Bản án số 70/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 70/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 70/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lương Văn N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 70/2026/HS - PT
Ngày 15 tháng 6 năm 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương
Bà Trương Thị Anh
- Thư phiên toà: Trịnh Thu Trang - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Lê Thị Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử
phúc thẩm trực tuyến ng khai (điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh
Hóa; điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh T) vụ án thụ lý số
105/2026/TLPT-HS ngày 14/5/2026 đối với bị cáo Lương Văn N, do có kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thanh Hóa đối với bản án
hình sự sơ thẩm số 14/2026/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân
Khu vực 13 - Thanh Hoá.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Lương Văn N, sinh ngày 13/02/1994 tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi thường trú nơi hiện nay: Bản Khuông, N, tỉnh Thanh Hóa; số
CCCD: ************ (theo danh chỉ bản số 35 lập ngày 07/12/2025 tại Phân trại
tạm giam khu vực Q); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân
tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương
Văn N1 Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 28/11/2025;
có mặt tại Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh T.
Ngoài ra còn có 02 bị cáo khác không kháng cáo và cũng không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
2
Khoảng 15 giờ ngày 27/11/2025, Văn T, sinh năm 1982, ttại thôn A,
H, tỉnh Thanh HóaLương Văn N, sinh năm 1994, trú tại bản Khuông, xã N, tỉnh
Thanh Hóa đang đứng chơi ở sân quán K, thuộc thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa. T rủ
N mua ma túy (hồng phiến) về cùng sử dụng thì N đồng ý, N đưa cho T 1.000.000đ
(Một triệu đồng) gồm 02( hai) tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn
đồng) đT đi mua ma túy còn N thì đến Nhà nghỉ M thôn D, xã H, tỉnh Thanh Hóa
lấy phòng nghỉ chờ T. Sau đó, T nhắn tin từ tài khoản Zalo của nh "Lê Toàn"
đến tài khoản "Ah Lợi" của Đức L, sinh năm 1984, trú tại thôn K, xã H, tỉnh
Thanh Hóa đê mua 1.000.000đ (Một triệu đồng) ma túy (hồng phiến). L đồng ý và
hẹn T ra đập tràn thuộc thôn K, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Sau đó, L lấy ttrong ống nhựa màu xanh ra 10 viên ma túy hồng phiến bỏ vào
trong 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x8) cm, lấy băng dính màu trắng
quấn lại rồi cầm túi ma túy đi đến điểm hẹn. Trên đường đi mua ma túy T đã gọi điện
lại cho N hỏi sphòng thì N thông báo đang ở phòng 3, nhà nghỉ M. Trên đường đến
điểm hẹn, T L gặp nhau tại đoạn đường liên thôn gần trường tiểu học T1, H,
tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, T đưa cho L số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) gồm 02
(hai) tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), L đưa lại cho T 01 (một) túi
ma túy chứa 10 viên ma túy tổng hợp ( hồng phiến), rồi L đi về nhà, còn T cất số ma
túy vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc quay vnhà nghỉ M. T vào
phòng số 3 của nhà nghỉ đặt túi ma túy lên bàn uống nước rồi đi ra ngoài tìm và lấy
được 01 (một) ống tre đống củi ngoài sân của nhà nghỉ làm ống hút, T mượn của
chị Lường Thị N2, sinh năm 1966, trú tại Thôn D, H, tỉnh Thanh Hóa người
quản lý Nhà nghỉ M 01 con dạo dài khoảng 20cm, có cán bằng nhựa màu đen, phần
lưỡi dao bằng kim loại để chặt ống tre ngoài sân nhà nghỉ rồi mang ống tre vào phòng
vót nhọn làm ống hút.
Khi vào phòng nghỉ T đốt điếu thuốc châm vào chai nhựa tạo thành lỗ rồi cắm
ống tre vào để làm ống hút. Nhuận lấy giấy bạc trong bao thuốc lá làm máng để đặt
ma túy. Sau khi làm xong N lấy 01 viên ma túy (hồng phiến) đặt lên giấy bạc, dùng
bật lửa đốt tạo khói đưa T sử dụng trước, T hút xong chuyển cho N tự đốt ma túy
(hồng phiến) để hút khói ma túy vào cơ thể. T thấy ống tre bị tắc nên bảo với N để T
đi tìm ống tre mới.
Khi T vừa mở cửa phòng thì gặp Công an đến kiểm tra. Do sợ bị phát hiện N
liền cầm 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong chứa
09 (chín) viên nén hình tròn màu đỏ ném xuống sàn nhà vệ sinh thì bị Công an phát
hiện nên N đã nhặt túi nilon chứa ma túy giao nộp cho Công an và khai nhận 09 viên
nén hình tròn màu đỏ là ma túy (hồng phiến).
Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ trong phòng 01 chai
nhựa màu trắng thân chai đục lỗ; 01 ống tre dài khoảng 11 cm; 01 bật lửa ga; 01
mảnh giấy bạc (dạng giấy bạc trong bao thuốc lá) có 1 đầu bị cháy xém, trên bề mặt
bị cháy xém có chất bám dính màu đỏ; 01 dao dài khoảng 20cm, phần lưỡi dao bằng
kim loại, phần cán dao bằng nhựa đen.
3
- Tại bản Kết luận giám định số: 4664/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2025
của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận:
Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Văn
T, Lương Văn N gửi đến giám định.
- Tại bản Kết luận giám định số: 4674/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2025
của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận:
Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Đức L niêm phong gửi
đến giám định.
- Tại bản Kết luận giám định số: 4665/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2025
của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận:
+ 09 viên nén hình tròn màu đỏ ma túy, có tổng khối lượng 1,032g (một phẩy
không bạ hai gam) loại Methamphetamine.
+ Chất màu đỏ bám dính trên mảnh giấy bạc là ma tuý, loại Methamphetamine,
không xác định được khối lượng chất ma túy.
+ 10 viên nén hình tròn màu đỏ là ma túy, khối lượng 1,022g (một phẩy
không hai hai gam) loại Methamphetamine.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2026/HSST ngày 09/4/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 13-Thanh Hóa căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Các
Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lương Văn N 02 năm 09 tháng về tội
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày
28/11/2025. Ngoài ra bản án thẩm còn xử phạt Văn T 03 năm về tội “Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Đức L 04 năm về tội “Mua bán trái phép
chất ma túy, xử lý vật chứng, án phí.
Ngày 16/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-Thanh Hóa
ban hành quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSKV13, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
tăng hình phạt đối với Lương Văn N.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật hình sự: Chấp nhận
kháng nghị số 01/QĐ-VKSKV13 ngày 16/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 13-Thanh a, tăng hình phạt đối với Lương Văn N t03-05
tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, các chứng
cứ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-Thanh
Hóa về quyền, thủ tục, thời hạn kháng nghị đúng quy định tại các Điều 336, 337 Bộ
luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện, phù hợp
với các tài liệu chứng cứ được các Cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ
4
vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ xác định: Ngày 27/11/2025, Lê Văn T
rủ Lương Văn N mua ma túy sử dụng, N đưa cho T 1.000.000đ để đi mua của
Đức L 10 viên ma túy tổng hợp, N thuê nhà nghỉ M để sử dụng ma túy, tại đây T đốt
điếu thuốc châm vào chai nhựa rồi cắm ng tre vào làm ống hút, N lấy giấy bạc
tạo máng đặt ma túy, N đốt ma túy đưa T sử dụng trước, N sử dụng sau, khi N đi ra
ngoài lấy ống tre mới để làm ống hút thì bị Công an bắt quả tang.
Do hành vi trên, Toà án cấp thẩm xbị cáo tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy là đúng.
[3] Về nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực
13 - Thanh Hóa:
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp thẩm đã xem xét tình tiết: Tại giai đoạn
điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận - tình tiết
giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại
khoản 19 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự, theo đó khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự khung hình phạt từ 03 - 07
năm. Bị cáo Lương Văn N chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù (dưới
mức khởi điểm của khung hình phạt) không đúng quy định tại khoản 1 Điều 54
Bộ luật hình sự. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 13 - Thanh Hóa đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với bcáo
có căn cứ.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng
hình sự:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-
Thanh Hóa, sửa bản án hình sự thẩm số 14/2026/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực 13 - Thanh Hoá.
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự (được sửa đổi theo quy định tại
khoản 19 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
* Xử phạt: Bị cáo Lương Văn N 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng chất
ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2025.
* Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND Khu vực 13-Thanh Hóa;
- VKSND Khu vực 13-Thanh Hóa;
- Cơ quan CSĐT, THAHS tỉnh Thanh Hóa;
- Phòng THADS Khu vực 13 -Thanh Hóa;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA. Lê Thanh Hùng
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Thu Hương Trương Thị Anh Lê Thanh Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2026/HS-PT Bản án số 70/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất