Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 61/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 61/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 61/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 61/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang |
| Số hiệu: | 61/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà Hồ Mỹ D với bà Phan Thị Thu H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 61/2025/DS-ST
Ngày: 10-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt
cọc, hợp đồng mua bán tài
sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhựt Thảo
Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 10 – An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An
Giang (cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/TLST-DS
ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc, hợp đồng mua
bán tài sản” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 141/2025/QĐXXST-DS
ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Hồ Mỹ D, sinh ngày 19-9-1998 (có mặt)
Căn cước công dân số 089198009596 cấp ngày 20-9-2023
Nơi cư trú: Số nhà 222, ấp Đ P 1, xã A C, tỉnh An Giang.
Số điện thoại: 0984 787 824
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm
1983 (có mặt)
Căn cước công dân số 089083013816 cấp ngày 04-02-2023
ĐKTT: Ấp A L, xã H A, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên lạc: Số nhà 425, Quốc lộ 91, ấp H L 4, xã A C, tỉnh An Giang.
Theo Giấy ủy quyền ngày 04-12-2024
2.Bị đơn: Bà Phan Thị Thu H, sinh ngày 07-9-1969 (có mặt)
2
Căn cước công dân số 089169008428 cấp ngày 04-8-2022
Nơi cư trú: ấp H P 4, xã A C, tỉnh An Giang.
3.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn
Một thành viên X d 797 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 480, Tổ 24, ấp T T, xã A C, tỉnh An Giang.
Mã số doanh nghiệp: 1601885246 đăng ký lần đầu ngày 01-8-2013, đăng ký
thay đổi lần thứ 1 ngày 10-11-2014
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phú N, sinh ngày 19-11-1976
(vắng mặt)
Chứng minh nhân dân số 351119131 cấp ngày 08-8-2012
4.Người làm chứng:
1/ Bà Khưu Thị D, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 24, ấp T T, xã A C, tỉnh An Giang.
2/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 31, ấp T T, xã A C, tỉnh An Giang.
3/ Bà Chế Thị Kim T (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp T T, xã A C, tỉnh An Giang.
Số điện thoại: 0965 343 895
5/ Ông Huỳnh Thành H, sinh ngày 01-01-1975 (vắng mặt)
Căn cước công dân số 089075015211 cấp ngày 06-9-2021
6/ Bà Trần Thị H, sinh ngày 08-3-1975 (vắng mặt)
Căn cước công dân số 089176011647 cấp ngày 03-01-2022
Nơi cư trú: Số nhà 222, ấp Đ P 1, xã A C, tỉnh An Giang.
7/ Bà Hồ Thị Ánh T, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 24, ấp T T, xã A C, tỉnh An Giang (khu dân cư T T)
8/ Bà Phạm Thị D, sinh ngày 01-01-1980 (vắng mặt)
Căn cước công dân số 089180017094 cấp ngày 13-8-2021
Nơi cư trú: ấp V T, xã Đ M, tỉnh An Giang (khu dân cư T T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 23-10-2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn
bà Hồ Mỹ D trình bày; quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày: Do chỗ quen biết, bà Phan
Thị Thu H có kiot bán quần áo tại chợ T T, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang.
Do có nhu cầu mua bán quần áo nên vào ngày 27-9-2024, bà Hồ Mỹ D có
thỏa thuận sang nhượng lại kiot quần áo và mặt bằng của bà H đang quản lý để
kinh doanh cùng hàng hóa với số tiền là 63.000.000 đồng, thỏa thuận sang
3
nhượng bằng lời nói, không lập thành văn bản, bà D đặt cọc cho bà H
23.000.000 đồng vào ngày 27-9-2024, ngày 28-9-2024 bà H mượn thêm của bà
D 2.000.000 đồng tại chợ T T, không lập thành văn bản. Sau khi đặt cọc cho bà
H ngày 29-9-2024, bà D mở cửa kiot buôn bán thì Ban quản lý chợ không đồng
ý cho bà D mua bán tại kiot vì Ban quản lý chợ chỉ ký hợp đồng với tiểu thương
mua bán tại chợ, bà D không phải là tiểu thương nên không thể bán tại kiot, bà
D đã nhận kiot. Bà D mua thêm hàng hóa trên mạng xã hội trị giá là 10.320.000
đồng để vào trong kiot cùng với hàng hóa của bà H, mục đích để bán kiếm lời,
hàng hóa này không mua của bà H. Bà D đã trả tiền thuê kiot cho bà D1 3 ngày
là 150.000 đồng.
Nay bà D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C T nay là Tòa án nhân dân khu
vực 10 – An Giang xem xét giải quyết buộc bà Phan Thị Thu H trả lại tiền đã
nhận cọc là 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, bà D sẽ trả lại kiot cho bà
H cùng hàng hóa, bà D yêu cầu bà H trả lại tài sản là quần áo bà D mua thêm trị
giá là 10.320.000 đồng, bà D yêu cầu nhận quần áo, bà D không có hóa đơn
chứng từ mua bán hàng hóa này, bà D không xác định được chủng loại hàng hóa
cũng như số lượng hàng hóa đã mua trong số quần áo có trong kiot.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, bà D không đồng ý.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét
xử tuyên bố hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu.
Tại Tờ tường trình ngày 02-10-2024, nguyên đơn bà Hồ Mỹ D trình bày:
Vào ngày 27-9-2024, bà có sang nhượng một kiot bán quần áo của bà Phan Thị
Thu H, ngụ thị trấn A C, huyện C T; với số tiền cọc ban đầu 23.000.000 đồng.
Sau đó ngày 28-9-2024, bà Thu H có bán quần áo của bà với số tiền
1.600.000 đồng để trừ nợ cho chủ nợ của bà H và hứa là sau khi thanh toán số
tiền 40.000.000 đồng còn lại, bà H sẽ trừ vào.
Đến ngày 29-9-2024, bà H có mượn bà thêm 400.000 đồng để chi tiêu. Tổng
cộng bà Thu H đã giữ của bà là 25.000.000 đồng với lời hứa sẽ sang lại toàn bộ
tiệm cho bà làm ăn, gồm:
- Kiot bán đồ (bà H không hợp đồng, thuê 50.000 đồng/ngày);
- Toàn bộ số quần áo trong tiệm;
- Toàn bộ móc quần áo, tủ tại tiệm.
Từ ngày 27 đến nay ngày 02-10 (5 ngày), bà đồng ý sang nhượng cái kiot
này với lí do là mặt bằng 2 mặt tiền thuận lợi để mua bán và bà H cũng có đảm
bảo rằng bà H có thể sắp xếp cho bà được ở kinh doanh lâu ngày, nhưng nay
quản lý chợ không cho bán tiếp tục nữa, bà làm tường trình này gửi đến ban ấp
T T hỗ trợ cho bà được lấy lại số tiền 25.000.000 đồng.
Tại đơn phản tố ngày 06-12-2024, bản tự khai ngày 02-12-2024; quá trình
tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Phan Thị Thu H trình bày: Bà có thuê kiot tại
chợ T T, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang; để kinh doanh mua bán quần áo
may sẳn, giá thuê kiot mỗi ngày là 50.000 đồng, bà trả tiền thuê cho chủ chợ là
bà D1.
4
Ngày 27-9-2024, bà Hồ Mỹ D tự nguyện thỏa thuận với bà bằng lời nói mua
lại số quần áo bà đang kinh doanh và một số vật dụng tại kiot với giá 63.000.000
đồng, không lập thành văn bản; bà D trả trước 23.000.000 đồng vào ngày 27-9-
2024, sau đó bà có mượn thêm 2.000.000 đồng vào ngày 28-9-2024, tổng cộng
là 25.000.000 đồng tại kiot, không lập thành văn bản, bà D còn nợ lại
38.000.000 đồng thỏa thuận trả vào ngày 05-10-2024; bà bàn giao cho bà D
quần áo cùng vật dụng trong kiot vào ngày 27-9-2024.
Sáng 28-9-2024, bà có gọi bà D1 đến tại kiot giáp mặt bà D, mẹ bà D, cha
mẹ chồng bà D tại kiot, thông báo cho Ban quản lý chợ biết bà không còn mua
bán tại kiot mà bà D sẽ là người mua bán và trả tiền thuê kiot cho Ban quản lý
chợ và bà D đã kinh doanh.
Sau đó bà đã dẫn dắt bà D mua hàng hóa khu vực lộ tẻ và khu vực cầu B H,
huyện C T, tỉnh An Giang, số lượng hàng hóa bà D mua thêm bà không biết.
Ngày 28, 29, 30-9-2024, bà D mua bán tại kiot có mặt bà. Đến ngày 05-10-
2024 bà D không trả cho bà số tiền 38.000.000 đồng còn nợ.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà D bà không đồng ý, bà có yêu cầu phản
tố là yêu cầu bà Hồ Mỹ D trả lại bà số tiền mua quần áo và một số vật dụng tại
kiot còn nợ là 38.000.000 đồng.
Tại Biên bản xác minh ngày 26-3-2025, người làm chứng bà Chế Thị Kim T
trình bày: Tại buổi hòa giải, tổ hòa giải đã ghi nhận ý kiến của hai bên và vận
động hai bên để thống nhất với nhau nhưng hai bên không thống nhất ý kiến.
Kết thúc buổi hòa giải hai bên đồng ý ký tên vào biên bản; xác nhận biên bản
hòa giải mà đương sự nộp cho Tòa án đúng như bản gốc được lưu tại văn phòng
ấp. Kiot đang tranh chấp là của Ban quản lý chợ nhưng bà D đã khóa cửa từ thời
điểm ban ấp hòa giải cho đến nay.
Tại tờ tự khai ngày 09-7-2025, người làm chứng ông Huỳnh Thành H1 trình
bày: Ông có con dâu tên Hồ Mỹ D. Vào ngày 25-9-2024 do nắm được thông tin
ở chợ T T có người cần sang nhượng lại mặt bằng và kiot để mua bán nên D
cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị D2 đến chợ T T để gặp bà H bàn bạc về việc sang
nhượng lại kiot.
Vào ngày hôm sau 26-9-2024 ông cùng D và bà H2 vợ ông đến kiot gặp bà
H và trao đổi về giá cả, cuối cùng bà H chốt lại giá sang nhượng kiot là
63.000.000 đồng bao gồm nhà xưởng kiot, tủ, móc áo, sào, dù, máy may, không
bao gồm quần áo đang có sẵn trong kiot vì những mặt hàng này đã lỗi thời, chỉ
phù hợp với thời trang lứa tuổi trung niên.
Ngày 27-9-2024 ông, bà D2, D, bà H2 đến gặp bà H và ông yêu cầu được
gặp Ban quản lý chợ T T để xác minh thông tin xem kiot phải của bà H, khi D
sang lại kiot thì có hợp lệ và được mua bán hay không nhưng bà H cam kết là sẽ
được buôn bán nên nói với ông không cần gặp Ban quản lý chợ, mọi chuyện do
bà H sắp xếp. Trên cơ sở đó, D đặt cọc cho bà H số tiền là 23.000.000 đồng
(chuyển khoản từ tài khoản Hồ Mỹ D sang tài khoản Phan Thị Thu H)
5
Ngày 28-9-2024, ông, bà H2, bà D2 và D đến tiếp quản kiot để buôn bán thì
bà D1 là người góp chợ không cho D buôn bán vì D không phải là tiểu thương ở
chợ.
Tại tờ tự khai ngày 09-7-2025, người làm chứng bà Trần Thị H2 trình bày:
Bà có con dâu tên Hồ Mỹ D. Vào ngày 25-9-2024 do nắm được thông tin ở chợ
T T có người cần sang nhượng lại mặt bằng và kiot để mua bán nên D cùng mẹ
ruột là bà Phạm Thị D2 đến chợ T T để gặp bà H bàn bạc về việc sang nhượng
lại kiot.
Vào ngày hôm sau 26-9-2024 bà cùng D và ông H1 chồng bà đến kiot gặp
bà H và trao đổi về giá cả, cuối cùng bà H chốt lại giá sang nhượng kiot là
63.000.000 đồng bao gồm nhà xưởng kiot, tủ, móc áo, sào, dù, máy may, không
bao gồm quần áo đang có sẵn trong kiot vì những mặt hàng này đã lỗi thời, chỉ
phù hợp với thời trang lứa tuổi trung niên.
Ngày 27-9-2024 bà, D, bà H2, ông H1 đến gặp bà H và đặt cọc cho bà H số
tiền là 23.000.000 đồng (chuyển khoản từ tài khoản Hồ Mỹ D sang tài khoản
Phan Thị Thu H)
Ngày 28-9-2024, bà, chồng bà, bà D2 và D đến tiếp quản kiot để buôn bán
thì bà D1 là người góp chợ không cho D buôn bán vì D không phải là tiểu
thương ở chợ.
Tại tờ tự khai ngày 09-7-2025, người làm chứng bà Phạm Thị D2 trình bày:
Bà có con ruột tên Hồ Mỹ D. Vào ngày 25-9-2024 do nắm được thông tin ở chợ
T T có người cần sang nhượng lại mặt bằng và kiot để mua bán nên D cùng bà
đến chợ T T để tìm hiểu. Bà có gặp bà H tại kiot và đang buôn bán quần áo, bà
H ra giá kiot là 80.000.000 đồng, bà chỉ xem qua rồi cùng con gái ra về, hẹn bà
H ngày hôm sau có cha mẹ chồng của D là ông Huỳnh Thành H1 và bà Trần Thị
H2 đến sẽ quyết định sang hoặc không sang lại kiot của bà H.
Vào ngày hôm sau 26-9-2024 bà cùng D, ông H1, bà H2 đến kiot gặp bà H
và trao đổi về giá cả, cuối cùng bà H chốt lại giá sang nhượng kiot là 63.000.000
đồng bao gồm nhà xưởng kiot, tủ, móc áo, sào, dù, máy may, không bao gồm
quần áo đang có sẵn trong kiot vì những mặt hàng này đã lỗi thời, chỉ phù hợp
với thời trang lứa tuổi trung niên.
Ngày 27-9-2024 bà, D, bà H2, ông H1 đến gặp bà H và đặt cọc cho bà H số
tiền là 23.000.000 đồng (chuyển khoản từ tài khoản Hồ Mỹ D sang tài khoản
Phan Thị Thu H)
Ngày 28-9-2024, bà cùng D đến tiếp quản kiot để buôn bán thì bà D1 là
người góp chợ không cho D buôn bán vì D không phải là tiểu thương ở chợ.
Quá trình tố tụng ngày 26-02-2024, Tòa án có tiến hành xác minh lấy lời
khai bà Khưu Thị D1, bà Nguyễn Thị B; nhưng bà D1, bà B không đồng ý cho
Tòa án lấy lời khai.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31-7-2025 có nội dung:
Hiện trạng kiot từ mặt tiền, đường bên phải, 02 lô đầu dãy do bà Hồ Mỹ D
đang quản lý và khóa cửa.
6
Bên trong có quần áo may sẵn không thể kiểm đếm, 01 dàn máy may hiệu
Singer của bà H, bà H đồng ý cho bà D, bà D không đồng ý nhận; 01 ghế dựa
dây vải, 04 sào phơi bằng sắt cao 1,5m dài 1,5m, 01 cây quạt đứng cao 0,5m, 01
thùng nhôm đựng đồ ngang 1,2m dài 2, cao 1,5m.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc đưa người
tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nhiều lần
thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty Trách nhiệm Hữu
hạn Một thành viên X d 797; nhưng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành
viên X d 797 vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, không cung cấp chứng cứ, không
tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh An Giang phát biểu quan
điểm như sau:
1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố
tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Buộc nguyên đơn
trả lại cho bị đơn tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 38.000.000 đồng. Nguyên
đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán hàng hóa của người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa. Do đơn khởi kiện nguyên đơn
không có yêu cầu này, nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu vượt quá yêu cầu
khởi kiện. đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công
ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên X d 797; người làm chứng bà Khưu Thị
D1, bà Nguyễn Thị B, bà Chế Thị Kim T, ông Huỳnh Thành H1, bà Trần Thị
H2, bà Hồ Thị Ánh T1, bà Phạm Thị D2 Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định
đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên X d 797; người làm
chứng bà D1, bà B, bà T, ông H1, bà H2, bà T1, bà D2 vẫn vắng mặt lần 2
không có lý do. Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ
Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ
tục chung.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi
kiện: Căn cứ vào đơn khởi kiện, đơn phản tố. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a
7
Khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 184 của Bộ Luật Tố
tụng Dân sự; Điều 328, Điều 430, Điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự
năm 2015, thì vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp đặt cọc, tranh chấp hợp
đồng mua bán tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
10 – An Giang và vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Về nội dung giải quyết yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp; Tòa án thu
thập được có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ. Từ đó có cơ sở kết luận vào ngày 27-9-2024, giữa bà D và bà H
có thỏa thuận một giao dịch dân sự, theo bà D là sang nhượng lại kiot của bà H
cùng với hàng hóa với số tiền là 63.000.000 đồng, thỏa thuận sang nhượng bằng
lời nói, không lập thành văn bản, bà D đặt cọc cho bà H 25.000.000 đồng. Còn
theo bà H thì bà D thỏa thuận mua lại số quần áo bà đang kinh doanh và một số
vật dụng tại kiot với giá 63.000.000 đồng, không lập thành văn bản; bà D trả
trước 25.000.000 đồng. Bà D yêu cầu bà H trả lại tiền cọc đã nhận là 25.000.000
đồng và yêu cầu được nhận lại số quần áo bà D mua thêm bên ngoài trị giá
10.320.000 đồng để vào trong kiot; bà H yêu cầu bà D trả lại số tiền mua quần
áo trong kiot còn nợ là 38.000.000 đồng dẫn đến phát sinh tranh chấp.
Tại Tờ tường trình ngày 02-10-2024 của bà D gửi ban ấp T T có nội dung:
Vào ngày 27-9-2024, bà D có sang nhượng một kiot bán quần áo của bà H, ngụ
thị trấn A C, huyện C T; với số tiền cọc ban đầu 23.000.000 đồng; sau đó ngày
28-9-2024, bà H có mượn thêm 2.000.000 đồng, tổng cộng là 25.000.000 đồng
với lời hứa sẽ sang lại toàn bộ tiệm cho bà D làm ăn, gồm:
- Kiot bán đồ (bà H không hợp đồng, thuê 50.000 đồng/ngày);
- Toàn bộ số quần áo trong tiệm;
- Toàn bộ móc quần áo, tủ tại tiệm.
Tại phiên tòa bà D xác định đã trả tiền thuê kiot 3 ngày cho Ban quản lý chợ
là bà D1 nhận số tiền 150.000 đồng.
Từ đó cho thấy ngày 27-9-2024, khi bà D thỏa thuận sang nhượng kiot cùng
với toàn bộ số quần áo trong tiệm, toàn bộ móc quần áo, tủ tại tiệm thì bà D biết
rõ kiot trên bà H chỉ thuê 50.000 đồng/ngày, không có hợp đồng, bà H không
phải là chủ sở hữu kiot trên. Điều này cho thấy giữa bà H và bà D chỉ có thỏa
thuận sang nhượng toàn bộ số quần áo, toàn bộ móc quần áo, tủ trong tiệm phù
hợp với tường trình của bà D gửi Ban ấp T T, phù hợp với lời trình bày của bà
H, bà T.
Xét giao dịch thỏa thuận mua bán toàn bộ số quần áo trong tiệm, toàn bộ
móc quần áo, tủ tại tiệm ngày 27-9-2024. Căn cứ Điều 430 của Bộ Luật Dân sự
năm 2015, thì hợp đồng mua bán tài sản trên đã tuân thủ quy định pháp luật về
mặt hình thực, chủ thể, nội dung, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp
luật.
8
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà H trả lại tiền đặt cọc:
Do giao dịch thỏa thuận mua bán toàn bộ số quần áo trong tiệm, toàn bộ móc
quần áo, tủ tại tiệm ngày 27-9-2024 có hiệu lực pháp luật, bà H đã bàn giao toàn
bộ tài sản cho bà D, bà D chưa trả đủ tiền cho bà H. Căn cứ Điều 328 và Điều
430 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, thì việc bà D yêu cầu bà H trả lại tiền đặt
cọc 25.000.000 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng
xét xử không chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà H trả lại số quần áo bà
D mua bên ngoài trị giá là 10.320.000 đồng, để chung vào số quần áo của bà H
bán cho bà D có trong kiot: Sau khi thỏa thuận mua bán tài sản thì bà D quản lý
toàn bộ tài sản mua bán, sáu đó bà D tự mua thêm quần áo bên ngoài trị giá
10.320.000 đồng để chung vào số quần áo đã mua từ bà H, bà D quản lý toàn bộ
số quần áo trên, bà H không quản lý, bà D khóa cửa kiot quản lý toàn bộ tài sản,
bà T trình bày bà D khóa cửa kiot từ khi hòa giải cho đến nay. Do đó việc bà D
yêu cầu bà H trả lại số quần áo bà D mua thêm bên ngoài trị giá 10.320.000
đồng là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu bà D trả tiền mua tài
sản còn nợ: Do giao dịch thỏa thuận mua bán toàn bộ số quần áo trong tiệm,
toàn bộ móc quần áo, tủ tại tiệm ngày 27-9-2024 có hiệu lực pháp luật, bà H đã
bàn giao toàn bộ tài sản cho bà D, bà D chưa trả đủ tiền cho bà H. Nay bà H có
yêu cầu bà D trả tiền mua tài sản còn nợ là 38.000.000 đồng.
Xét quan hệ tranh chấp trên bà D là người có lỗi đã không thực hiện đúng
nghĩa vụ của mình là trả đủ tiền mua tài sản. Việc vi phạm này ít nhiều làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Căn cứ Các Điều 430, 431, 433
và 440 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, thì yêu cầu của bà H được nhận lại tiền
mua bán tài sản của bà D còn nợ 38.000.000 đồng là có cơ sở, nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[3.4] Đối với lời trình bày của những người làm chứng, quá trình tố tụng Tòa
án tiến hành đối chất giữa nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, nhưng nguyên
đơn, người làm chứng vắng mặt nên không đối chất được.
[3.5] Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu của người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn tại phiên tòa. Do đơn khởi kiện nguyên đơn chỉ yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc bà H trả lại bà D số tiền nhận đặt cọc là 25.000.000
đồng, không yêu cầu tính lãi; ngoài ra bà D không có yêu cầu gì khác cũng như
không có đơn khởi kiện bổ sung. Do đó yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là
vượt quá yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Đối với số tiền xem xét thẩm định
800.000 đồng bà D đã nộp theo biên bản quyết toán ngày 21-8-2025. Căn cứ
khoản 1 Điều 157 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; do yêu cầu của nguyên đơn
9
không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ, nguyên đơn đã nộp xong.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; khoản
1, 3, 4, 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-
2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên nguyên
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.250.000 đồng và 516.000 đồng, tổng
cộng là 1.766.000 đồng.
Do chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, nên bị đơn không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm, được nhận lại 950.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007926 ngày 06-12-2024 của Chi
Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Do buộc nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại bị đơn 38.000.000 đồng, nên nguyên
đơn phải chịu 1.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tổng cộng nguyên đơn phải chịu 3.666.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
được khấu trừ vào 833.000 đồng nguyên đơn đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí tòa án số 0007846 ngày 12-11-2024 của Chi Cục Thi hành án dân
sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; nguyên đơn còn phải nộp thêm 2.833.000
đồng.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật
Tố tụng Dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án (10-9-2025)
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 184, Điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228, 266, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Các Điều 328, 430, 431, 433, 440, Điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật
Dân sự năm 2015;
khoản 1, 3, 4, 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày
30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Xử:
10
[1] Công nhận hiệu lực của giao dịch mua bán tài sản xác lập ngày 27-9-
2024, giữa bà Hồ Mỹ D với bà Phan Thị Thu H.
[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Mỹ D về việc yêu cầu bà
Phan Thị Thu H trả lại tiền đặt cọc là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) và
đòi bà Phan Thị Thu H trả lại số quần áo trị giá 10.320.000đ (mười triệu ba trăm
hai mươi ngàn đồng).
[3] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Thu H.
[4] Buộc bà Hồ Mỹ D phải trả cho bà Phan Thị Thu H số tiền mua bán tài
sản toàn bộ số quần áo trong tiệm, toàn bộ móc quần áo, tủ tại tiệm còn nợ là
38.000.000đ (ba mươi tám triệu đồng).
[5] Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[6] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Hồ Mỹ D phải chịu chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ là 800.000đ (tám trăm ngàn đồng), bà Duyên đã nộp xong.
[7] Về án phí:
Bà Hồ Mỹ D phải chịu 3.666.000đ (ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn
đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 833.000đ (tám trăm ba mươi ba
ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 0007846 ngày 12-11-2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang; nguyên đơn còn phải nộp thêm 2.833.000đ (hai
triệu tám trăm ba mươi ba ngàn đồng).
Bà Phan Thị Thu H được nhận lại 950.000đ (chín trăm năm mươi ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án
số 0007926 ngày 06-12-2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang.
[8] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án (10-9-2025)
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
11
Nơi nhận:
-Các đương sự (để thi hành);
-Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 10, tỉnh An Giang;
-Phòng Thi hành án Dân sự
khu vực 10, tỉnh An Giang;
-Phòng Giám đốc, Kiểm tra,
Thanh tra, Thi hành án, Tòa
án nhân dân tỉnh An Giang;
-Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Đông Hoà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng