Bản án số 70/2021/DS-ST ngày 23/12/2021 của TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 70/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 70/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 70/2021/DS-ST ngày 23/12/2021 của TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hiệp Hòa (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 70/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 70/2021/DS-ST
Ngày: 23- 12- 2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Chức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trường - Ông Nguyễn Xuân
Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hoà tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà,
tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2021/TLST – DS
ngày 22/10/2021 về việc tranh hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 99/2021/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn C1, sinh năm 1951 – có mặt
Địa chỉ: thôn ĐN, xã ĐB, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị G, sinh năm 1955 – vắng mặt và có đơn xin vắng
mặt
Địa chỉ: xóm t, thôn BT, xã ĐB, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1955 vắng mặt và có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: xóm t, thôn BT, xã ĐB, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Bà Đỗ Thị M1,sinh năm 1951 vắng mặt và có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Địa chỉ: thôn ĐN, xã ĐB, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông
Đặng Văn C1 trình bày:
2
Ngày 01/7/2019 ông có cho vợ chồng ông H1, bà G vay tiền để làm ăn với số
tiền là 100 triệu đồng với lãi suất là 0,4%/tháng. Ông bà có hứa hẹn là 3 tháng trả
lãi một lần, ông đã lên đòi nhiều lần nhưng vợ chồng bà G, ông H1 không trả ông.
Ông xác định đây là tài sản chung của vợ chồng ông và ông yêu cầu Tòa án buộc
ông H1, bà G phải trả tiền vay gốc là 100 triệu và tiền lãi từ khi vay đến khi xét xử.
Tại phiên hòa giải ông C1 thay đổi yêu cầu, ông chỉ yêu cầu bà G trả số tiền gốc và
lãi cho vợ chồng ông, ông không yêu cầu ông H1 phải trả cùng bà G. Ông yêu cầu
bà G phải trả cho ông tiền lãi với mức 0,4%/tháng từ ngày 01/7/2019 đến khi Tòa
án xét xử.
Bị đơn Bà Đặng Thị G trình bày: Bà có vay của ông C1 100 triệu đồng với
lý do vay hộ anh Nguyễn Hữu T1 để anh T1 mở công ty ở bên Lào. Đến nay anh
T1 chưa trả được cho bà nên bà chưa có để trả cho ông C1. Bà đã trả lãi cho ông
C1 được 3 năm với lãi suất là 1,5% bây giờ không trả được thì ông C1 có lên nhà
bà thì bà vẫn bảo là khi anh T1 trả thì bà sẽ trả cho ông C1. Việc vay mượn này
của bà với mục đích là để cho anh T1 vay không phải là để phát triển kinh tế gia
đình nên chồng và con bà không có liên quan gì. Nay ông C1 khởi kiện yêu cầu bà
trả số tiền 100 triệu đồng bà đồng ý nhưng khi nào anh T1 trả cho bà thì bà mới trả
cho ông C1. Bà G đồng ý trả số tiền gốc còn về số tiền lãi thì bà xin miễn do bà
tuổi cao không lao động được.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H1 trình bày:
Ông là chồng bà G. Việc vay mượn giữa ông Đặng Văn C1 với bà Đặng Thị
G cụ thể như thế nào thì ông không được rõ. Ông chỉ biết việc bà G vay của ông
C1 nhưng là vay hộ cho người khác, không vay để phát triển kinh tế gia đình. Số
tiền bà G vay ông không được sử dụng và không được cầm. Ông xác định đây là
khoản nợ riêng của bà G, không phải là nợ chung của gia đình và đề nghị Tòa án
không đưa ông vào tham gia tố tụng trong vụ án. Do tuổi cao sức yếu ông xin được
vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của vụ án này.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị M1trình bày: Vợ chồng
bà có cho bà G vay số tiền 100 triệu đồng đến ngày 01/7/2019 bà G viết giấy nhận
nợ cho vợ chồng bà. Mục đích vay tiền của bà G là để làm ăn với lãi suất là
0,4%/tháng tính từ ngày vay. Vợ chồng bà đã đòi nhiều lần nhưng bà G không trả
cho bà tiền gốc và tiền lãi nào. Bà xác định đây là khoản nợ riêng của bà G, không
liên quan đến ông Đặng Văn H1. Nay bà yêu cầu bà G trả cho bà số tiền gốc 100
triệu đồng và tiền lãi với mức là 0,4%/tháng từ ngày vay đến khi xét xử.
Tại phiên toà, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện của mình.
Nguyên đơn ông Đặng Văn C1 trình bày: Ông yêu cầu Bà G phải trả ông
tiền gốc là 100 triệu và tiền lãi với mức là 0,4%/tháng từ ngày 01/7/2019 đến
ngày 01/12/2021. Ông cho bà G vay trước thời điểm 01/7/2019, khi vay hai bên
không viết giấy vay tiền. Do đòi nhiều lần không được nên ông mới yêu cầu bà G
phải viết giấy vay tiền. Từ ngày 01/7/2019 đến nay bà G chưa thanh toán trả cho
ông được số tiền lãi nào. Việc bà G xin miễn tiền lãi ông không đồng ý.
3
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hoà phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành
đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng
Điều 352; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự 2015
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Buộc bà Đặng Thị G phải trả cho ông Đặng Văn C1, bà Đỗ Thị M1số tiền
gốc là 100 triệu đồng và tiền lãi là 11.600.000 đồng.
Về án phí: Miễn án phí dân sự cho bà Đặng Thị G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi
nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Ông Đặng Văn C1 khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng Thị G, ông Đặng Quang Hiển có nơi cư trú tại xã
ĐB, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trả số tiến vay và tiền lãi. Tòa án nhân dân
huyện Hiệp Hoà đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng
pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều
227,228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người này.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy: Tại bút lục số 03 là
giấy có nội dung thể hiện bà Đặng Thị G có vay của ông Đặng Văn C1 100 triệu
với lãi suất là 0,4%/tháng phô tô, tại bút lục số 44 là bản gốc của văn bản này. Tại
các bản tự khai, biên bản hòa giải bà G cũng thừa nhận khoản nợ này, bà vay tiền
của ông C1 với mục đích để cho người khác vay, không dùng vào phát triển kinh
tế gia đình. Ông H1 chồng bà G không biết việc vay mượn này, ông C1, bà M1
cũng chỉ yêu cầu bà G phải trả số tiền vay này. Đến nay, bà G vẫn chưa trả được
một khoản tiền gốc nào cho ông C1 là vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1
Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Căn cứ quy định tại Điều 352, Điều 357 Bộ luật
dân sự 2015 bà G phải có trách nhiệm trả tiền gốc và tiền lãi cho ông C1 tương
ứng với thời gian chậm trả. Do vậy, ông C1 khởi kiện yêu cầu cả bà G phải trả
100 triệu đồng tiền gốc và tiền lãi là có căn cứ cần được chấp nhận. Vì ông H1
không biết về khoản vay này, bà G vay cũng không vì mục đích phát triển kinh
tế, ông C1, bà M1 cũng không yêu cầu ông H1 phải trả số tiền này do vậy cần
buộc bà Đặng Thị G phải trả cho ông C1, bà M1 số tiền gốc và tiền lãi đã vay là
đúng quy định của pháp luật.
4
[3] Áp dụng pháp luật về tính lãi về mức tức lãi, thời gian tính lãi, HĐXX thấy:
Trong giấy vay tiền giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất vay với mức lãi suất
là 0,4%/tháng tương đương là 4,8%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ
luật dân sự.
Trong giấy hai bên không thỏa thuận về thời hạn trả nên được xác định là hợp
đồng vay không có kỳ hạn và có lãi suất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ
luật dân sự thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất kỳ khi nào và được nhận lại
tiền lãi đến thời điểm nhận lại tài sản. Do vậy, ông C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án
tính lãi từ ngày 01/7/2019 đến khi Tòa án xét xử là có căn cứ, đúng quy định của
pháp luật; Bà G đề nghị được miễn tiền lãi nhưng ông C1, bà M1 không đồng ý
nên cần được chấp nhận yêu cầu này của ông C1. Tại phiên tòa, ông C1 thay đổi
yêu cầu về thời gian tính lãi từ ngày 01/7/2019 đến ngày 01/12/2021 nên số tiền lãi
bà G phải trả cho ông C1 là: 100.000.000 đồng x 0,4% x 29 tháng = 11.600.000
đồng.
[4] Về án phí: Bà G là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí; Căn cứ
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 3262016 ngày 30/12/2016 của
UB thường vụ quốc hội nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà G.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 146; Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Điều 352; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 469 Bộ luật dân sự 2015
Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn C1. Xử:
1. Buộc bà Đặng Thị G phải trả cho Đặng Văn C1, bà Đỗ Thị M1số tiền gốc
là 100 triệu đồng và tiền lãi là 11.600.000 đồng. Tổng số tiền bà G phải trả cho
ông C1, bà M1 là 111.600.000 đồng. .
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền gốc, hàng tháng bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
5
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 - Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi
hành án dân sự.
2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đặng Thị G
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt án
hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Hiệp Hoà;
- CCTHADS huyện Hiệp Hoà;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA – VP .
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký)
Đặng Văn Chức
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm