Bản án số 63/2023/HNGĐ-ST ngày 25/05/2023 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 63/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 63/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 63/2023/HNGĐ-ST ngày 25/05/2023 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Châu Thành A (TAND tỉnh Hậu Giang) |
| Số hiệu: | 63/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG
Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST
Ngày:
25 – 5 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Thanh
2. Bà Lê Thanh Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu
Giang
tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
A, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
34/2023/TL.ST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn
và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HNGĐ
ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C
Địa chỉ: Ấp NP1, xã NNA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H
Địa chỉ: Ấp Nhơn Phú 1, xã NNA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam
Địa chỉ: Số 02, đường Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông
Nguyễn Văn C trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H tự nguyện tìm hiểu, tiến tới
hôn nhân năm 1996, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm
2
2000. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, nói ra vài câu là cự cãi. Ông và bà
H đã sống ly thân hơn 03 năm. Đến nay xác định tình cảm không còn, không thể
hàn gắn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Thị Diễm T (nữ) sinh ngày
12/7/2000 và Nguyễn Ngọc Mỹ A (nữ) sinh ngày 16/9/2017, sau khi ly hôn,
cháu T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết quyền nuôi dưỡng, đối với
cháu Mỹ A, ông C xin giao cho bà H nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng
nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông sẽ tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu
Tòa án giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết thành
vụ án khác.
Về nợ chung: Ông C xác định có nợ tiền vay Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, ông và bà H và Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam sẽ tự thỏa thuận với nhau không yêu
cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh trnah chấp sẽ yêu
cầu giải quyết thành vụ án khác.
Quá trình tố tụng bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn
Văn C tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân năm 1996, có đăng ký kết hôn theo
quy định của pháp luật vào năm 2000. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời
gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là ông C có tình cảm với người phụ
nữ khác, bà đã cho anh C cơ hội để thay đổi mà về với vợ con nhưng ông C
không thay đổi. Tuy nhiên, bà H xác định vẫn còn thương chồng, muốn hàn gắn,
các con của bà và ông C cũng không đồng ý cho ông, bà ly hôn, vì vậy bà không
đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Thị Diễm T (nữ) sinh ngày
12/7/2000 và Nguyễn Ngọc Mỹ A (nữ) sinh ngày 16/9/2017. Nếu Tòa án giải
quyết cho ông C ly hôn với bà, cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu
giải quyết quyền nuôi dưỡng, đối với cháu Mỹ A bà yêu cầu được nuôi dưỡng,
bà đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng mà ông
C đề nghị.
Về tài sản chung: Nếu ly hôn, vợ chồng bà sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu
Tòa án giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết thành
vụ án khác.
Về nợ chung: Bà và ông C và Ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam sẽ tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải
3
quyết trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết
thành vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Chính là đại diện
theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
trình bày như sau: Ông C và bà H có thế chấp quyền sử dụng đất để vay của
ngân hàng số tiền 100.000.000đồng. Do ông C và bà H rút lại yêu cầu chia tài
sản chung là quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng, nên ông đồng ý tự
thỏa thuận việc thu hồi nợ với ông C, bà H, không yêu cầu đòi nợ trong vụ án
này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ án khác.
Tại phiên tòa: Ông C, bà H, ông Chính vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng
mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn
cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt những người này
là phù hợp.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng
dân sự 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn C đối
với bà Nguyễn Thị H; Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Diễm T (nữ) sinh ngày
12/7/2000 đã trưởng thành và khỏe mạnh nên không giải quyết quyền nuôi
dưỡng; đối với cháu Nguyễn Ngọc Mỹ A (nữ) sinh ngày 16/9/2017, do ông C và
bà H thống nhất giao cho bà H nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao
cháu A cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; ghi nhận sự tự nguyện
cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng của ông Nguyễn Văn C.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất tự thỏa thuận không yêu
cầu tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết, nếu sau này. Về án phí:
Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
4
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn C
và bà Nguyễn Thị H do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia
đình mà không thể hàn gắn tình cảm được nên ông C yêu cầu Tòa án giải quyết
được ly hôn với bà H. Bà H có địa chỉ cư trú ở ấp Nhơn Phú 1, xã Nhơn Nghĩa
A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều
35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các
đương sự là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải
quyết vắng mặt các bên đương sự.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa
ông C và bà H tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định
pháp luật. Quá trình chung sống giữa ông C và bà H phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông C là do tính tình không hợp nhau, nói ra vài
câu là cự cãi. Bà H thì cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do ông C có quan hệ
tình cảm với người phụ nữ khác, tuy nhiên bà vẫn còn tH chồng, các con không
đồng ý cho vợ chồng bà ly hôn nên bà không đồng ý ly hôn. Quá trình tố tụng,
Thẩm phán đã động viên ông C, bà H cho nhau cơ hội để hàn gắn quan hệ vợ
chồng, tuy nhiên ông C không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là tự
nguyện, trong vụ án này ông C xác định không còn tình cảm với bà H nên cương
quyết ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu được ly
hôn của ông C đối với bà H.
[3.2] Về con chung: Ông C và bà H khai thống nhất có 02 con chung là
Nguyễn Thị Diễm T (nữ) sinh ngày 12/7/2000 đã trưởng thành và khỏe mạnh
nên ông, bà không yêu cầu giải quyết quyền nuôi dưỡng; đối với cháu Nguyễn
Ngọc Mỹ A (nữ) sinh ngày 16/9/2017, bà H và ông C thống nhất giao cho bà H
nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà
H nuôi dưỡng cháu A. Ông C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng
1.500.000đồng, bà H đồng ý mức cấp dưỡng 1.500.000đồng/tháng. Xét thỏa
thuận của ông C, bà H về số tiền cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, không
trA pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.3] Về tài sản chung: Ông C và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5
[3.4] Về nợ chung: Ông C, bà H và người đại diện theo ủy quyền của Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ông Trần Văn Chính
thống nhất không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nếu sau này phát sinh
tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm là 300.000đồng và án phí cấp dưỡng 150.000đồng.
[5]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A
có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 267, Điều
271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82
Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm b
khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C đối với bà
Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Văn C được ly hôn
với bà Nguyễn Thị H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Mỹ A (nữ) sinh ngày 16/9/2017
cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 (mười tám) tuổi. Ghi
nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung là cháu
Nguyễn Ngọc Mỹ A mỗi tháng 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng)
cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Mỹ A đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn C có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. Nếu sau này
phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 150.000đồng (Một trăm năm mươi
nghìn đồng) án phí cấp dưỡng. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí ông C đã nộp theo biên lai số 0012381 ngày 22 tháng 02 năm
2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn C còn phải nộp thêm 150.000đồng
(Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng.
5. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và bị đơn bà Nguyễn Thị H có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án
6
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam có quyền kháng cáo phần nội dung bản án có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hậu Giang; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- CQ THA DS h.Châu Thành A;
- VKSND h.Châu Thành A;
- UBND xã Nhơn Nghĩa A;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Chúc Linh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 06/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm