Bản án số 62/2022/DS-ST ngày 30/08/2022 của TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 62/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 62/2022/DS-ST ngày 30/08/2022 của TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Vũng Tàu (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Số hiệu: 62/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim T. Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 giữa bà bà Lê Thị Kim T và bà Trần Thái Thụy Đan P.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
________________________ ________________________________
Bản án số: 62/2022/DS-ST
Ngày: 30- 8- 2022
Vviệc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ BỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Đinh Thị Hồng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tám
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Phạm Thị Thảo, Thư Tòa án nhân dân
thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Vũng Tàu tham gia phiên toà: Trần
Hồng Gấm Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sToà án nhân dân thành phố Vũng Tàu,
xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 358/2021/DSST ngày 23 tháng 11
năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
68/2022/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 6 m 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đường A, phường B, thành phố C, tỉnh D.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Biên P, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Đường M, phường N, thành phố C, tỉnh D.
- Bị đơn: Bà Trần Thái Thụy Đan P, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Đường C, phường K, thành phố C, tỉnh D.
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Hải L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Đường X, phường Y, thành phố
C, tỉnh D. (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Đường K, phường H, thành
phố C, tỉnh D. (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình ttụng, đại diện ủy quyền của
nguyên đơn ông Lê Biên Phòng trình bày:
2
Do nhu cầu về nhà được giới thiệu Trần Thái Thụy Đan P bán
nhà đất tọa lạc tại số 28 Phan Lạng, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu
thuộc thửa đất số 84, tbản đồ số 09, diện tích 232m
2
. Sau khi xem xét giấy t
coi thực tế cũng như cam kết của chủ nhà, bà T và bà P thỏa thuận mua bán với giá là
5.600.000.000 đồng. vào ngày 01/11/2011, hai bên tiến hành hợp đồng đặt cọc
số tiền là 200.000.000 đồng.
Sau khi hợp đồng xong, T đi tìm hiểu thì được biết thửa đất trên phần
lớn thuộc quy hoạch đường vận chuyển công nghiệp (rộng 36m2) phần còn lại quy
hoạch đất xây dựng nhà liền kề, sđất độc lập còn lại khoảng 46m
2
nằm trong quy
hoạch. Việc quy hoạch bà T hoàn toàn không được bà P thông báo trước.
Khi biết nhà đất bị quy hoạch, ngày 02/11/2021 T tới nhà P để thông
báo và yêu cầu bà P thực hiện đúng như cam kết theo điểm 5.1, khoản 3.1, điều 3 của
hợp đồng trong hợp đồng đặt cọc, trả lại số tiền đặt cọc đã nhận tuy nhiên bà P không
hợp tác, cố tình tránh không thực hiện nghĩa vụ. T thông báo cho P chấm
dứt hợp đồng bằng việc cùng ông Nguyễn Văn H đến nhà P để thông báo vào
ngày 09/11/2021, chứng cứ là những lời khai của ông H, T nộp đơn khởi kiện
tại Tòa án vào ngày 15/11/2021 đến ngày 23/11/2021 tTòa án đã thụ giải quyết
vụ án.
Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2021, T yêu cầu Tòa án giải quyết những
vấn đề như sau:
- Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 giữa T Trần Thái Thụy
Đan P vô hiệu do bị lừa dối.
- Yêu cầu bà Trần Thái Thụy Đan P trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng.
Vào ngày 08/6/2022, T thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu hủy hợp đồng
đặt cọc ngày 01/11/2021 giữa T Trần Thái Thụy Đan P, lý do P vi phạm
cam kết tại điểm 5 mục 3.1 trong hợp đồng đặt cọc. Yêu cầu bà Trần Thái Thụy Đan
P trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng.
Bi đơn bà Thái Thụy Trần Đan P trình bày:
- Ngày 01/11/2021 Thị Kim T đã thống nhất hợp đồng đặt cọc
mua bán nhà đất 28 Phạm Cư Lạng, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu. Số tiền
đặt cọc là 200.000.000 đồng với giá trị mua bán nhà là 5.600.000.000 đồng. Thời hạn
đặt cọc đến khi ra công chứng 30 ngày kể từ ngày 01/11/2021 đến ngày
30/11/2021.
- Việc nhà đất quy hoạch đã thông báo cho bên môi giới của bà T cũng như
T nhưng T vẫn đồng ý mua do đó mới mục 5 Điều khoản 3.1 T cũng
đồng ý với điều khoản trên nên mới đồng ý ký hợp đồng đặt cọc.
3
Tại mục 5 điều khoản 3.1 của hợp đồng đặc cọc ghi nếu nhà đất bị nhà
nước quy hoạch mà bên B không mua nữa trong thời gian hai bên chưa ra công
chứng thì bên A trả lại số tiền đã đặt cọc cho bên B mà không phải đền cọc.
- Bà chưa bao giờ gặp ông H cùng đi với bà T xuống gặp bà vào ngày
12/11/2021 và cũng không biết ông H là ai. Vào sáng 2/11/2021 T gọi điện cho
nói là không đồng ý chuyển nhượng nhà thuộc diện quy hoạch tbà đồng ý hủy
hợp đồng trlại tiền cọc 200.000.000 đồng bán lại nhà đất cho người khác,
đề nghị bà T cùng bà lập biên bản hủy hợp đồng đặt cọc đã ký ngày 01/11/2011 để bà
bán lại cho người khác. Đồng thời đề nghị bà T hỗ trợ phí dịch vụ mua bán nhà cho
bên môi giới là anh Trần Hải L, bà T không đồng ý và nói sẽ để hỏi ý kiến chồng, sau
đó tầm 15-16h chiều thì Thoa liên lạc với nói không đồng ý để bán nhà cho
người khác yêu cầu tiếp tục hợp đồng đặt cọc, hai bên chỉ trao đổi hoàn toàn
qua điện thoại. Sau đó bên phải mcửa liên tục để cho khách của T đến xem
nhà, kéo dài đến ngày 30/11/2021. Đến ngày 30/11/2021 ngày ra công chứng
nhưng không thấy T ra công chứng chồng tiền theo hợp đồng, cũng không
nhận được đề nghị nào khác từ phía bà T về việc hủy hợp đồng đặt cọc trong thời hạn
ra công chứng, không gọi điện cho T không thông báo với bà T xác
định hai bên cứ căn cứ theo hợp đồng mà thực hiện. đến ngày 9/12/2021 mới bán
nhà cho người khác.
Đến ngày 12/12/2021 bà nhận được giấy mời từ Tòa án xử lý việc chị T khởi kiện
- Do bà T đã vi phạm điều 3.2 nên bà không đồng ý hoàn trả 200.000.000 đồng
tiền đặt cọc, ch đồng ý hỗ trợ cho T 100.000.000 đồng đề nghị Tòa án
tuyên hủy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất giữa bà và bà T ngày 01/11/2011.
* Người làm chứng ông Nguyễn Văn H trình bày tại biên bản lấy lời khai
ngày 30/12/2021:
Ông bạn của chồng T, kinh doanh và am hiểu về lĩnh vực đất đai. Sau
khi T nhận chuyển nhượng nhà đất 28 Phạm Lạng, phường Rạch Dừa, thành
phố Vũng Tàu của P thì phát hiện thửa đất thuộc diện quy hoạch đường đi, ngày
09/11/2021 T nhờ ông cùng đi gặp bà P để trao đổi về việc nhà đất chuyển
nhượng nằm trong khu vực đất đã quy hoạch, nên T nguyện vọng không
muốn nhận chuyển nhượng nhà đất của P nữa và đề nghị P trả lại 1/2 tiền cọc
cho bà T nhưng bà P không đồng ý, do không đạt được thỏa thuận nên ông và bà T ra
về. Hai bên chỉ thương lượng bằng miệng, không lập biên bản.
* Người làm chứng ông Trần Hải L trình bày:
Ông người giới thiệu cho T mua nhà đất số 28 Phạm Lạng, phường
Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu của P. Khi giới thiệu cho T ông không nắm
thực trạng quy hoạch của thửa đất, chỉ biết khu vực quanh vị trí đất có quy hoạch làm
4
đường nhưng không rõ vị trí nào. Ông có o cho T về việc khu vựa quanh đất
quy hoạch nên nói với T yêu cầu bà P cung cấp chứng chỉ quy hoạch của thửa đất.
T yêu cầu P cung cấp chứng chỉ quy hoạch thửa đất nhưng P nói chưa
xin được sẽ cung cấp sau. Sau đó, ông đã soạn thảo hợp đồng đặt cọc ngày
01/11/2021, ông đã đọc cho hai bên cùng nghe nội dung của bản đặt cọc, Sau đó hai
bên không ý kiến cùng vào biên bản đặt cọc. ông người viết thêm điều
khoản tại mục 5 điều khoản 3.1 của hợp đồng đặc cọc nếu nhà đất bị nhà nước quy
hoạch mà bên B không mua nữa trong thời gian hai bên chưa ra công chứng tbên
A trlại số tiền đã đặt cọc cho bên B không phải đền cọc” để đảm bảo cho người
mua nhà đất tránh được rủi ro.
Sau khi đặt cọc được 10 ngày thì T hỏi được thông tin quy hoạch t được biết
nhà đất thuộc diện quy hoạch mở đường nên T đã báo với ông và yêu cầu ông báo
với bà P về việc không tiếp tục chuyển nhượng. P không nói nhà đất bquy hoạch
cho ông biết P nói sẽ cung cấp chứng chỉ quy hoạch nhưng sau nhiều lần
T yêu cầu thì P đều không cung cấp được chứng chỉ quy hoạch của thửa đất
trên.
Tại phiên tòa ngày 30/8/2022:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình y: T không đồng ý với ý kiến
P hỗ trợ lại cho T 100.000.000 đồng. T vẫn giyêu cầu hủy hợp đồng đặt
cọc ngày 01/11/2021 giữa bà T bà Trần Thái Thụy Đan P, lý do bà P vi phạm cam
kết tại điểm 5 mục 3.1 trong hợp đồng đặt cọc. Yêu cầu bà Trần Thái Thụy Đan P trả
lại số tiền cọc 200.000.000 đồng.
- Bị đơn Trần Thái Thụy Đan P trình bày: xác nhận vào ngày 9/11/2021
bà T cùng với một người đàn ông có xuống nhà bà để nói chuyện về việc hỗ trợ vay 3
bên tại Ngân hàng, không hề sự việc xuống gặp để đề nghị dừng việc chuyển
nhượng nhà đất số 28 Phạm Lạng, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu. Khi
đến ngày ra công chứng ngày 30/11/2021, ra phòng công chứng nhưng
không thấy T đến, hai bên cũng không liên lạc với nhau. Nay không đồng ý trả
lại số tiền cọc 200.000.000 đồng theo như yêu cầu của T cũng như hỗ trợ số tiền
100.000.000 đồng cho bà T theo như các lần hòa giải trước đây.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ng
Tàu phát biếu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án
Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật ttụng dân sự về phiên tòa thẩm đảm
bảo đúng nguyên tắc xét xử.
5
- Việc chấp hành pháp luật của các đương strong vụ án: Từ khi thụ vụ án
cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung vụ án: Do bị đơn Trần Thái Thụy Đan Phương vi phạm cam
kết tại điểm 5 mục 3.1 trong hợp đồng đặt cọc ngày ngày 01/11/2011 giữa Thị
Kim T Trần Thái Thụy Đan P do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày
01/11/2021, do P vi phạm cam kết tại điểm 5 mục 3.1 trong hợp đồng đặt cọc
yêu cầu bà Trần Thái Thụy Đan P trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn
Thị Kim T xác định khởi kiện yêu cầu yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày
01/11/2021 giữa T Trần Thái Thụy Đan P. Yêu cầu Trần Thái Thụy Đan
P trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng.
Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[2] Xét về hình thức của Hợp đồng đặt cọc: Hợp đồng đặt cọc giữa T
Trần Thái Thụy Đan P được viết tay đề ngày 01/11/2021 và không có ra công chứng,
chứng thực quan thẩm quyền. Tuy nhiên, loại hợp đồng này không thuộc
trường hợp bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Tại thời điểm kết hợp đồng
đặt cọc, các bên tham gia kết hợp đồng đặt cọc đều đủ năng lực hành vi dân sự,
việc giao kết hợp đồng xuất phát từ ý chí t nguyện của các bên, không bị ép buộc;
mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã
hội. Do đó, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119,
Điều 328 của Bộ luật Dân sự.
[3] Về nội dung của Hợp đồng:
Nhà đất số 28 Phan Lạng, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu thuộc
quyền sở hữu, sử dụng của Trần Thái Thụy Đan P. Ngày 01/11/2021, P hợp
đồng đặt cọc với nội dung bán căn nhà nêu trên cho bà Thị Kim T với giá
5.600.000.000 đồng. Theo hợp đồng nêu trên thì sau khi hợp đồng đặt cọc mua
bán nhà, T phải đặt cọc cho P số tiền 200.000.000 đồng; hẹn thời gian 30 ngày
kể tngày đặt cọc đến hết ngày 01/12/2021 thì T thanh toán stiền còn lại
6
5.400.000.000 đồng sau khi hoàn tất thủ tục hợp đồng mua bán căn nhà tại phòng
công chứng nhà nước. Sau khi hợp đồng đặt cọc T đã trả P 200.000.000
đồng.
Tuy nhiên, T P không thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được.
Sau đó T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 yêu
cầu bị đơn thanh toán số tiền 200.000.000 đồng, n cứ theo mục 5 Điểm 3.1 của
Hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 quy định “Nếu nhà đất bị nhà nước qui hoạch
bên B không mua nữa trong thời gian hai n chưa ra công chứng thì bên A trả lại số
tiền đã đặt cọc cho bên B mà không phải đền cọc”.
Về phía bị đơn P cho rằng việc nhà đất quy hoạch, đã thông báo cho bên
môi giới của T cũng như T nhưng T vẫn đồng ý mua do đó mới mục 5
Điều khoản 3.1 T cũng đồng ý với điều khoản trên nên mới đồng ý hợp
đồng đặt cọc. Do T đã vi phạm mục 1 điều 3.2 Trong thời gian thực hiện hợp
đồng (kể từ ngày ký) nếu bên mua không mua nữa hoặc đến hết ngày hẹn ghi trên mà
không ra quan công chứng làm thủ tục chuyển nhượng thì được coi như bên B
không mua nữa chấp nhận mất số tiền đã đặt cọc không khiếu kiện gì nên
không đồng ý hoàn trả 200.000.000 đồng tiền đặt cọc, đề nghị Tòa án tuyên hủy
hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất giữa bà và bà T ngày 01/11/2011.
Qua tranh luận công khai tại phiên tòa cũng như lời khai của người làm chứng
ông Nguyễn Văn H và ông Trần Hải L và các tài liệu thu thập được, nhận thấy:
Theo công văn s340/QLĐT-QHKT ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Phòng
Quản lý đô thị TP Vũng Tàu trả lời “Theo quy hoạch phân khu tỷ lệ ½.000 khu đô thị
Bắc Vũng Tàu, thành phố Vũng Tàu được UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu phê duyệt
điều chỉnh tại Quyết định s3081/-UBND ngày 06/10/2021 tthửa đất số 84
(mới 76) tờ bản đồ số 09 (mới 14) diện tích 232,0m
2
tại phường Rạch Dừa, thành phố
Vũng Tàu phần lớn diện tích hướng Tây Bắc (khoảng 185,4m
2
) thuộc quy hoạch
đường giao thông rộng 30,0m; phần diện tích còn lại (khoảng 46,6m
2
) thuộc quy
hoạch đất nhà ở hiện trạng cải tạo, tầng cao trung bình 03 tầng, mật độ xây dựng theo
Quy hoạch xây dựng Việt Nam”.
Hội đồng xét xử xét thấy thực tế nhà đất tại số 28 Phan Cư Lạng, phường Rạch
Dừa, thành phố Vũng Tàu phần lớn diện ch hướng Tây Bắc (khoảng 185,4m
2
)
thuộc quy hoạch đường giao thông rộng 30m, P biết nhưng không cung cấp
chứng chỉ thông tin quy hoạch thửa đất cho phía nguyên đơn là không đúng.
P cho rằng T đã vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng các bên đã
kết dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng nhà đất không thể được kết chính thức
7
nhưng P cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh là do lỗi
hoàn toàn của bà T.
Do bà Trần Thái Thụy Đan P đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc theo
mục 5 Điểm 3.1 của Hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 quy định “Nếu nhà đất bị
nhà nước qui hoạch bên B không mua nữa trong thời gian hai bên chưa ra công
chứng tbên A trả lại số tiền đã đặt cọc cho bên B không phải đền cọc” , nên
phía nguyên đơn bà T yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc đề ngày 01/11/2021 yêu cầu
bị đơn bà Trần Thái Thụy Đan P phải trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng như đã
thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 328, Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
TUYÊN XỬ:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Kim T.
[1.1] Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2021 giữa Thị Kim T
và bà Trn Thái Thụy Đan P.
[1.2] Buộc trần Thái Thụy Đan P nghĩa vụ trả lại cho Thị Kim T số
tiền cọc đã nhận là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
[2] Án phí dân sự thẩm: Bị đơn Trần Thái Thụy Đan P phải nộp số tiền
án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Hoàn trả cho nguyên đơn Lê Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã
nộp là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0001472
ngày 13/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền
8
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân squyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6; Điều7 , Điều 7Avà Điều 9 luật Thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận: (đã ký)
- Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự Tp. Vũng Tàu;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Đinh Thị Hồng Hà
Tải về
Bản án số 62/2022/DS-ST Bản án số 62/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất