Bản án số 609/2018/DS-ST ngày 29/11/2018 của TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 609/2018/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 609/2018/DS-ST ngày 29/11/2018 của TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Tân Phú (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 609/2018/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/11/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 609/2018/DS-ST Bản án số 609/2018/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NN DÂN QUN TÂN PHÚ
TNH PHỐ H C MINH
Bản án số: 609/2018/DS-ST
Ngày: 29-11-2018
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGA VIT NAM
Độc lập - T do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xửthẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Ngọc Thanh
Ông Trần Công Trung
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị An Thành TTòa án nhân n
quận Tân Phú, Thành Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Đoàn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân n quận Tân Pxét
xử sơ thm ng khai vụ án thụ lý s 316/2017/TLST-DS ngày 05 tháng 10 m
2017 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 11 m
2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Đ H; địa chỉ: Ấp T, xã H, huyn H, tỉnh T.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn TT; địa ch: Số --
Tỉnh lộ A, phường B, quận Tc, Thành phố H; là người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn. (Theo Giấy ủy quyền ngày 10/11/2017)
- Bị đơn: Ông Đỗ M V; địa chỉ: Số -- đường D, phường T, quận Tân Phú,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. ơng Thị C T; địa chỉ: Ấp A đường B, xã P, huyện Ci, Thành phố
H.
2. Trịnh Thị H L; địa chỉ: Ấp A1 đường B, P, huyn Ci, Thành phố
H.
3. Dương Q D; đa chỉ: Số -- Khu phố A, thị trấn B, huyện H1, Thành
phố H.
2
Ông T, ông V, bà T, bà L, bà D vắng mt tại phiên tòa và có đề nghị xét xử
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ca ông Cao
Đ H người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn TT, nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/4/2017, ông H và ông Đỗ M V Văn bản thỏa thuận mua bán đất,
ông H đã đặt cọc cho ông V số tiền 50.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN --thửa đất số --, tờ bản
đồ số --, địa chỉ tại xã P, huyện C, Thành phố H. Văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017
nêu “Trường hợp ông Đỗ M V không tiến hành các thủ tục chuyển nhượng
quyền sử dụng đất (đất không tài sản gắn liền với đất) cho ông Cao Đ H theo đúng
thời hạn thỏa thuận thì sẽ bồi thường cho ông Cao Đ H gấp 02 lần số tiền đã nhận
cọc”.
Đến ngày hẹn ra văn phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng, ông V
không muốn tiếp tục việc chuyển nhượng đấtông H đã cố gắng thuyết phục. Sau
đó, ông V đã bán đất trên cho người khác. ông V không chịu tiếp tục chuyển
nhượng đất theo thỏa thuận ngày 14/4/2017 nên ông H đã đề nghị ông V bồi thường
tiền cọc. Tuy nhiên, đến nay ông V vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên
đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông V nghĩa vụ trả phải trả 100.000.000 đồng,
bao gồm tin cọc 50.000.000 đồng và tiền phạt cọc 50.000.000 đồng theo Văn bản
thỏa thuận ngày 14/4/2017. Trả một lần ngay khi bản án, quyết định hiệu lực. Ông
H không yêu cầu vợ của ông V là bà Dương Q G liên đới trả nợviệc mua bán đất
không liên quan đến bà G.
Theo Đơn tường trình ngày 25/11/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án, bị đơn ông Đỗ M V trình bày:
Ông có ý định chuyển nhượng 01 lô đất tại địa chỉ xã P, huyện H cho ông Cao
Đ H thông qua sự môi giới của Lương Thị C T Trịnh Thị H L. Ngày
14/4/2017, ông m văn bản thỏa thuận viết tay với ông H nhận tiền cọc của
ông H 50.000.000 đồng, văn bản thỏa thuận được lập thành 02 bản, mỗi n giữ
một bản. Nội dung của thỏa thuận chuyển nhượng đất vừa nêu cho ông H với
giá là 915.000.000 đồng, ngày 25/4/2017 hai bên scùng ra văn phòng công chứng
tại P, huyện H để ký hợp đồng chuyển nhượng, ông H sẽ tr50% số tiền chuyển
nhượng khi ký hợp đồng và sẽ thanh toán số tiền còn lại sau khi đứng tên trên sổ đỏ.
Sau đó, ông đã tìm hiểu thông tin qua văn phòng công chứng T giới
thiệu thì được biết là sau khihợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng
thì v bản thủ tục chuyển nhượng đã xong. Vì vy, ông đã đề nghị ông H lùi ngày
ra công chứng và phải thanh toán toàn bộ stiền chuyển nhượng ngay sau khi
hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng nhưng ông H không đồng ý. Do nhận
thấy rủi ro mất tiền cao sau khi ký hợp đồng công chứng nên ông không đồng ý tiếp
tục bán đất cho ông H.
Khoảng 10 giờ ngày 24/4/2017, khi ông gọi điện thoại và nhắn tin cho ông H
3
để thông báo không bán đất thì ông H yêu cầu ông hoàn lại tiền cọc. Sau đó, ông đã
đến nhà T để cùng đi đến i làm việc của ông H tại Khu nông nghiệp công
nghệ cao xã P, huyện C trả 50.000.000 đồng cho ông H và nhận lại bản chính văn
bản thỏa thuận đặt cọc ngày 14/4/2017; việc giao nhận li tin cọc, n bản đặt
cọc schứng kiến của bà T. Đến tháng 5 năm 2017, ông đã chuyển nhượng lô đất
cho người khác. Sau khi nhận lại bản chính văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017 thì
ông đã hủy nghĩ rằng việc mua n đã xong. Ông không xác nhận bản sao Văn
bản thỏa thuận ngày 14/4/2017 do ông H giao nộp có phải do mình ký hay không vì
thời gian đã lâu. đã trả lại tiền cọc cho ông H theo thỏa thuận, hợp đồng đã được
thanh lý nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị C T trình bày: Ngày
14/4/2017, bà đã môi giới cho ông V và ông H mua bán 01 lô đất thửa số 529, tờ bản
đồ số 48, tọa lạc tại Ấp A, Pi, huyện C với giá 915.000.000 đồng ông H đã
đặt cọc 50.000.000 đồng. Việc đặt cọc sự chứng kiến của Trịnh Th
H L tại nhà của bà. Sau đó, việc mua bán đất không thành. Nguyên nhân chm
dứt hợp đồng trả lại tiền cọc do ông H không đồng ý trả hết tiền mua n đất
khi ra ng chứng. Ông H chỉ chấp nhận trả 650.000.000 đồng nhưng ông V không
đồng ý nên hai n mi chấm dứt hợp đồng và thỏa thuận ông V trả cho ông H số
tin cọc 50.000.000 đồng. Đầu giờ chiều ngày 25/4/2017, ông V đi đến
cổng Khu nông nghiệp công nghệ cao xã P, huyện H, gọi điện cho ông H ra nhận
tin. Ông H đã đếm tiền trước mặt và trả lại bn chínhn bản thỏa thuận đặt
cọc ngày 14/4/2017 cho ông V. Bà không tranh chấp trong vụ án. Ngày
04/12/2017,T đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị H L trình bày: Ngày
14/4/2017, và T người môi gii mua n đất cho ông H và ông V,
làm chứng vào giấy đặt cọc với số tiền 50.000.000 đồng, hn ngày 25/4/2017
sẽ ra công chứng để ký hp đồng chuyển nhượng. Vì ông V và ông H không thỏa
thun được vn đề thanh toán tiền nên sáng ngày 25/4/2017, bà T gọi điện đề nghị
đi cùng bà T, ông V để trả lại tiền cọc cho ông H nhưng bà bận họp nên không
đi được. Chiều ngày 25/4/2017, gặp ông V và T tđược biết ông V đã
trả li tiền cọc đầy đủ cho ông H. Việc nhn tiền môi giới đã xong, không
tranh chấp gì trong vụ án. Ngày 04/12/2017, L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người quyền li, nghĩa vụ liên quan Dương Q D trình bày: Chồng bà là
ông V có đứng tên lô đất tại P, huyện H. Đây là tài sản trước hôn nhân, bà không
ý kiến và không biết vgiao dịch giữa ông H và chồng bà. Ny 04/12/2017,
D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án đã tiến nh hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc gii quyết vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy
định của pháp luật.
Ngày 08/11/2018, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông
Nguyễn TT đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời xác định đã cung cấp toàn
bộ chứng cứ cho Tòa án.
4
Ngày 28/11/2018, bị đơn ông Đỗ M V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Vin kim sát nhân dân quận Tân Phú phát biu: Về
tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, T ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng n sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng t xử
nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng n sự. Về nội dung:
Nguyên đơn không cung cấp được chứng cchứng minh cho yêu cầu khởi kiện
nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thm quyn: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị
đơn tr tiền cọc và tiền phạt cọc theo văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017; bị đơn
đang cư trú tại quận Tân Phú. t đây tranh chấp hợp đồng, cụ thể là tranh chấp
hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sdụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết
của a án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố HChí Minh theo quy định tại Khoản
3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bluật Ttụng dân sự
năm 2015.
[2] Về th tục: Người đại diện theoy quyền của nguyên đơn là ông T, bị đơn
là ông V, nời quyền lợi, nga vụ liên quan là T, Liễu và G đơn
yêu cầu xét xử vắng mặt n Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo
quy định tại khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự m 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn: Ông Cao Đ H yêu cầu Tòa án
buộc ông Đỗ M V phải trả 100.000.000 đồng, bao gồm tiền cọc 50.000.000 đồng
tiền phạt cọc 50.000.000 đồng theo Văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017. Trmột
lần ngay sau khi bản án hiệu lực pháp luật. Ngoài lời khai, để chứng minh cho
yêu cầu khi kiện thì nguyên đơn đã giao nộp các tài liu, chứng cứ gồm: Bản
sao không công chứng, chứng thực Văn bản thỏa thun ngày 14/4/2017 (bút
lục 50), n bản cung cấp chứng cứ ngày 30/10/2018, 31/01/2018 (bút lục
67,68,69,72,73,74) m theo là USB chứa tập tin ghi âm cuộc gọi ngày 24/4/2017
giữa ông H số điện thoại 0914----và ông V số điện thoại 0918-----.
[4] Căn cứ vào khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Biên
bản hòa giải Biên bản đối chất ngày 07/11/2018 giữa ông H, ông V, T t
sở xác định: Ngày 14/4/2017, ông H ông V đã thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất số 529, tờ bản đồ số 48, địa chỉ tại xã P, huyện H, Thành
phố H (Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số AN 1--), giá trị hợp đồng
915.000.000 đồng. Hai n thỏa thuận đặt cọc số tiền số tiền 50.000.000 đồng;
trong vòng 14 ngày sẽ hợp đồng chuyển nhưng tại văn phòng công chứng,
thanh toán 50% số tiền mua n tại văn phòng ng chứng. Khi đặt cọc sự
chứng kiến của người môi gii là bà Lương Thị C Tbà Trịnh Thị H L. Sau đó,
ông V đề nghị ông H thanh toán 100% giá trhợp đồng mua n đất 915.000.000
đồng tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng tại văn phòng công chứng nhưng
ông H không đồng ý.
5
[5] Theo ng ăn số 1321/VPĐK-CNCC ngày 10/5/2018 của Văn phòng
đăng ký đất đai Chi nhánh huyện C, m theo bản sao Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 17/5/2017, công chứng số 0008945 tại Văn phòng Công
chứng L, Thành phố H thìcơ sở ông Đỗ M V đã chuyn nhượng quyền sử dụng
thửa đất số 529, tờ bản đồ số 48, địa chỉ tại P, huyện H cho ông Nguyễn V
1, Hà T G.
[6] Vì ông V không tiếp tục thực hin thỏa thuận đặt cọc ngày 14/4/2017,
n đất cho người khác nên ông H khởi kin yêu cầu ông V trả 100.000.000 đồng.
Ông V không đồng ý với u cầu khởi kin của nguyên đơn cho rằng hai n
đã thanh hợp đồng, ông H đã nhận lại tiền cọc và trả li văn bản đặt cọc vào
chiều ngày 25/4/2017. Ngi lời trình bày, để chứng minh cho lời khai của mình
ông V đã giao nộp cho Tòa án: n bản trình bày ngày 08/12/2017, Bản chụp tin
nhắn giữa ông H và ông V từ số điện thoại 0914--- (bút lục 29, 30, 31). Ngoài ra,
Lương Thị C T là người môi giới xác nhn đã chứng kiến việc ông V ông
H đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, ông V đã trả lại 50.000.000 đồng tiền cọc,
ông H đã nhận đủ tiền trả li bản chính văn bản đặt cọc cho ông V vào chiều
ngày 25/4/2017.
[7] Nội dung bản ghi âm ngày 24/4/2017 do ông H giao nộp, bản chụp tin
nhắn do ông V giao nộp đã được Tòa án công khai tại phiên họp kim tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/11/2018; nguyên đơn b đơn đã
nhận được bản sao không phản đối các nguồn chứng cứ y. Tuy nhiên, bản
ghi âm, bản chụp tin nhắn vừa nêu không thể hin nội dung về việc xác nhận hay
thỏa thuận về quyn, nghĩa vụ của các bên khi không tiếp tục thực hin hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, chưa đủ cơ sở xác định là chứng cứ để
gii quyết vụ án.
[8] Tại đơn giải trình ngày 12/9/2017, ông H xác định đã mất bản gốc Văn bản
thỏa thuận ngày 14/4/2017. Tính đến ngày xét xử, nguyên đơn vẫn không cung cấp
được bản gốc Văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017 để Tòa án đối chiếu mặc đã
được thông báo yêu cầu giao nộp chứng cứ tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/11/2018. Ông V thừa nhận nội dung của thỏa
thuận đặt cọc ngày 14/4/2017 nhưng không thừa đã lập bản sao Văn bản thỏa thuận
ngày 14/4/2017 do nguyên đơn giao nộp; đồng thời ông V cho rằng mình đã trả lại
50.000.000 đồng tiền cọc, nhận li bản chính văn bản đặt cọc và đã hủy văn bản này.
bản sao Văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017 do ông H giao nộp không công
chứng, chứng thực và không có bản gốc để đối chiếu, không được bị đơn thừa nhận
nên không được xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Khoản 1
Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[9] Theo tập quán của các giao dịch hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất bằng “giấy tay” trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Khi hai bên mua
và bán thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đặt cọc thì bên mua sẽ giao lại bản chính giấy
nhận cọc cho bên bán sau khi bên bán đã hoàn trtiền cọc phạt cọc nếu thỏa
thuận. Lời khai của ông V, T vviệc ông V và ông H đã thỏa thuận chấm dứt
hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông V đã trả lại 50.000.000
6
đồng cho ông H nhận lại bản gốc Văn bản thỏa thuận đặt cọc ngày 14/4/2017
phù hợp với tập quán giao dịch hiện nay. Do đó, căn cứ vào các tình tiết khách quan
trong vụ án và quy định tại Điều 5, Điều 328 Khoản 2 Điều 422 của Bộ luật n
sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử sở xác định sự phản đối của ông V đối vi
yêu cầu khởi kiện là có căn cứ.
[10] Từ những nhận định vừa nêu, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn không
chứng minh được yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp nên không được chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
[11] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhn, n ông H
phải chịu án plà 5% tn stiền 100.000.000 đồng. Án pông H phải chịu
5.000.000 đồng.
[12] Các vấn đề khác: Các n không tranh chấp gì đối với số tiền i giới
khi chấm dứt hợp đồng đặt cọc chuyển nhưng quyền sử dụng đất nên Tòa án không
xem xét, giải quyết.
[13] Các kiến nghị ca đại diện Vin kiểm sát tham gia phiên tòa về nội
dung của vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cvào: Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1
Điều 39, Điều 144, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điu 238, Điều 266
Điều 273 của Bộ luật tố tụng n sự; Điều 5, Điều 328 Khoản 2 Điều 422
của Bộ luật n sự m 2015; Căn cứ Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao
Đ H:
Không chấp nhận yêu cầu của ông Cao Đ H về vic buộc ông Đỗ M V phải
trả 100.000.000 đồng, bao gồm tiền cọc 50.000.000 đồng và tiền phạt cọc
50.000.000 đồng theo Văn bản thỏa thuận ngày 14/4/2017.
2. Về án phí: Ông H phải chịu án pn sthẩm 5.000.000 đồng
nhưng được trừ vào số tiền nhưng được trvào tiền tạm ứng án p đã nộp
2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0009849 ngày 04/10/2017 của Chi cục Thi
hành án dân squận Tân Phú, Thành phố Hồ C Minh. Ông H còn phải nộp
2.500.000 đồng án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn nời có quyền li nga vụ
liên quan là bà T, bà L, bà D quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
7
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi
hành án dân sthì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án n s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án n sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- TAND TP.HCM;
- VKSND Q.Tân Phú;
- THADS Q.Tân Phú;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ã ký tên và đóng dấu)
Đỗ Thế Đông
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 609/2018/DS-ST Bản án số 609/2018/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất