Bản án số 67/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 67/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 67/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 67/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 67/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Thuận |
| Số hiệu: | 67/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/04/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận kháng cáo |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B
Bản án số: 67/2025/DS-PT
Ngày: 04/4/2025
V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và thực hiện nghĩa vụ do
người chết để lại”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử phc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị TT
Các Thẩm phán: ông Phạm Thái B và bà Vũ Thị Thanh H
Thư ký phiên tòa: ông Trần Việt Q – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tnh b
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun: bà Nguyễn Thị H- Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh B xét xử phc thẩm
công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLPT-DS, ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”. Do Bản án
dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân
thành phố P bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phc thẩm số
58/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số
28/TB-TA ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
N đơn: bà Khương Thị Thanh Q – sinh năm: 1982
Địa ch: số 196, khu phố 1, Ấp Nam Hà, xã Xuân Bảo, huyện C, tnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của N đơn: ông Trần N, sinh năm: 1981
Địa ch: số 558B Cách Mạng Tháng 8, thị trấn Võ Xu, huyện Đ, tnh B
Bị đơn:
1. Huỳnh Thị Thảo N, sinh năm: 1989
Địa ch: Tổ 2, khu phố 2, phường Bình Hưng, thành phố P, tnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Trần Thị Lệ C, sinh năm: 1998
Địa ch: 192 Đình Phong Ph, phường Tăng Nhơn Ph B, thành phố T, thành
phố H.
2. Nguyễn N L, sinh năm: 2018
3. Nguyễn T L, sinh năm: 2014
Địa ch: Tổ 2, khu phố 2, phường Bình Hưng, thành phố P, tnh B.
2
Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn N L và Nguyễn T L: bà Huỳnh Thị
Thảo N, sinh năm: 1989
Địa ch: Tổ 2, khu phố 2, phường Bình Hưng, thành phố P, tnh B.
4. Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm: 1965
Địa ch: số 11, thôn Bình Thủy, xã P, huyện B, tnh B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thế Cường, sinh năm: 1976
Địa ch: số 196, Khu 1, Ấp Nam Hà, xã Xuân Bảo, huyện C, tnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế Cường: ông Trần N, sinh
năm: 1981
Địa ch: số 558B Cách mạng tháng 8, thị trấn Võ Xu, huyện Đ, tnh B.
2. Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam
Địa ch: số 02, Nguyễn Tất Thành, thành phố P, tnh B.
3. Bà Kiều Thảo Vy, sinh năm: 1983
4. Bà Bùi Thị Kim H, sinh năm: 1964
5. Bà Huỳnh Thảo Ngân, sinh năm: 1996
Cùng địa ch: Thôn Bình Thủy, xã P, huyện B, tnh B.
Người làm chứng: ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1974
Địa ch: số 334 đường ĐT 720, Thôn 6, thị trấn Võ Xu, huyện Đ, tnh B
Tại phiên toà có mặt ông Trần N, bà Trần Thị Lệ C, ông Nguyễn Văn T, những
người khác vắng mặt.
Người kháng cáo: người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Lệ C
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
- Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, N đơn và đại diện trình bày:
trong quá trình quen biết, bà Khương Thị Thanh Q có cho ông Nguyễn Lê Cát T vay
tiền để đầu tư làm ăn. Ngày 09/12/2021, bà Q chuyển cho ông T số tiền
2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) vào tài khoản ngân hàng số 7650111403007 được
mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần quân đội (MB Bank). Số tiền này ông T
chưa kịp trả lại cho bà Q thì đến ngày 23/01/2022, ông T bị tai nạn chết. Cụ thể:
Ngày 09/12/2021, bà Khương Thị Thanh Q chuyển khoản cho ông T 05 lần,
mỗi lần 400.000.000 đồng (Bốn trăm T đồng). Tổng cộng số tiền vay là
2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Mã giao dịch lần lượt là: 17492163, 17492218,
17492258, 17492282,17492351. Nội dung chuyển tiền là chuyển cho T mượn L1, L2,
L3, L4, L5, tổng 5 lần 2 tỷ.
3
Theo yêu cầu của ông Nguyễn Lê Cát T, số tiền trên được chuyển vào tài
khoản sau:
Tên tài khoản: NGUYỄN LÊ CÁT T.
Số tài khoản: 7650111404007.
Ngân hàng: Thương mại cổ phần Quân đội (MB Bank).
Ngày 23/01/2022, ông Nguyễn Lê Cát T bị tai nạn chết, bà Khương Thị Thanh
Q đã nhiều lần yêu cầu vợ ông T là bà Huỳnh Thị Thảo N có nghĩa vụ liên đới trả
khoản tiền này nhưng bà N không đồng ý trả. Vì đây là khoản nợ chung của vợ chồng
bà N, ông T trong thời kỳ hôn nhân nên bà N phải có nghĩa vụ trả cho bà Q ½ khoản
tiền nợ chung là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Số tiền 1.000.000.000 đồng (Một
tỷ đồng) còn lại hàng thừa kế thứ nhất của ông T, gồm cha ông T là Nguyễn Hoài N,
vợ ông T là Huỳnh Thị Thảo N, con ông T là Nguyễn N L, Nguyễn T L có nghĩa vụ
hoàn trả cho bà Khương Thị Thanh Q.
Nay bà Khương Thị Thanh Q yêu cầu bà Huỳnh Thị Thảo N và các đồng thừa
kế hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Lê Cát T phải có nghĩa vụ trả cho bà
Khương Thị Thanh Q số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng); cụ thể như sau:
- Bà Huỳnh Thị Thảo N phải trả cho bà Khương Thị Thanh Q ½ khoản nợ
chung, số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
- Buộc các đồng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất gồm: Huỳnh Thị Thảo N,
Nguyễn Hoài N, Nguyễn N L, Nguyễn T L, trước khi thực hiện phân chia di sản thừa
kế thì phải có nghĩa vụ dùng khối di sản này để thực hiện nghĩa vụ do ông Nguyễn Lê
Cát T chết để lại, phải trả cho bà số tiền còn lại 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Khi còn sống, ông Nguyễn Lê Cát T và vợ là Huỳnh Thị Thảo N đã dùng tài
sản của mình để bảo đảm cho các khoản vay tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh
B, cụ thể như sau:
1. Hợp đồng tín dụng số 551000937047, ngày ký hợp đồng: 18/01/2019, ngày
kết thc hợp đồng: 02/02/2026.
2. Hợp đồng tín dụng số 554001029745, ngày ký hợp đồng: 06/11/2019, ngày
kết thc hợp đồng: 07/11/2039.
3. Hợp đồng tín dụng số 556000699369, ngày ký hợp đồng: 20/4/2017, ngày
kết thc hợp đồng: 25/4/2022.
4. Hợp đồng tín dụng số 558000311163, ngày ký hợp đồng: 21/8/2015, ngày
kết thc hợp đồng: 21/8/2025.
5. Hợp đồng tín dụng số 559000771735, ngày ký hợp đồng: 27/10/2017, ngày
kết thc hợp đồng: 08/11/2027.
6. Hợp đồng tín dụng số 559001221890, ngày ký hợp đồng: 21/7/2021, ngày
kết thc hợp đồng: 21/7/2026.
Các tài sản mà vợ chồng ông Nguyễn Lê Cát T, bà Huỳnh Thị Thảo N thế chấp
để đảm bảo cho các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nói trên thuộc về vấn đề
bảo mật của khách hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Do vậy N đơn
4
không thể tiếp cận, cung cấp các thông tin về tài sản đang thế chấp của ông T, bà N
được. Vì vậy, đề nghị Tòa xác minh, thu thập các thông tin tài sản đang thế chấp tại
Ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh B của ông T, bà N theo các thông tin
được cung cấp nêu trên để làm cơ sở giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn và người đại diện trình bày: ông Nguyễn
Lê Cát T, sinh năm 1986 ở khu phố 2, phường Bình Hưng, thành phố P, tnh B là
chồng bà Huỳnh Thị Thảo N, công tác tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam
Chi nhánh B. Ngày 19/01/2022, ông Nguyễn Lê Cát T bị tai nạn giao thông và chết
ngày 23/01/2022. Do ông T chết đột ngột nên bà N không biết việc làm ăn của ông T.
Vợ chồng ông T, bà N có 02 người con là Nguyễn T L, sinh năm 2014 và Nguyễn N
L, sinh năm 2018. Các con hiện đang đi học, còn bà N làm tiệm tóc, lương tháng của
chồng bà N thì Ngân hàng trừ nợ, còn tiệm tóc là thu nhập hàng ngày dùng cho chi
phí sinh hoạt gia đình và phụ trả thêm tiền Ngân hàng.
Tài sản chung của vợ chồng tạo lập là căn nhà cấp 4C ở đường thủ Khoa Huân
vào năm 2013 là do vay ngân hàng mua. Diện tích đất 3.360m
2
trồng thanh long ở
huyện B là do cha mẹ bà mua nhưng do có con rể làm ở Ngân hàng nên mượn tên bà
đứng tên để vay Ngân hàng cho dễ và hàng tháng cha mẹ bà đưa tiền cho bà trả Ngân
hàng từ nguồn thu nhập của thanh long. Xe ô tô mua vào năm 2019 là bà N và em gái
bà vay Ngân hàng để mua, hàng tháng bà N và em gái cùng trả lãi và gốc cho Ngân
hàng. Một căn nhà cấp 4C hẻm đường Lê Duẩn vay Ngân hàng mua và hiện vẫn còn
nợ ngân hàng. Toàn bộ tài sản này vợ chồng bà N đứng tên vay ngân hàng nên bà
biết. Sau khi chồng bà N chết, bà đã bán căn nhà cấp 4C ở đường Thủ Khoa Huân để
trả nợ cho Ngân hàng. Em gái bà N đưa tiền còn lại trả Ngân hàng và bà N đã chuyển
nhượng xe cho em gái bà. Đất trồng thanh long ở huyện B diện tích 3.360m
2
cha mẹ
bà N nhờ trả Ngân hàng và bà chuyển nhượng trả lại cho cha mẹ bà. Ch còn lại căn
nhà cấp 4C hẻm đường Lê Duẩn vẫn còn nợ Ngân hàng căn nhà này.
Đối với khoản nợ bà Khương Thị Thanh Q, sinh năm 1983, ở số 196 khu phố
1, ấp Nam Hà, xã Xuân Bảo, huyện C, tnh Đ số tiền 2.000.000.000 đồng. Sau khi
chồng bà Huỳnh Thị Thảo N mất 49 ngày, bà Q đến nhà bà đòi và bà nói là không
biết gì về số tiền này. Bà Q khởi kiện cho rằng cho chồng Bà mượn tiền chuyển tiền
vào tài khoản qua tin nhắn. Chồng Bà không đem số tiền này về cho gia đình, gia
đình cũng không có thêm tài sản gì, tài sản mà bà khai là có trước, không có tài sản
nào mới mua sắm, số tiền chồng Bà vay không có lập hợp đồng vay và theo quy định
nếu chồng vay phải có tên người vợ ký vì vay số tiền quá lớn.
Bà Huỳnh Thị Thảo N cho rằng chồng Bà chết không có tài sản để lại và nợ
không có chứng cứ rõ ràng nên bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Khương
Thị Thanh Q về việc yêu cầu bà Huỳnh Thị Thảo N phải trả cho bà Khương Thị
Thanh Q ½ khoản nợ chung, số tiền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Buộc các
đồng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất gồm: Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn Hoài N,
Nguyễn N L, Nguyễn T L, trước khi thực hiện phân chia di sản thừa kế thì phải có
nghĩa vụ dùng khối di sản này để thực hiện nghĩa vụ do ông Nguyễn Lê Cát T chết để
lại, phải trả cho bà số tiền còn lại 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) thì bà không
đồng ý.
Bị đơn ông Nguyễn Hoài N trình bày:
5
Tại đơn xin vắng mặt ngày 27/02/2023, bị đơn ông Nguyễn Hoài N trình bày:
ông Nguyễn Hoài N là cha ruột của ông Nguyễn Lê Cát T. Vào đầu năm 2022,
Nguyễn Lê Cát T mất do tai nạn giao thông. Sau khi con ông Nhân là Nguyễn Lê Cát
T mất thì có một số người đến nói con ông Nhân làm ăn chung và vay mượn tiền
nhưng bản thân ông Nhân không biết về vấn đề này và cũng đã từ chối nhận di sản
do con trai ông Nhân để lại nên ông Nhân xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế Cường trình bày: ông
là chồng của bà Khương Thị Thanh Q. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Khương Thị
Thanh Q đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn Huỳnh Thị Thảo N phải trả cho bà Q
số tiền 1.000.000.000 đồng, các đồng thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ông Nguyễn
Lê Cát T phải có nghĩa vụ dùng khối di sản thừa kế của ông T thực hiện nghĩa vụ trả
nợ cho bà Q số tiền còn lại là 1.000.000.000 đồng. Số tiền 2.000.000.000 đồng là tài
sản riêng của bà Q. Khi bà Q cho ông T mượn để làm ăn thì ông Cường không biết.
Việc bà Q cho ông T mượn tiền như thế nào, hình thức ra sao là tự bà Q thỏa thuận
với ông T, ông không được biết. Ông Cường yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định
pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Công Thương chi
nhánh B trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Lê Cát T, bà Huỳnh Thị Thảo N có vay vốn tại Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh B gồm 06 khoản vay và đăng ký thế
chấp tài sản cho các khoản vay này bằng 06 tài sản. Đến ngày 31/08/2022 ch còn
khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 1942074/2019-HĐCV/NHCT600 ngày
06/11/2019 với số tiền vay 1.200.000.000 đồng, số tiền đã trả 87.500.000 đồng, còn
lại 1.112.500.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày thực tế thanh toán. Tài sản bảo đảm
còn lại là 03 tài sản, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 174390, số vào sổ cấp GCN: CH01408 do
UBND thành phố P cấp ngày 15/6/2015, cập nhật biến động ngày 25/02/2019; Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số X429469 do UBND huyện B cấp ngày 10/11/2023;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BK684993 do UBND huyện B cấp ngày 07/6/2012. Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam Chi nhánh B yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp
luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thảo Ngân trình bày: bà
Huỳnh Thảo Ngân là em ruột của bà Huỳnh Thị Thảo N. Bà Ngân và bà N có vay
ngân hàng mua chung 01 chiếc xe ô tô hiệu Ford và trả gốc, lãi hàng tháng. Đến khi
ông Nguyễn Lê Cát T bị tai nạn mất thì bà Ngân trả hết số tiền còn lại và sở hữu
chiếc xe ô tô hiệu Ford. Bà Ngân và bà N đã lập hợp đồng chuyển nhượng và cập
nhật giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tại Công an huyện B ngày 07/9/2022.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Kim H trình bày:
Năm 2017, bà Bùi Thị Kim H có mua 02 mảnh đất nông nghiệp có trồng sẵn
cây thanh long ở xã P, huyện B. Do ông Nguyễn Lê Cát T là con rể của bà Hà làm ở
Ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh B nên bà nhờ con gái là Huỳnh Thị Thảo
6
N đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng và bà trả tiền lãi
và tiền gốc theo quy định. Đến đầu năm 2022, ông T mất do tai nạn giao thông nên bà
Hà trả hết số tiền còn lại và bà N đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho bà và đang cập nhật tại tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiều Thảo Vy trình bày:
Ngày 12/10/2022, bà Kiều Thảo Vy có mua 01 căn nhà cấp 4 ở hẻm 84 Thủ
Khoa Huân, thành phố P của bà Huỳnh Thị Thảo N, làm hợp đồng chuyển nhượng và
cập nhật quyền sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai P.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của
Tòa án nhân dân thành phố P đã quyết định:
1. Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm h
khoản 1 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;
-Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều
614, Điều 615, Điều 616, Điều 617, Điều 620 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- Điều 27, khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân gia đình
-Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của N đơn bà Khương Thị Thanh Q về việc
buộc bị đơn bà Huỳnh Thị Thảo N phải có trách nhiệm trả nợ vay cho N đơn bà
Khương Thị Thanh Q số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Khương Thị Thanh Q đối với bị
đơn bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn N L, Nguyễn T L, ông Nguyễn Hoài N.
Buộc bà Huỳnh Thị Thảo N và Nguyễn N L, Nguyễn T L do bà Huỳnh Thị
Thảo N là người đại diện theo pháp luật phải có trách nhiệm trả cho bà Khương Thị
Thanh Q số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) trong phạm vi giá trị di sản thừa
kế ông Nguyễn Lê Cát T để lại, gồm: phần sở hữu xe ô tô căn cứ theo giấy chứng
nhận đăng ký xe ô tô số 020173 được Phòng Cảnh sát Công an tnh B cấp ngày
25/01/2019, đăng ký lần đầu ngày 25/01/2019, biển số 86 A-097.29; phần quyền sử
dụng đất tọa lạc tại thửa đất số: 32, tờ bản đồ số 13, địa ch: Khu phố 9, phường Ph
Trinh, thành phố P, tnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 174390, số vào sổ cấp GCN: CH01408
do UBND thành phố P cấp ngày 15/6/2015, cập nhật biến động ngày 25/02/2019 và
ngày 27/11/2019; phần quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số: 312, tờ bản đồ số 1,
địa ch: xã P, huyện B, tnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 913822, số vào sổ cấp GCN: CH00466
do UBND huyện B cấp ngày 24/9/2010, cập nhật biến động ngày 16/05/2017 và ngày
04/8/2017; phần quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số: 313, tờ bản đồ số 1, địa
ch: xã P, huyện B, tnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

7
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 913821, số vào sổ cấp GCN: CCH0048
do UBND huyện B cấp ngày 24/9/2010, cập nhật biến động ngày 16/05/2017 và ngày
04/8/2017, phần quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số: 285, tờ bản đồ số 05, địa
ch: Khu phố 2, phường Bình Hưng, thành phố P, tnh B theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AH 389040, số vào sổ cấp GCN: H00017 do UBND thành phố P cấp
ngày 11/7/2007, cập nhật biến động ngày 15/08/2013.
Ông Nguyễn Hoài N không phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ do
ông Nguyễn Lê Cát T chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, việc thi
hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 đại diện theo ủy quyền bị đơn bà Trần Thị Lệ C
có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phc thẩm: người kháng cáo giữ N yêu cầu kháng cáo, yêu cầu
sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn.
Đại diện theo ủy quyền của N đơn yêu cầu giữ N án sơ thẩm .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp
luật trong vụ án:
- Về thủ tục: việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng trong vụ án là đng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ N bản án dân sự sơ thẩm số
97/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của TAND thành phố P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại
phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét thấy đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền bị đơn bà Trần Thị Lệ
C trong thời hạn luật định và đã thực hiện việc nộp tạm ứng án phí phc thẩm theo
quy định tại khoản 1 Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét
theo thủ tục phc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: N đơn khởi kiện yêu
cầu bị đơn hoàn trả số tiền 2.000.000.000 đồng do ông Nguyễn Lê Cát T đã nợ trước
khi chết để lại. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” là đng quan hệ tranh chấp.
Bị đơn có nơi cư tr tại thành phố P, tnh B. Do đó, Toà án nhân dân thành phố P áp
8
dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự giải
quyết vụ án là đng thẩm quyền.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa bà Huỳnh Thị Thảo N vắng mặt
nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, kháng cáo
toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DSST, ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân
dân thành phố P cho rằng giữa ông T và bà Q không phát sinh khoản nợ vay, N đơn
không đưa ra tài liệu chứng cứ cho việc vay mượn nên không có trách nhiệm trả nợ
và không thực hiện nghĩa vụ người chết để lại.
[4.1] Xét các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
do có quan hệ làm ăn nên khi ông Nguyễn Lê Cát T (chết ngày 23/01/2022) còn sống,
vào ngày 09/12/2021 bà Khương Thị Thanh Q có chuyển cho ông T tổng cộng 5 lần
với số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ đồng) đồng vào tài khoản ngân hàng số
7650111403007 được mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần quân đội (MB Bank),
tên tài khoản là Nguyễn Lê Cát T. Theo bà Q cho rằng đây là khoản nợ của ông T,
đến ngày 23/01/2022 chưa trả khoản nợ trên cho bà Q thì ông T bị tai nạn giao thông
chết. Theo sổ hạch toán chi tiết của tài khoản ông Nguyễn Lê Cát T từ ngày
09/12/2021 đến ngày 31/12/2021 do Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội chi
nhánh B, số tiền nhận của ông T từ tài khoản của bà Q 5 lần chuyển khoản trong cùng
ngày 09/12/2021 qua các mã giao dịch lần lượt là: 17492163, 17492218, 17492258,
17492282,17492351. Nội dung chuyển tiền: Chuyen cho Tuong muon L1, L2, L3, L4,
L5. Mỗi lần chuyển 400 triệu đồng, tổng 5 lần là 2 tỷ đồng. Ngoài ra trên bản sao kê
tài khoản đã thể hiện một số giao dịch của ông T thể hiện: ngày 11/12/2021 phát sinh
nợ 18.200.000 đồng do trả tiền mua yến, ngày 13/12/2021 phát sinh nợ 7.600.000
đồng do trả tiền mua yến, ngày 18/12/2021 phát sinh nợ 950.000 đồng do trả tiền mua
yến, ngày 20/12/2021 phát sinh nợ 140.000.000 đồng do trả tiền cọc đất. Ngoài ra
ông Nguyễn Lê Cát T còn thực hiện một số giao dịch khác phát sinh sau đó.
Như vậy, cấp sơ thẩm xác định ông T có nhận tiền qua tài khoản do bà
Khương Thị Thanh Q chuyển 5 lần, tổng cộng số tiền 2.000.000.000 đồng là có cơ
sở. Tuy nhiên, sau khi ông T chết thì vào ngày 09/02/2022, số tài khoản
102000300412 của ông Nguyễn Văn T chuyển vào số tài khoản 180414849171723
của bà Khương Thị Thanh Q với nội dung “Tra lai tien vay cho Tuong ngày 09-12-
2021” đối với số tiền 60.000.000 đồng.
Tại lời khai của ông Nguyễn Văn T và tại phiên tòa phc thẩm, ông thừa nhận
đã chuyển khoản trả vào cho bà Khương Thị Thanh Q khoản tiền vay của T vào ngày
09/02/2022 nhưng khai nại mục đích do ông là người giới thiệu cho ông T vay tiền
của bà Q nên khi ông T chết ông thấy bà Q khó khăn ông hỗ trợ cho bà Q chuyển vào
tài khoản bà Q 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa phc thẩm, đại diện theo ủy quyền của
bà Q xác định không biết khoản tiền trên là tiền gì, không được bà Q thông tin lại
nhưng xác nhận tài khoản có nhận tiền 60.000.000 đồng là của bà Q. Như vậy, bà Q
đã nhận lại số tiền 60.000.000 đồng do ông T trả thay cho ông T cho nên số tiền nợ
9
của ông T là 2.000.000.000 đồng sau khi trừ đi 60.000.000 đồng thì nghĩa vụ thanh
toán còn lại là 1.940.000.000 đồng.
[4.2] Về xác định nghĩa vụ trả nợ: tại đơn khởi kiện bà Khương Thị Thanh Q
xác định khoản vay mượn 02 tỷ đồng và buộc bà N phải chịu ½ số tiền trên. Tại bản
án sơ thẩm xác định ông T vay tiền của bà Q để thực hiện nhu cầu thiết yếu của vợ
chồng, do đó xác định vợ ông T (đã chết) là bà Huỳnh Thị Thảo N phải có trách
nhiệm trả cho bà Q ½ số tiền của 02 t đồng.
Tuy nhiên, qua các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngoài việc bà Khương Thị
Thanh Q có 05 lần chuyển tiền qua tài khoản cùng ngày 09/12/2021 cho ông T qua
các mã giao dịch lần lượt tại tài khoản cá nhân trong hệ thống Ngân hàng của ông T
và nội dung trên tin nhắn chuyển tiền do bà Khương Thị Thanh Q tự soạn, việc vay
mượn không có ai chứng kiến, ch có ông T và bà Khương Thị Thanh Q biết. Bà
Khương Thị Thanh Q không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác để xác định mục
đích khoản vay này để sử dụng chung của vợ chồng là ông T và N.
Tại phiên tòa sơ thẩm và quá trình giải quyết vụ án tại cấp phc thẩm, đại diện
theo ủy quyền của N đơn không xuất trình có việc thỏa thuận khác hoặc tài liệu
chứng cứ gì liên quan đến khoản nợ chung vợ chồng nên không có căn cứ xác
định số tiền bà Khương Thị Thanh Q chuyển vào tài khoản của ông T là khoản nợ
chung của vợ chồng ông T bà N. Hơn nữa, sau khi nhận số tiền 02 t đồng vào tài
khoản của ông T, thì trong ngày 09/12/2021 tài khoản ông T đã thực hiện việc rt số
tiền 1.700.000.000 đồng và chưa có cơ sở để xác định số tiền ông T rt dùng vào mục
đích gì. Bà Huỳnh Thị Thảo N không thừa nhận việc ông T dùng số tiền trên vào
mục đích chung của vợ chồng và cũng xác lập khoản tiền trên khi ông T nhận là
khoản tiền riêng giữa ông T với bà Q.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định nợ chung của ông T, bà N và xác định bà
Nguyễn phải thực hiện nghĩa vụ đối với số tiền 1.000.000.000 đồng và những
người thuộc hàng thừa kế của ông T phải thực hiện nghĩa đối với số tiền
1.000.000.000 đồng là không chính xác. Mà phải xác định đây là khoản nợ riêng
của ông T, nhưng do ông T đã chết nên những người thừa kế thứ nhất của ông T
gồm các ông, bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn N L, Nguyễn T L, Nguyễn Hoài N phải
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông T với số tiền là 1.940.000.000 đồng
trong phạm vi phần di sản thừa kế do ông T chết để lại. Nội dung kháng cáo này của
đại diện bị đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4.3] Đối với phần quyết định phân chia di sản thừa kế: mặc dù không có
đương sự yêu cầu phân chia di sản, xác định di sản của người chết để lại nhưng Tòa
án cấp sơ thẩm vẫn xác định di sản của ông T chưa chia gồm các tài sản đang thế
chấp tại Ngân hàng theo biên bản định giá tài sản: phần sở hữu xe ô tô biển số 86 A-
097.29; phần quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 174390, cập nhật biến động ngày
25/02/2019 và ngày 27/11/2019; phần quyền sử dụng đất tọa theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB
913822 cập nhật biến động ngày 16/05/2017 và ngày 04/8/2017; phần quyền sử dụng
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số BB 913821, cập nhật biến động ngày 16/05/2017 và ngày
10
04/8/2017; phần quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH
389040, số vào sổ cấp GCN: H00017 do UBND thành phố P cấp ngày 11/7/2007,
cập nhật biến động ngày 15/08/2013. Cấp sơ thẩm còn xác định ông Nguyễn Hoài N
do từ chối nhận di sản nên không phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ do
ông Nguyễn Lê Cát T chết để lại là không đng và vượt quá phạm vi khởi kiện ban
đầu.
Xét thấy, tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa N đơn xác định ch yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ do người chết để lại, không yêu cầu xác định phần di sản của người
chết để lại, để phân chia. Do đó, ch cần tuyên buộc bị đơn là người hàng thừa kế thứ
nhất của ông Nguyễn Lê Cát T (đã chết) thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi di
sản người chết để lại.
[5] Đối với phần án phí: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ chịu án phí là
bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn N L và Nguyễn T L do bà Huỳnh Thị Thảo N là
người đại diện theo pháp luật nộp 42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu
cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại. Bà Huỳnh Thị Thảo N phải nộp
42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.
Tòa án sơ thẩm xác định án phí phải chịu như trên là không đng. Do xác định
lại nghĩa vụ trả nợ do ông Nguyễn Lê Cát T (đã chết) đối với số tiền 1.940.000.000
đồng, nên án phí được xác định là 70.200.000 đồng. Bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn
N L, Nguyễn T L, Nguyễn Hoài N phải chịu 70.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
trong phạm vi phần di sản thừa kế do ông Nguyễn Lê Cát T để lại.
Như phần nhận định tại Mục 4.1 thì nghĩa vụ thanh toán còn lại là
1.940.000.000 đồng nên bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền
60.000.000 đồng không được chấp nhận.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều sai sót trong việc xác định phần nợ chung và
nghĩa vụ do người chết để lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa phc thẩm Hội đồng xét xử đã
xác định lại số tiền phải thực hiện nghĩa vụ và những vấn đề có liên quan. Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
[7] Do bản án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự
phc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2024/DS-
ST, ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P.
Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
điểm h khoản 1 Điều 40, điểm b, d khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân
sự;
11
- Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 612, 613, 614, Điều 615 Bộ
Luật dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân gia đình;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Khương Thị Thanh Q về buộc
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Lê Cát T thực hiện nghĩa
vụ của ông Nguyễn Lê Cát T (do ông T đã chết ngày 23/01/2022).
Buộc các ông bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn Nguyễn Lam, Nguyễn T L,
Nguyễn Hoài N (hàng thừa kế thứ nhất ông Nguyễn Lê Cát T) có trách nhiệm hoàn
trả cho bà Khương Thị Thanh Q số tiền 1.940.000.000 (một tỷ chín trăm bốn mươi
triệu) đồng trong phạm vi phần di sản thừa kế do ông Nguyễn Lê Cát T chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
3.1 Về án phí dân sự sơ thẩm: các ông bà Huỳnh Thị Thảo N, Nguyễn Nguyễn
Lam, Nguyễn T L, Nguyễn Hoài N phải chịu 70.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
trong phần di sản thừa kế do ông Nguyễn Lê Cát T chết để lại.
Bà Khương Thị Thanh Q phải chịu 3.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
khấu trừ số tiền 36.000.000 đồng tạm ứng án phí bà Quyền đã nộp theo biên lai số
009653 ngày 27/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Còn lại
33.000.000 đồng hoàn trả cho bà Q.
3.2 Về án phí dân sự phc thẩm: hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Thảo N số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí phc thẩm tại biên lai thu tiền số 0001036 ngày
08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sư thành phố P.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân
sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
4. Bản án phc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
12
Nơi nhn:
- VKSND tnh Bình Thuận;
- TAND TP. P;
- VKSND TP. P;
- Chi cục THADS TP. P;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, TDS
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị TT
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm