoảng 08 công, cho bà
Cúc khoảng 05 công, những người con khác không được cho. Sau khi cha mẹ các
chết, để lại khoảng 03 công đất cùng một căn nhà tình thương, ngoài ra
không đlại khác. Toàn bộ tài sản này do Ông C là người nuôi và chung với
cụ S nên quản sử dụng khoảng 23 năm nay; Út sống chung với mẹ bà,
nhưng khi có chồng thì theo chồng sinh sống từ khoảng năm 2001 cho đến nay.
Yều, o Lến cùng yêu cầu toàn bộ di sản cụ S để lại sử
dụng làm di sản dùng vào việc thờ cúng mà không chia thừa kế; không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu giao cho bị đơn Ông C quản toàn
bộ di sản để dùng vào việc thờ ng; đồng thời không yêu cầu được chia thừa kế,
nhưng không từ chối quyền thừa kế mà kỷ phần thừa kế của bà Yều, bà Tào và bà
Lến sẽ giao cho người thờ cúng được quyền quản lý.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ph trình bày: vợ
của ông Phạm Văn Huây (Quây), đã chết năm 2020. Bà và ông Quây kết hôn năm
2002, 01 con chung Phạm Ng, sinh năm 2013. Cha chồng của cụ ông
Phạm L (chết năm 1982), mẹ chồng là cụ bà Nguyễn S (chết năm 2017).
không rõ lúc cha, mẹ chồng của còn sống đã tạo dựng được bao
nhiêu tài sản. Đến khi cha, mẹ chồng chết để lại 06 công đất 01 căn nhà
tình thương. Trước đó, nghe ông Quây nói cha, mchồng đã chia đều tài
sản cho các anh, chị em, riêng phần đất căn nhà trên do ông Quây con Út
nên vốn sẽ được để lại cho ông Quây. Tuy nhiên, do chồng mất sớm, phần đất
căn nhà hiện do Ông C quản sdụng đthờ cúng. Do đó, bà yêu cầu di sản
6
do cha mẹ chồng bà để lại sẽ được dùng vào việc thờ cúng, không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, mà yêu cầu giao di sản thừa kế cho bị đơn Phạm C
quản lý, sử dụng để thờ cúng; xin từ chối quyền hưởng thừa kế của bà con
của bà là Phạm Ng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị C vắng mặt trong
suốt quá trnh tố tụng tại Tòa án nên không có lời trnh bày.
* Tại bản án thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 06/6/2025 của Tòa án nhân
dân huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ), đã
tuyên như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm U.
1.1. Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn S là phần đất có tổng diện tích
7.496m
2
(bao gồm: Thửa số 16 có diện tích 300m
2
, loại đất ONT; thửa 26 có diện
tích 2.602m
2
, loại đất CLN; thửa số 27 có diện tích 4.594m
2
) thành 06 (sáu) kỷ
phần. Trong đó:
Bị đơn Phạm C được quyền sử dụng 02 (hai) kỷ phần bằng hiện vật tương
ứng với hai phần sáu của tổng diện ch 7.496m
2
đất di sản do cụ Nguyễn S để
lại nghĩa vụ thối chia cho nguyên đơn Phạm U giá trị của 01 (một) kỷ phần
304.568.000 đồng (ba trăm lẻ bốn triệu năm trăm sáu mươi tám triệu đồng);
được quyền tạm thời quản lý, sử dụng 04 (bốn) kỷ phần còn lại của Phạm Y,
Phạm Thị T, Phạm L Phạm Thị C tương ứng với bốn phần sáu của
tổng diện tích 7.496m
2
đất là di sản do cụ Nguyễn S để lại, khi phát sinh tranh
chấp 04 (bốn) kỷ phần này sẽ được giải quyết bằng vụ án khác (Diện tích hình
thể phần đất theo Phiếu đo đạc chỉnh thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 2025 của
Công ty cổ phần đo đạc Hoàng Huynh Hậu Giang); được quyền quản lý (không
được quyền sở hữu) di sản dùng vào việc thờ cúng căn nhà diện tích
51,95m
2
, kết cấu: Khung cột tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch
bông (hiện trạng: Đang sử dụng, tường bong tróc, mái tole rỉ sét).
1.2. Đối với các vật kiến trúc khác cây trồng trên đất do ông Phạm C
xây dựng trồng thuộc quyền sở hữu của ông Phạm C nên không xem xét
chia thừa kế.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí thẩm, chi ptố
tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 16/6/2025 bị đơn ông Phạm C đơn kháng
cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông về việc không
đồng ý đóng tiền án phí thanh toán cho nguyên đơn Phạm U số tiền
304.568.000 đồng ông chỉ đồng ý về diện tích đất theo đo đạc thực tế
5.600m
2
, không phải diện tích 7.496m
2
như cấp sơ thẩm đã tuyên.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự trnh bày:
Bđơn ông Phạm C vẫn giữ kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận yêu cầu của ông về việc không đồng ý đóng tiền án phí thanh toán
cho nguyên đơn Phạm U số tiền 304.568.000 đồng và ông chỉ đồng ý về diện tích
đất theo đo đạc thực tế là 5.600m
2
, không phải diện tích 7.496m
2
như cấp sơ thẩm
đã tuyên; yêu cầu được nhận 1 kỷ phần của cụ S để lại tính công sức đóng
góp, n giữ, quản và cải tạo đất trong suốt thời gian dài trong việc bảo quản
di sản cho ông.
Đại diện nguyên đơn: Yêu cầu sửa bản án thẩm theo hướng phân chia di
sản thừa kế theo pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gm các ông, : Phạm L, Phạm
Văn T, Phm ThC, Phm Hồng T, Phạm ThT, Phm Y, Phm TC, Phạm VT
đều yêu cầu được nhận 1 kỷ phn di sản cụ S đlại chia thừa kế theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên a
phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ theo thủ tục phúc thẩm tại phiên tòa
hôm nay, đương sự Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xthực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua diễn biến tại phiên tòa và qua đối chiếu
tài liệu chứng cứ trong hồ , trên sở ý kiến trình bày của các đương sự. Tại
phiên tòa phúc thẩm đương s có thay đổi yêu cầu trước đây. Các đng thừa kế
yêu cầu được nhận phần thừa kế h được hưởng theo quy định. Xét nội
dung tnhy của các đương sự cũng thuộc phạm vi kháng cáo ca Ông C v
cách chia việc thối lại giá trcho nguyên đơm. c đồng thừa kế yêu cầu pn
chia di sản thừa kế của cụ L, cụ S phần đất có tổng diện tích 7.496m
2
trong đó:
thửa số 16 diện tích 300m
2
, loại đất ONT; thửa 26 diện tích 2.602m
2
, loại
đất CLN; thửa số 27 diện tích 4.594m
2
. Việc chia hiện vật đất chia nhỏ diện
tích sẽ khó khăn cho việc tách thửa nên người nào nhận đất sẽ thối giá trị lại cho
người khác theo kết quả định giá. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị đơn miễn án phí do là người cao
tuổi; sửa bản án sơ thẩm ghi nhận ý kiến các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu, chứng c có trong hồ sơ vụ án đã được
xem t tại phiên tòa; n c o kết quả tranh luận tại phiên a, trên cơ s
xem xét đầy đ ý kiến ca các bên đương sự quan đim của đại diện Viện
kim sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhn định như sau:
8
[1] Xét về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về
thừa kế tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh
Hậu Giang theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm c
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự như án sơ thẩm xác định là phù hợp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Ph và
con là Phạm Ng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do
đó, cấp sơ thẩm phúc thẩm xét xử vắng mặt đương snày theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự phù
hợp.
[3] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử xong bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp
phúc thẩm xem xét lại bản án thẩm. Đương sự kháng cáo trong hạn luật định
là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ
về mặt hình thức. Để xét kháng cáo, cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung,
cần thiết phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ các bên đã thực hiện đối chiếu với quy
định của pháp luật.
Lần lượt phân tích từng vấn đề liên quan: Xét nội dung kháng cáo:
[4] Bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông vviệc
không đồng ý đóng tiền án pdân sự sơ thẩm: Ông C sinh năm 1962, hiện nay
trên 60 tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án: Ông C được miễn toàn bộ án phí lệ phí Tòa án nên cần điều chỉnh sửa lại
án sơ thẩm về án phí đối với Ông C.
[5] Xét việc ông Phạm C kháng cáo cho rằng ông chỉ đồng ý về diện tích đất
theo đo đạc thực tế 5.600m
2
, không phải diện tích 7.496m
2
như cấp sơ thẩm đã
tuyên.
Căn cứ để xác định sự chênh lệch vdiện tích đất này, phía Ông C cho
rằng: Ông không thống nhất với diện tích đo đạc cho rằng diện tích đất ít
hơn 5.600m
2
nhưng chỉ lời nói. Không số liệu nào để xác định ngoài Phiếu
đo đạc như đã nêu trên nên không sở để xem xét điều chỉnh diện tích đất
xác định để đưa ra giải quyết.
Diện tích toàn bộ các phần đất đã được Công ty cổ phần đo đạc Hoàng Huynh
Hậu Giang thực hiện đo đạc cụ thể: Thửa số 16 diện tích 300m
2
, loại đất
ONT; thửa 26 diện tích 2.602m
2
, loại đất CLN; thửa số 27 diện tích
4.594m
2
tổng diện tích là 7.496m
2
theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất ngày 26
tháng 3 năm 2025.
9
Như vậy, di sản của cụ Lcụ S chết để lại là 7.496m
2
đất cùng căn nhà tình
thương tọa lạc tại ấp B , P, huyện P, tỉnh Hậu Giang, nay P, thành phố
Cần Thơ.
[6] Nguyên đơn đnghị sửa án thẩm theo hướng phân chia di sản thừa kế
theo pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Phạm TC, ông Phạm Văn T, ông
Phạm Hồng T, ông Phạm VT và Ph từ chối hưởng quyền thừa kế. Án
thẩm xác định, di sản của cụ L cụ S được chia thừa kế theo pháp luật thành 06
kỷ phần cho 06 người còn lại là nguyên đơn, bị đơn, Phạm Y, Phạm Thị T,
Phạm L Phạm Thị C. Đối với Phạm Thị C nay cũng mặt để thực
hiện quyền yêu cầu chia thừa kế của mình nên không xem xét chia kỷ phần của
Cúc trong vụ án tạm giao cho người đang quản di sản tiếp tục quản
Ông C nếu có phát sinh yêu cầu sẽ được tiếp tục giải quyết.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thay đổi yêu cầu tạm giao
mà yêu cầu được nhận 01 kỷ phần thừa kế theo pháp luật nên cần thiết điều chỉnh
lại phần chia như sau:
[6.1] Cụ Nguyễn S chết, không đ lại di chúc, nên di sản thừa kế được chia
theo pháp luật theo quy định tại Điu 650 và Điều 651 Bluật Dân s2015. Cụ
L cụ S chết không để lại di chúc; nguyên đơn cho rằng lúc còn sống cụ S
hứa cho nguyên đơn toàn bộ di sản nêu trên, nhưng không có căn cứ chứng minh.
Do đó, như án sơ thẩm phân tích toàn bộ di sản của cụ L cụ S được chia thừa
kế theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật dân sự
phù hợp.
Cụ L và c S tất cả 11 người con, gồm: Phạm L, Phm Văn T, Phạm Thị
C, Phm Hồng T, Phm C, Phm ThT, Phạm Y, Phm TC, Phạm VT, Phm U
Phạm Văn Qy (chết năm 2020, v bà Ph và con là Phạm Ng).
Ông Phạm n Quây chết sau thời điểm mở thừa kế n vẫn được xác đnh là
người thừa kế của cụ S; kỷ phần của ông Quây được chia lại cho vợ và con theo
pháp luật. Như vậy, những người thừa kế hàng thừa kế thứ nhất của cụ L cụ
S 11 người (trong đó: Ông Phạm Văn Quây chết sau thời điểm mở thừa kế nên
vợ của ông Quây là Ph con Phạm Ng được hưởng quyền thừa kế chuyển
tiếp).
[6.2] Di sản của cụ L cụ S theo hồ xác định gm tng diện tích đất
7.496 m² (gồm thửa 16, 26, 27).
Xét yêu cầu ông Phm C tính ng sức đóng góp trong việc tôn tạo, bảo
quản di sản. Nhận thấy, Ông C người trực tiếp sinh sống tại đây có ng
bảo quản, gìn gữ cải tạo đt trong suốt thời gian dài, ng sức đóng góp
10
đáng ktrong việc bảo quản di sản, nên cần phải nh cho ông được hưởng thêm
1 kphần trong khối tài sản chung là thỏa đáng.
[6.3] Theo Chứng tthm đnh giá số 235/2025/76-BĐS ngày 02/4/2025
của ng ty cphần thẩm định g Thống Nhất, tổng g trtoàn bộ quyền s
dụng đất do cụ L và cS đlại 1.827.411.300 đồng; Do 11 người thừa kế
nhưng chia tnh 12 kphần, giá tr01 kphần được c định: 1.827.411.300
đồng : 12 = 152.284.275 đồng/kỷ phần.
[6.4] Theo đó, ông Phm C được ởng 02 kỷ phần: 152.284.275 × 2 =
304.568.550 đồng; c thừa kế khác mỗi người hưởng 01 kỷ phần:
152.284.275 đồng/người.
[6.5] Đối với ông Phạm Văn Quây ã chết): k phần của ông Quây
(152.284.275 đồng) được chia cho những người thừa kế theo pp luật của ông
Quây (vợ và con) theo Điều 651 Bluật n sự. Do hàng thừa kế của ông Qy
gồm 02 người nên mỗi người được ởng ½ kphần: Ph: 76.142.137,5
đồng và Cu Phạm Ng: 76.142.137,5 đồng.
[6.6] t hiện trạng đt không thể chia nhỏ theo hiện vật, việc giao toàn bộ
diện tích đất cho một người quản lý p hp thực tế đm bảo ổn định.
Ông Phạm C đang quản , canh tác toàn bộ diện ch đt, điều kiện duy trì
sử dụng đất, nên giao toàn bộ diện ch đất cho Ông C sử dụng. Tuy nhiên, Ông
C phải tch nhiệm hoàn trả giá trị di sản tương ứng cho các đng thừa kế
khác theo đúng kphần. Số tin Ông C phải hoàn trả: Hoàn trả cho 10 kphần
n lại = 152.284.275 × 10 = 1.522.842.750 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình
thi nh án các bên quyền yêu cầu thi hành án bán phát i i sản đcác
đương sđược nhận theo kỷ phn.
[6.7] Di sản n n 51,95m² được các đương sự thống nht ng vào
việc thờ cúng, p hợp Điều 645 Bộ luật dân sn không chia; giao ông Phạm
C quản lý, không được định đoạt.
[7] Các công tnh, y trồng do ông Phạm C tạo lập sau khi cụ S chết
không phải di sản n không xem t chia. Riêng đối với căn ntình thương
được Nhà nước cấp cho cụ S, đồng thời đây được xem là di sản dùng vào việc thờ
cúng nên không xem xét chia thừa kế giao cho người thực hiện việc thờ cúng
tiếp tục quản lý.
[8] Về án phí dân sthẩm: Các đương sự được nhận thừa kế phải chịu án
phí sơ thẩm.
[8.1] Phạm L, ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị C, ông Phạm Hồng T,
Phạm Thị T, ông Phạm C được miễn án phí do người cao tuổi nên cùng được
xem xét miễn án phí.
11
[8.2] Phm Y, Phm TC, ông Phạm VT, Phạm U và Ph mỗi
người phải chịu án phí là 7.614.214 đồng. Đối với Phạm U được khấu trừ từ
số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.750.000 đồng còn lại bà Phạm U được nhận lại
số tiền là 2.135.759 đồng.
[9] Vchi phí tố tụng: Số tiền 8.540.000 đồng (tám triệu năm trăm bốn mươi
nghìn đồng) chia đều cho 11 người nhận thừa kế, mỗi người phải chịu 776.000
đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), đã làm tròn. Phạm L, ông Phạm
Văn T, bà Phạm Thị C, ông Phạm Hồng T, bà Phạm Thị T, ông Phạm C, bà Phm
Y, bà Phạm TC, ông Phm VT và bà Ph mỗi người phải chịu 776.000 đồng
để giao trả lại cho bà Phạm U do đã tạm ứng trước.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm C được miễn án phí do là người
cao tuổi.
[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như đã nêu trên phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên đề nghị của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
Chp nhn mt phn yêu cu kháng cáo ca ông Phm C v vic yêu cu
kháng cáo đưc miễn án phí do là người cao tui.
Sa bản án thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần
Thơ).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm U.
1. Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn S phần đất tổng diện tích
7.496m
2
(bao gồm: Thửa số 16 có diện tích 300m
2
, loại đất ONT; thửa 26 có diện
tích 2.602m
2
, loại đất CLN; thửa số 27 diện tích 4.594m
2
) thành 12 (mười hai)
kỷ phần. Trong đó:
ng nhận di sản thừa kế ca cụ Nguyễn S gồm toàn bộ diện tích 7.496
đất, giá trị theo Chứng t thẩm đnh giá ngày 02/4/2025 1.827.411.300
đồng (Một ttám trăm hai mươi by triệu bốn tm mười một ngn ba trăm
đồng).
12
Chia di sản theo giá trị thành 12 kỷ phần, giá tr mỗi kỷ phần là:
152.284.275 đồng/kỷ phn.
Xác định kỷ phần thừa kế: Ông Phạm C được hưởng 02 kỷ phần =
304.568.550 đồng. Các thừa kế n lại: mỗi người 01 kỷ phần gm Phạm L,
Phm n T, Phạm Thị C, Phạm Hồng T, Phạm Thị T, Phm Y, Phạm TC,
Phm VT, Phạm U Phạm Văn Quây (chết năm 2020, vợ là Ph và
con Phạm Ng 152.284.275 đồng.
Về kỷ phần của ông Phạm Văn Qy (đã chết): Ph được hưởng:
76.142.137,5 đồng Cháu Phm Ng đưc hưởng: 76.142.137,5 đồng.
2. Ông Phạm C được quyền s dụng toàn bộ các thửa đất diện ch
7.496m² theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Công
ty cổ phần đo đạc Hoàng Huynh Hậu Giang; sau khi hoàn giá tr sut thừa kế số
tiền cho c ông/ sau:
- Phạm L s tiền 152.284.275 đồng (Một tm m ơi hai triệu, hai
trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm bảy ơi lăm đồng).
- Phạm Văn T số tiền 152.284.275 đồng (Một trăm m mươi hai triệu,
hai trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm bảyơi lăm đng).
- Phạm Thị C số tiền 152.284.275 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu,
hai trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm by mươi m đồng).
- Phm Hồng T, số tiền 152.284.275 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu,
hai trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm bảyơi lăm đng).
- Phạm Thị T số tiền 152.284.275 đồng (Một tm năm mươi hai triệu,
hai trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm by mươi m đồng).
- Phm Y s tiền 152.284.275 đồng (Một tm năm mươi hai triệu, hai
trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm by mươim đồng).
- Phạm TC stiền 152.284.275 đồng (Một tm năm mươi hai triệu, hai
trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng).
- Phm VT stiền 152.284.275 đồng (Một tm năm mươi hai triệu, hai
trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm by mươim đồng).
- Phm U s tiền 152.284.275 đồng (Một tm năm mươi hai triệu, hai
trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng).
- Vkphần của ông Phạm Văn Quây (đã chết): Ph được hưởng:
76.142.137,5 đồng cu Phm Ng đưc hưởng: 76.142.137,5 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
13
2.1 Ông Phạm C được quyền quản (không được quyền sở hữu) di sản
dùng vào việc thờ cúng là căn nhà có diện tích 51,95m
2
, có kết cấu: Khung cột bê
tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch bông (hiện trạng: Đang sử dụng,
tường bong tróc, mái tole rỉ sét).
2.2 Đối với các vật kiến trúc khác và cây trồng trên đất do ông Phạm C xây
dựng trồng thuộc quyền sở hữu của ông Phạm C nên không xem xét chia
thừa kế, bao gồm:
- V vt kiến trúc: Mái che trước din tích: 42,75m
2
, ch thước: 4,5 x
9,5 (m),có kết cu: Khung ct thép tin chế, mái tole, nền xi măng (hin
trạng: Đang sử dng, khung thép mái tole r sét). Hàng rào trước din tích:
64,53m
2
, kích thước: 2,7 x 23,9 (m), có kết cu: Tr đà bê tông ct thép, chân xây
ng 10, trên rào lưới B40 (hin trng: Đang sử dụng, lưới B40 r sét).
Mái che bên din ch: 57,50m
2
, kích thước: 5 x 11,5 (m), kết cu: Khung
ct thép tin chế, mái tole, nn gch bông (hin trạng: Đang sử dng, mái tole
r sét). Hàng rào bên có din tích: 20,70m
2
, kích thước: 1,8 x 11,5 (m), có kết cu:
Tr thép tin chế, chân xây tường 10, trên rào lưới B40 (hin trạng: Đang sử
dụng, lưới B40 r sét). Phòng ng có diện tích 22,54 m², kích thước: 4,6 x 4,9 (m),
có kết cu: Khung ct bê tông ct thép, vách tường, mái tole, nn gch bông (hin
trạng: Đang sử dụng, tường bong tróc, mái tole r sét). Nhà sau có din tích: 23,75
m², kích thước: 2,5 x 9,5 (m), kết cu: Khung ct tông ct thép, vách
tole, mái tole, nền xi măng (hin trạng : Đang sử dng, mái tole r sét). Mái che
sau diện tích: 39,56 m², kích thước: 4,3 x 9,2 (m), kết cu: Khung ct bê
tông ct thép đúc sẵn, mái tole, nn gch tàu (hin trạng: Đang s dng, mái tole
r sét).
- V cây trng: sa loi A: 04 cây; Xoài loi A: 05 cây; Mãng cu loi
A: 01 cây; Khế loi A: 01 cây; Da loi A: 6 cây; Chui loi A: 15 cây; Mít loi
A: 06 cây; i loi A: 01 cây; Cóc loi A: 01 cây; Mãng cu loi C: 01 cây; Da
loi C: 09 cây; Chui loi C: 27 cây; Mít loi C: 02 cây; Da loi D: 03 cây;
Chui loi D: 35 cây; Sn loi A: 03 cây; Sn loi C: 02 cây; Tràm bông vàng
loi D: 02 cây; Tràm loi C: 03 cây; Mai vàng có ĐK từ 03-05 cm: 03 cây.
2.3 Sau khi thc hiện xong nghĩa v đối với các đồng tha kế nêu trên thì
ông Phm C đưc quyn liên h với cơ quan chức năng tiến hành th tc cp giy
chng nhn quyn s dụng đất ti các tha số 16 diện tích 300m
2
, loại đất
ONT; thửa 26 diện tích 2.602m
2
, loại đất CLN; thửa số 27 diện tích
4.594m
2
, loại đất HNK
(hình thể diện tích thể hiện theo Phiếu đo đạc chỉnh
thửa đất ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Công ty cổ phần đo đạc Hoàng Huynh
Hậu Giang) theo quy định pháp lut.
14
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự được nhận thừa kế để phải chịu
án phí sơ thẩm.
3.1 Bà Phạm L, ông Phạm Văn T, Phạm Thị C, ông Phạm Hồng T,
Phạm Thị T, ông Phạm C do là người cao tuổi nên được miễn án phí.
3.2 Phạm Y, Phm TC, ông Phạm VT, Phạm U và Lê Ph mỗi
người phải chu án phí là 7.614.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm mười bốn nghìn
đồng).
3.3 Đối với Phạm U được khấu trừ tsố tiền tạm ứng án phí đã nộp
9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lphí Tòa án số 0007171 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện P, tỉnh Hậu Giang (Nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 -
Cần Thơ) thành án phí dân sự thẩm. Bà Phạm U được nhận lại số tiền
2.136.000 đồng (Hai triệu một trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
4. Về chi phí tố tụng: Số tiền 8.540.000 đồng (tám triệu m trăm bốn
mươi nghìn đồng). Buộc bà Phạm L, ông Phạm Văn T, bà Phạm Thị C, ông Phạm
Hồng T, Phạm Thị T, ông Phạm C, Phạm Y, bà Phạm TC, ông Phạm VT,
Phạm U Ph mỗi người phải chịu 776.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi
sáu nghìn đồng).
Phạm U đã nộp đủ 8.540.000 đồng (tám triệu năm trăm bốn mươi nghìn
đồng) nên đã nộp xong. Các đương sự còn lại tại phần [4] của quyết định này phải
nộp để trả lại cho Phạm U.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm C được miễn án phí do là người
cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, (Ngày 10
tháng 12 năm 2025).
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Cần Thơ;
- Tòa án nhân dân KV 13 - Cần Thơ;
- Phòng Thi hành án DS KV 13 - Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
15
Lê Thị Minh Trang
Tải về
Bản án số 706/2025/DS-PT Bản án số 706/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 706/2025/DS-PT Bản án số 706/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất