Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thủy Nguyên (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 64/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 64/2024/DS-ST
Ngày 26-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUN, THÀNH PHHI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Bà Bùi Thuý M
- Thư phiên tòa: Ông Phùng Thế Thành - Thư Tòa án nhân dân huyện
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Th- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên,
phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2022/TLST-DS ngày
29 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xsố 27/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 Thông báo m
lại phiên toà số 374/TB-TA ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam; địa chỉ
Trụ sở chính: Tầng 1 (tầng trệt) tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur,
phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, Lưu
Ngọc Q; nơi cư trú: quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, là đại diện theo uỷ quyền
(văn bản uỷ quyền số 0931 ngày 03-5-2024) Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, Thị M, ng nơi trú: huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm
1981; nơi trú: huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; đại diện theo uỷ
quyền. Có mặt.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, Nguyễn
Thị X; cùng nơi trú: huyện Thủy Nguyên Thành phố Hải Phòng. Ông H vắng
mặt, bà X có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai tại phiên toà nguyên đơn, đại diện
theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc
Tế Việt Nam (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn Hải, bà Lê Thị M
ký các hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số 136A/HĐTD1-VIB060/13
ngày 14-6-2013, theo hợp đồng n dụng, Ngân hàng giải ngân cho ông Hải M vay
bằng 02 khế ước nhận nợ, Khế ước nhận nợ ngày 24-02-2014 cho vay số tin
80.000.000 đồng, khế ước nhận nợ ngày 26-02-2014 cho vay số tiền 80.000.000 đồng.
mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh hàng phế liệu, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất
cho vay: 13,29% m. Phương thức trnợ: Nợ lãi trả hàng tháng vào ngày 15, nợ
gốc trả vào ngày 26-8-2013.Hợp đồng tín dụng số 136B/HĐTD1-VIB060/13 ngày
14-6-2013, Ngân hàng giải ngân theo khế ước nhận nợ ngày 29-8-2013 cho ông
Hải, bà M vay stin 300.000.000 đồng. Mục đích vay: Xây nhà, thời hạn vay 36
tháng kể từ ngày 29-8-2013, lãi suất cho vay bằng 13,79%/năm ktừ ngày nhận nợ
đầu tiên, điều chỉnh 3 tháng /lần, lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cho vay của sản
phẩm bất động sản do VIB công btại thời điểm điều chỉnh. Phương thức trả nợ:
Trnợ lãi vào ngày 15 hàng tháng, ngốc 03 tháng/1 lần, mỗi lần 25.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 127C, tờ bản đồ 01 tại thôn Núi, xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Hà, bà Nguyễn
Th Xe theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số
136A/060/013 ngày 27 tháng 8 năm 2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hải, bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc
và lãi, để nợ quá hạn từ ngày 24-8-2014. Năm 2015, ông Hải bà M không trả được
nợ, ông Hà, bà Xe đã bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng bán phát mại để thu
hồi nợ, năm 2018 Ngân hàng đã bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng số tiền
thu được từ việc bán tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho ông Hải bà M. Tính
đến ngày 26-9-2024 ông Hải M còn nợ ngân hàng tổng số tiền 761.163.652
đồng, trong đó nợ gốc 210.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 33.148.809 đồng,
nợ lãi quá hạn 517.514.843 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hải, M
phải trả toàn bộ số nợ nêu trên tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong. Trong
trường hợp ông Hải, M không thanh toán được khoản nợ nêu trên thì đề nghị
Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền kê biên phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu sử
dụng của ông Hải, bà M để thu hồi nợ.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Ông Nguyễn Văn Hải và bà Lê
Thị M ký các hợp đồng tín dụng như Ngân hàng trình bày là đúng, Trong năm
đầu tiên sau khi vay tiền, ông Hải, M đã trả được 85.000.000 đồng tiền gốc
tiền lãi kèm theo, cụ thể stiền nợ gốc, nợ lãi đã trả bao nhiêu ông Hải không
nhớ. Để đảm bảo cho số tiền vay, ông Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Thị Xe đã ký
3
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa số 127C,
tờ bản đồ 01 tại thôn Núi, Trung Hà, huyện Thủy Nguyên đã được UBND huyện
Thủy Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 877442 số vào s
CH00314 ngày 18-4-2013 cho chsử dụng ông Nguyễn Văn Hà, bà Nguyễn Thị
Xe. Năm 2017, khi không thực hiện được trả nợ, ông Hà, bà Xe đã đồng ý bàn giao
tài sản thế chấp nên trên cho Ngân hàng để bán thu hồi nợ. Ông Hà, Xe tự nguyện
bàn giao tài sản cho Ngân hàng bán để trả toàn bộ số ngốc nợ lãi còn lại của
ông Hải, M theo Hợp đồng tín dụng số 136A/HĐTD1-VIB060/13 ngày 14 tháng
6 năm 2013 và hợp đồng tín dụng số 136B/HDDTD1-VIB060/13 ngày 14 tháng 6
năm 2013 ông Hải M đã với Ngân ng. Toàn bộ số nợ, gốc nợ lãi còn
lại của ông Hải M đã được thanh toán xong từ khi ông Hà, Xe n giao tài
sản thế chấp cho Ngân hàng.
Sau khi ông Hà, Xe bàn giao tài sản cho Ngân hàng để phát mại, ông Hải,
M không nhận được bất kỳ thông báo nào của Ngân hàng về việc bán phát mại
tài sản, cũng như bán tài sản được bao nhiêu tiền, và thu hồi trả vào nợ gốc của nợ
lãi ca ông Hải M là bao nhiêu và Thông báo của Ngân hàng về việc ông Hải,
bà M còn nợ theo hợp đồng tín dụng hay thông báo yêu cầu trả nợ. Quan điểm của
ông Hải, bà M không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Xe trình bày: Để đảm bảo cho các
khoản vay của ông Nguyễn Văn Hải, Thị M theo các Hợp đồng tín dụng đã
với Ngân hàng, năm 2013 chồng Nguyễn Văn đã hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 136/A/060/013 ngày 27 tháng 8 năm
2013 với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất số BN 877442 số vào sổ CH00314 ngày 18-4-2013 do UBND huyện Thủy
Nguyên cấp cho chủ sử dụng ông Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Thị Xe. Trong
quá trình thực hiện trả nợ, ông Hải, bà M đã trả góp được hàng tháng trong 1 năm.
Đến năm 2015, khi ông Hải, bà M không thực hiện được trả nợ, ông Hà, bà Xe đã
tự nguyện bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng để bán trả toàn bộ số nợ gốc
nợ lãi còn lại của ông Hải, M. Sau khi bàn giao i sản cho Ngân hàng để phát
mại, ông Hà, bà Xe không nhận được bất kỳ thông báo nào của Ngân hàng bán tài
sản được bao nhiêu tiền, thu hồi trả vào nợ gốc của nợ lãi của ông Hải M là
bao nhiêu. Gia đình không nhận được thông báo của Ngân hàng về việc sau khi bán
tài sản phát mại thì ông Hải, bà M vẫn còn nợ Ngân hàng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về việc giải quyết vụ án như
sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến
hành giải quyết vụ án cơ bản theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Các
đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Vnội dung khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 122, 123, 124, 290, 323, 342, 343, 347, 351, 355, 471, 474,
715, 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật Dân sự m 2015;
Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 210 Luật các tổ
4
chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lphí Tòa án: Chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi theo
các hợp đồng tín dụng đã ký. B đơn còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh cho
đến khi trả hết nợ. Không chấp nhận yêu cầu quan thẩm quyền biên phát
mại tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bđơn để thu hồi nợ. Bị đơn phải
chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hpháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Hợp
đồng tín dụng ký giữa nguyên đơn với bị đơn có mục đích bổ sung vốn kinh doanh
phế liệu xây nhà nên được xác định tranh chấp dân sự. Bị đơn hiện đang
trú tại huyện Thủy Nguyên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu đòi nợ gốc, nợ lãi của nguyên đơn: Các hợp đồng tín dụng
được giữa Ngân hàng và bị đơn đã kết trên sở hoàn toàn tự nguyện, c
chủ thể tham gia kết đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức nội
dung hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
nên làm phát sinh quyền nghĩa vụ của các n. Bđơn người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trình bày sau khi bđơn không trả được nợ, gia đình đã bàn giao
tài sản thế chấp cho Ngân hàng để bán trả nợ. Khoản nợ ca ông Hải, M đã được
thanh toán hết khi bàn giao tài sản cho Ngân hàng. Ngoài lời trình bày trên, bị đơn
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan không cung cấp được các i liệu chứng
cứ chứng minh các bên thoả thuận bàn giao tài sản để khấu trừ toàn bộ nghĩa v trả
nợ của bị đơn cũng như không chứng minh được tại thời điểm bán tài sản thế chấp,
số tiền thu được đã thanh toán toàn bộ khoản nợ cho bị đơn. Theo tài liệu có trong
hồ sơ vụ án thể hiện, tài sản thế chấp đã bán được là 190.000.000 đồng, sau khi trừ
đi các chi phí bán tài sản số tiền còn lại là 174.500.000 đồng. Số tiền này Ngân
hàng đã chuyển trả vào số tiền ngốc của bị đơn. Tính đến ngày 26-9-2024, ông
Hải M còn nNgân hàng tổng số tiền 761.163.652 đồng, trong đó nợ gốc
210.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 33.148.809 đồng, nợ lãi quá hạn
517.514.843 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hải, bà M trả số nợ nêu trên
là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thuộc quyền
sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn Hải, bà Lê Thị M: Trong quá trình thực hiện
hợp đồng tín dụng, năm 2015 người thế chấp đã tnguyện bàn giao tài sản đã thế
chấp cho Ngân hàng bán phát mại để thu hồi nợ. Hiện nay không còn tài sản bảo
đảm cho các hợp đồng tín dụng nêu trên nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn về việc Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại
tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn Hải, bà Lê Thị M để thu
hồi nợ.
5
[4] Ván phí: Ông Hải, M người cao tuổi nên được miễn án p
thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
[5] Vquyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng o bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1
Điều 39, Khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271, 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 116, 117, 299, 303, 304, 307, 463 Điều 466
của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 95 của Luật các Tổ chức tín dụng
Luật phí lệ phí, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Quốc Tế Việt Nam: Buộc ông Nguyễn Văn Hải, bà Lê Thị M phải trả nợ cho
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số
136A/HĐTD1-VIB060/13 ngày 14-6-2013, Hợp đồng tín dụng số 136B/HĐTD1-
VIB060/13 ngày 14-6-2013 tổng số tiền tính đến ngày 26 tháng 9 năm 2024 là
761.163.652 đồng, trong đó nợ gốc 210.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn
33.148.809 đồng, nợ lãi quá hạn là 517.514.843 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền n phải thi hành án
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp
luật. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi
suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân ng cho vay ti sut khách hàng vay
phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ
được điều chỉnh cho phù hợp với sđiều chỉnh i suất của Nn ng cho vay.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quốc Tế Việt Nam về việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản
khác thuộc quyền shữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn Hải, Lê Thị M để thu
hồi nợ.
3. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Hải, bà
Thị M. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam số tiền tạm ứng
án phí 7.700.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0008348 ngày 29 tháng 11 năm
2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền
6
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- Chi cục THADS h. Thuỷ Nguyên;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Mai
Tải về
Bản án số 64/2024/DS-ST Bản án số 64/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2024/DS-ST Bản án số 64/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất