Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 13/11/2024 của TAND huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Liêu (TAND tỉnh Quảng Ninh)
Số hiệu: 64/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/11/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Vũ Thị Sang; bị đơn Nguyễn Văn Tiến
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 11 - 2024
“V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Kiều
Bà Đàm Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét
xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 49/TLST-HNGĐ, ngày 02
tháng 8 năm 2024, về việc:
“Lyn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xsơ thẩm số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Thị S, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn 7, Ng, thị Đ
(nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; nơi hiện nay: số 1, ngách 25, ngõ 550,
đoạn 2, đường Ấ, C, D, Đ, Đài Loan; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn 7, xã Ng, thị xã Đ
(nay là thành ph), tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị M; địa chỉ: thôn A,
H, huyện Th, tỉnh Hải Dương; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1 - Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Vũ Thị S
trình bày:
- Về tình cảm: chị Thị S anh Nguyễn Văn T kết hôn trên sở tự
nguyện, đăng kết hôn ngày 18/4/2003, tại UBND Nguyễn Huệ, thị Đông
Triều (nay là thành phố Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn chung sống
2
hạnh phúc. Đến năm 2015, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan
điểm sống, anh T rượu chè, thiếu trách nhiệm với gia đình, do mâu thuẫn kéo dài,
trầm trọng nên vợ chồng ly thân từ năm 2015, chị S về nhà ngoại thôn A, H,
huyện Th, tỉnh Hải Dương sinh sống, đến năm 2016 đi lao động tại Đài Loan đến
nay. Chị S xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đnghị Tòa án giải quyết cho
ly hôn.
- Về con chung: hai con chung Nguyễn Thúy H, sinh ngày 21/9/2003 đã
trưởng thành và Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010, đang do bà ngoại Trần Thị
M nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị nhận nuôi con chung tạm thời nhờ mẹ đẻ chăm sóc
nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị S không yêu cầu giải quyết.
Do điều kiện địa lý, công việc chị Scó đơn đề nghị tchối hòa giải xét xử
vắng mặt.
2 - Bị đơn anh Nguyễn Văn T có lời khai thể hiện:
- Về tình cảm; các điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị S trình
bày. Anh T xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết
cho ly hôn.
- Về con chung: hai con chung như chị Strình bày, anh quan điểm con
chung Nguyễn Thúy H, sinh ngày 21/9/2003 đã trưởng thành, còn lại Nguyễn Thúy
Ng, sinh ngày 17/6/2010 chưa trưởng thành, anh nhận nuôi con chung không yêu
cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: ch S và anh T không yêu cầu giải quyết.
Do điu kiện công việc anh Tcó đơn đnghị từ chối hòa giải t x vng mt.
3 - Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị M trình bày: mẹ
đẻ của chị sang, hiện nay chị S đi lao động nước ngoài, do anh T hay rượu chè,
không quan tâm đến con cái nên đã đón cháu Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày
17/6/2010 về quê nuôi dưỡng, học tập gần nhà tnăm 2022 đến nay, bà tiếp tục nuôi
dưỡng cháu Ng khi nào chị S về Việt Nam bà giao lại con chung cho chị S.
Do điều kiện sức khỏe, đi lại và công việc bà M có đơn đề nghị từ chối hòa giải
và xét xử vắng mặt.
Công văn số: 3114/XNC ngày 08/8/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh -
Bộ Công an thể hiện: chị Vũ Thị S đã xuất nhập cảnh 03 lần; lần gần nhất xuất cảnh
ngày 18/7/2024 qua cửa khẩu Cảng HKQT Nội Bài, chưa thông tin nhập cảnh
Việt Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc
3
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật T tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình
giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo
quy định pháp luật. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng,
đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn
khởi kiện của chị Vũ Thị S.
Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị S được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: giao con chung Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010 cho chị
Thị S nuôi dưỡng, đồng thời tạm giao cháu Nguyễn Thúy Ng cho Trần Thị M
nuôi dưỡng cho đến khi chị S về Việt Nam. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
Về tài sản chung, nchung: chị Svà anh Tkhông yêu cầu giải quyết, nên không
xét.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng, quan hệ pháp luật: chị Thị S, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn
7, Ng, thị xã Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; nơi hiện nay: số 1, ngách
25, ngõ 550, đoạn 2, đường , C, D, Đ, Đài Loan, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978;
địa chỉ: thôn 7, xã Ng, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh, do đó, vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và quan hệ pháp
luật: Ly n và tranh chấp nuôi con chung”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm
2014.
[2] Nguyên đơn chị Thị S, bị đơn anh Nguyễn Văn T, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Trần Thị M đơn đnghị từ chối hòa giải xét xvắng
mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hi đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Xét u cầu khởi kiện của chị Thị S yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử,
thấy: chị Vũ Thị S và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết
hôn ngày 18/4/2003, tại UBND xã Nguyễn Huệ, thị Đông Triều (nay thành phố
4
Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc. Đến năm
2015, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Trượu
chè, thiếu trách nhiệm với gia đình, do mâu thuẫno dài, trầm trọng nên vợ chồng
ly thân từ năm 2015, chị Svề nhà ngoại thôn An Sơn, xã Hồng Quang, huyện Thanh
Miện, tỉnh Hải Dương sinh sống, đến năm 2016 đi lao động tại Đài Loan đến nay.
Chị Sanh T xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải
quyết cho ly hôn. Thấy rằng, chị Sanh Nguyễn Văn T không còn tồn tại thực tế
đời sống chung vợ chồng. Như vậy, mc đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị S và xử cho chị Vũ Thị S được
ly hôn với anh Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật
Hôn nhân và Gia đình.
[4] Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử, thấy: chị Vũ Thị S
anh Nguyễn Văn T hai con chung Nguyễn Thúy Hằng, sinh ngày 21/9/2003
đã trưởng thành và Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010, đang do bà Trần Thị M
nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị nhận nuôi con chung tạm thời nhờ mẹ đẻ chăm sóc
nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Tcó quan điểm nhận nuôi con chung không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng.
Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con sau khi ly hôn, quy định:
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không có khả năng lao động và không tài sản để tự nuôi mình theo quy
định của Luật này, Bộ luật Dân sự các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi
bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết
định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quy định:
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được
sống chung với người trực tiếp nuôi”.
Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: từ khi chị S đi lao động ở nước ngoài, do anh
Thay rượu chè, không quan tâm đến con cái nên Trần Thị M đã đón cháu Nguyễn
Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010 về quê nuôi dưỡng và học tập gần nhà từ năm 2022
đến nay, quan điểm tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ng khi nào chS vViệt Nam
bà giao lại con chung cho ch S.
Nguyện vọng của cháu Nguyễn Thúy Ng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
5
vậy, giao con chung cháu Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010 cho chị
Snuôi dưỡng phù hợp pháp luật, đồng thời tạm giao cháu Nguyễn Thúy Ng cho
Trần Thị M nuôi dưỡngcho đến khi chị S về Việt Nam.
Con chung Nguyễn Thúy H, sinh ngày 21/9/2003 đã trưởng thành nên không
xét.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên
không xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị S anh T không yêu cầu giải quyết, nên
không xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: chị Sphải chịu 300.00 án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên
tòa có căn cứ chấp nhận.
[7] Quyền kháng cáo, kháng nghị: các đương sự được quyền kháng cáo, Viện
kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228,
238, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 127 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị S, về việc: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân: chị Thị S được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: giao con chung Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 17/6/2010 cho chị
Thị S nuôi dưỡng, đồng thời tạm giao cháu Nguyễn Thúy Ng cho bà Trần Thị M
nuôi cho đến khi chị S về Việt Nam. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
“Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không
trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của
mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con”.
6
Về tài sản chung, nợ chung: chị S anh T không yêu cầu giải quyết, n không
xét.
Về án phí dân sự thẩm: chị Thị S phải chịu 300.000đ, được trừ số tiền
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số:
0005870 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Chị Vũ Thị S có quyền kháng cáo trong thời hạn trong hạn 01 tháng kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn
Văn T, bà Trần Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Qung Ninh;
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- Cục THADS tnh Qung Ninh;
- UBND xã Nguyễn Huệ, thị xã Đông
Triều (nay là thành phố Đông Triều);
- Lưu: Vp, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐNG XT X SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Văn Thắng
7
Thành viên Hội đồng xét xử
Đàm Thị Thanh Thủy Đỗ Xuân Hoài
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Ngô Văn Thắng
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Qung Ninh;
- TAND cấp cao;
- Cục THADS tnh Qung Ninh;
- UBND phường Hà Khẩu;
TM. HỘI ĐNG XT X SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
- Lưu Vp, hồ sơ vụ án.
Ngô Văn Thắng
Tải về
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất