Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 67/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Thuận An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 67/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Bản án số:67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”
NHÂN DANH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.
1. Bà Trần Ngọc Phương
2. Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Thuận An, tỉnh Bình
Dương tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
239/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày
06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị V, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện P,
tỉnh Thái Nguyên; tạm trú: 174/434/21 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh
Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện P, tỉnh
Thái Nguyên; tạm trú: 174/434/21 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình
Dương, vắng mặt.
trình bày:
Bà Bùi Thị V và ông Bùi Văn T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau,
có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh
Thái Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 60, cấp ngày 28/10/2005.
Sau khi kết hôn ông T, bà V sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian
chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không
hợp nhau, sự bất đồng trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp,

2
hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà V, ông T đã ly thân không ai quan tâm đến
ai. Nay bà V xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V yêu cầu Tòa án giải quyết để ông
được ly hôn với Bùi Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Thị T1, sinh ngày
07/10/2006 và Bùi Khánh V1, sinh ngày 30/11/2014. Khi ly hôn, bà Bùi Thị V yêu
cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại bản tự khai ngày 09/5/2024 ông Bùi Văn T trình bày: Ông và bà V kết
hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Thái Nguyên, đến năm
2019 vợ chồng vào Bình Dương để sinh sống và làm ăn. Tại đây vợ chồng sống trọ,
vợ buôn bán gà, ông T cùng vợ buôn bán và thu mua phế liệu (kính bể), thu nhập
mỗi tháng cũng hơn 10.000.000 đồng. Vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc nhưng thời
gian gần đây vợ chồng không còn như trước bà V thường xuyên đi sớm về muộn.
Bà V đã dọn ra ở riêng cùng 02 con cách đây 01 tháng nhưng vẫn chung dãy trọ.
Ông T không đồng ý ly hôn vì ông cho rằng ông còn thương vợ, thương con không
muốn vợ chồng ly hôn để con cái phải khổ. Ngoài ra, ông T là người có đạo nên
việc ly hôn là không thể chấp nhận.
Ngày 20/6/2024 bà Bùi Thị V có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông
Bùi Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước
phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn
của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn
chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố
tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì
thêm.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[1] Về tố tụng:
: Bà Bùi Thị V và ông Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nay bà V có đơn xin ly hôn với ông T và có yêu cầu giải quyết về vấn đề con
chung. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy
định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự .
: Ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị V là vợ chồng,
sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái
Nguyên theo giấy chứng nhận kết hôn số 60, cấp ngày 28/10/2005 là hôn nhân hợp

3
pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà V cho rằng vợ chồng chung sống
hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ
chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau, không còn ai quan
tâm đến ai. Vợ chồng ly thân, bà V đã thuê chỗ trọ khác để sinh sống. Bà V có
nguyện vọng được ly hôn cùng ông T. Ông T không đồng ý ly hôn và cho rằng bản
thân còn thương vợ, thương con. Xét, hôn nhân phải dựa trên cơ sở vợ chồng phải
yêu thương, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Ông T cho rằng còn thương vợ và
không muốn ly hôn vì ông là người có đạo. Tuy nhiên, bà V đã từng nộp đơn khởi
kiện ly hôn và rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, ông T cho
rằng còn thương vợ, thương con không muốn ly hôn nhưng cũng không có biện
pháp nào cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Như vậy, trên thực tế ông T bà V đã
không còn chung sống, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà V đã thật sự trầm
trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà V
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông T là có căn cứ, đúng pháp luật
theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Vợ chồng có con chung tên Bùi Thị T1, sinh ngày
07/10/2006 và Bùi Khánh V1, sinh ngày 30/11/2014. Khi ly hôn, bà Bùi Thị V yêu
cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Xét, tại bản tự khai con
chung Bùi Thị T1 và Bùi Khánh V1 đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Ông
T đồng ý với nguyện vọng các con, khi ly hôn các con sẽ do bà V nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục. Xét, hiện 02 con chung đang sống cùng mẹ là bà V và ông T
đồng ý giao con cho bà V nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử giao con Bùi Thị T1, sinh ngày
07/10/2006 và Bùi Khánh V1, sinh ngày 30/11/2014 cho bà V chăm sóc nuôi
dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị V không yêu cầu ông Bùi Văn T cấp
dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa
án không đặt ra xem xét.
Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên
Tòa chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị V phải nộp theo quy định
của pháp luật.
,
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều
147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.

4
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị V về việc "ly hôn,
tranh chấp về nuôi con" đối với bị đơn ông Bùi Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị V được ly hôn với ông Bùi Văn T.
Về con chung: Giao con chung Bùi Thị T1, sinh ngày 07/10/2006 và Bùi
Khánh V1, sinh ngày 30/11/2014 cho bà Bùi Thị V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục.
Không ai được quyền cản trở ông Bùi Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc
con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà
án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
sau này khi cần thiết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị V không yêu cầu ông Bùi Văn T cấp
dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Bùi Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình,
được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số 0001838 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành
phố Thuận An.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy
định
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND TP. Thuận An;
- CC THADS TP. Thuận An;
- Các đương sự;
- UBND xã Tức Tranh, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
-
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 06/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm