Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 57/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tri Tôn (TAND tỉnh An Giang)
Số hiệu: 57/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Q xin ly hôn và chia tài sản chung với ông Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN
TỈNH AN GIANG
Bản án số:57/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 16-7-2024
“V/v Tranh chấp xin ly hôn,
chia tài sản chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tư do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Thanh Nguyên; bà Cao Thị Phương Trang
Thư phiên tòa: Thị Ngọc Hân, Thư Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn,
tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà:
Bà Trầm Ngọc Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử
thẩm công khai
vụ án thụ số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024
về “Tranh chấp xin ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 92/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Dương Thu Q, sinh năm 1997; nơi trú: Tổ H, khóm C, thị
trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
2. Bị đơn: Ông Phạm Tuấn Q1, sinh năm 1993; nơi trú: Hẻm A, khóm F, thị
trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29-01-2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn
Dương Thu Q trình bày:
Vào khoảng tháng 5/2023 cùng ông Phạm Tuấn Q1 tự nguyện đi đến hôn
nhân, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 22/5/2023. Sau khi kết
hôn và ông Q1 chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng tháng
12/2023 vợ chồng xảy mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Q1 cờ bạc, không chăm lo
cho gia đình đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng ông Q1 không thay đổi, ông
2
Q1 đã ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không
thể tiếp tục nên bà Dương Thu Q xin ly hôn với ông Phạm Tuấn Q1.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn ông Phạm Tuấn Q1 trình bày: Ông Q tự nguyện đi đến
hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, ông và bà
Q chung sống hạnh phúc một thời gian phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh
mâu thuẫn do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cải vả, đã ly thân
từ tháng 12/2023 cho đến nay. NayQ xin ly hôn, ông cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ngày 20/3/2024 ông Q1 đơn yêu cầu phản tố về yêu cầu
chia đôi số tài sản cho trong ngày cưới gồm: 6 chỉ vàng 24kara trị giá 33.000.000
đồng; 01 đôi bông bằng vàng ý trị giá 21.600.000 đồng; số tiền 20.000.000 01 đôi
cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đồng. Tổng giá trị 81.950.000 đồng, hiện Q đang
quản lý. Ông yêu cầu được nhận 40.975.000 đồng.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tổ chức hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành. Tại phiên họp
hòa giải ông Q1 xin rút lại yêu cầu chia 01 cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Dương Thu Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tài sản
chung ông Q1 yêu cầu chia tài sản chung, thừa nhận số tài sản 6 chỉ vàng
24kara 33.000.000 đồng và 01 đôi bông bằng vàng ý trị giá 21.600.000 đồng. Sau kết
hôn số vàng đã bán ra để trả nợ tiền mtiệm spa. Còn số tiền 20.000.000 đồng là gia
đình ông Q1 cho nhà gái để đãi tiệc trong ngày cưới.
Bị đơn: Ông Phạm Tuấn Q1 đồng ý ly hôn; về con chung: Không có; về tài sản
chung: Ông Quốc xin rút lại yêu cầu chia số tiền 20.000.000 đồng; yêu cầu chia tài
sản 6 chỉ vàng 24kara 33.000.000 đồng 01 đôi bông bằng vàng ý trị giá
21.600.000 đồng, tổng cộng 54.600.000 đồng, ông Q1 yêu cầu nhận số tiền
27.300.000 đồng. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã chấp hành
đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án.
Nguyên đơn bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q đối với ông Q1.
3
Về con chung: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông Q1. Buộc Q
chia lại cho ông Q1 số tiền 27.300.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu chia cặp nhẫn cưới trị
giá 7.350.000 đồng và số tiền 20.000.000 đồng.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá về vụ án như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết ván: Căn cứ vào yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, bị đơn có nơi trú tại huyện T, tỉnh An Giang;
nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết “Tranh chấp xin ly hôn” đây là tranh chấp hôn
nhân gia đình loại tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều
35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn nhận thấy:
[2.1.] Về quan hệ hôn nhân giữa Dương Thu Q và ông Phạm Tuấn Q1 được xác
lập trên sở tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2023, tổ chức lễ cưới,
đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014
hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Quá trình chung sống vợ chồng, Q và ông Q1 hạnh phúc được thời gian đầu, phát
sinh mâu thuẫn bất đầu từ tháng 12/2023, nguyên nhân chính, Q cho rằng do
cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Q1
không lo làm ăn, cờ bạc và ông Q1 đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Nay
nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục Q xin ly hôn với ông Q1. Quá
trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông Q1 thừa nhận tình trạng hôn nhân giữa ông
Q không thể hàn gắn, ông Q1 đồng ý ly hôn với Q. Tòa án đã tchức hòa
giải đoàn tụ nhưng không thành.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thu Q và ông Phạm Tuấn
Q1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện chung sống, tổ chức lễ cưới, đăng ký kết
hôn, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được,
giữa Q ông Q1 không giành thời gian quan tâm chăm sóc gia đình, chia sẻ,
động viên nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống gia đình, đã ly thân từ
tháng 12 năm 2023 đến nay, nhưng từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không gặp gỡ
nhau nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Từ đó Hội đồng xét xử nhận thấy tình
trạng hôn nhân giữa Q ông Q1 vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng
ngày càng rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
4
được, nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của bà Q về việc yêu cầu ly
hôn với ông Q1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2.] Về con chung: Q ông D khai không có, Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Ông Phạm Quốc T đơn yêu cầu phản tố về chia tài sản
chung gồm: 6 chỉ vàng 24kara trị giá 33.000.000 đồng; 01 đôi bông bằng vàng ý trị
giá 21.600.000 đồng; stiền 20.000.000 01 cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đông.
Tổng giá trị 81.950.000 đồng, hiện Q đang quản lý. Ông yêu cầu nhận 40.975.000
đồng. Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của ông Q1 vào ngày 26/3/2024.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông Q1 xin rút một phần yêu cầu phản tố
về chia tài sản chung gồm: 01 cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đồng số tiền
20.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy về yêu cầu rút của ông Q1 hoàn toàn
tự nguyện không vi phạm quy định của Luật, nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với
yêu cầu chia tài sản gồm: 01 cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đồng và số tiền
20.000.000 đồng là có căn cứ.
Về yêu cầu chia 6 chỉ vàng 24kara trị giá 33.000.000 đồng 01 đôi bông bằng
vàng ý trị giá 21.600.000 đồng. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà Q thừa
nhận số tài sản trên hiện do quản ng thừa nhận giá trị của số tài sản trên
như ông Q1 trình bày. Tuy nhiên bà Q nại rằng sau khi và ông Q1 cưới nhau về,
do ông Q1 còn nợ tiền mở tiệm spa nên đã bàn với ông Q1 bán số vàng
trên để trả nợ vào tiệm spa, ông Q1 cho rằng ông không biết khoản nợ này và tiệm
spa này là của riêng bà Q được mở trong thời gian ông và bà Q quen nhau. Ngoài lời
khai, bà Q không có chứng cứ gì để cung cấp cho Tòa án.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xnhận thấy số tài sản gồm 6 chỉ vàng
24kara trị giá 33.000.000 đồng và 01 đôi bông bằng vàng ý trị giá 21.600.000 đồng là
tài sản chung của vchồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 33 của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc Q tự ý sử dụng số tài sản nêu trên, ông
Q1 không biết là vi phạm quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặt khác Q cũng không chứng minh được stài sản nêu trên đã bán ra để trả
nợ cho khoản nợ chung của vchồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, căn cứ để
chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Tuấn Q1 về chia tài sản chung đối với số
tài sản gồm 6 chỉ vàng 24kara trị giá 33.000.000 đồng và 01 đôi bông bằng vàng ý trị
giá 21.600.000. Tổng cộng 54.600.000 đồng, ông Q1 yêu cầu được nhận 27.300.000
đồng, buộc bà Q trách nhiệm chia cho ông Q1 số tiền 27.300.000 đồng là phù hợp.
[2.4.] Về nợ chung: Không yêu cầu không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sthẩm: Q nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí
hôn nhân thẩm ông Q1 phải chịu án phí dân sự thẩm về phần tài sản được
chia (27.300.000 đồng), theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 27, điểm b khoản 1
5
Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 33, Điều 59 của Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1
Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266,
Điều 273; khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 5 Điều 27; điểm b
khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thu Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Dương Thu Q được ly hôn với ông Phạm Tuấn Q1.
2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung:
Đình chỉ một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Phạm Tuấn Q1 đối với
yêu cầu chia tài sản chung gồm: 01 cặp nhẫn cưới trị giá 7.350.000 đồng số tiền
20.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông Phạm Tuấn Q1 đối yêu cầu với
tài sản chung gồm: 6 chỉ vàng 24kara trị giá 33.000.000 đồng và 01 đôi bông tai bằng
vàng ý trị giá 21.600.000 đồng. Tổng cộng 54.600.000 đồng.
Buộc Dương Thu Q chia cho ông Phạm Tuấn Q1 số tiền 27.300.000 đồng
(hai mươi bảy triệu ba trăm ngàn).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự thẩm: Bà Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn) án phí
hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo biên lai
thu BLTU/23 số 0012247, ngày 29/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân shuyện
Tri Tôn.
Ông Q1 phải chịu 1.365.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi lăm ngàn) án phí
dân sự thẩm. Được khấu trừ 1.024.000 đồng (một triệu không trăm hai miơi bốn
ngàn) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu BLTU/23 số 0012367, ngày
6
25/3/2023 của Chi Cục Thi hành án dân shuyện Tri Tôn. Ông Q1 còn phải nộp
341.000 đồng (ba trăm bốn mươi mốt ngàn) án phí.
Các đương sự quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,
đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không mặt khi tuyên án do chính
đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp
lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND huyện Tri Tôn;
- THADS huyện Tri Tôn;
- Nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Đào Nữ Ngọc L
Tải về
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất