Bản án số 57/2021/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 57/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 57/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 57/2021/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Cẩm Khê (TAND tỉnh Phú Thọ) |
| Số hiệu: | 57/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án tranh chấp về HNGĐ giữa Nguyên đơn chị Hoàng Thị N và bị đơn anh Nguyễn Văn T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2022
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
Độc Lập - Tự do – Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ -TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Tú
2. Bà Lê Thị Hồng Ánh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê,
tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 39/2021/TLST-
HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4
năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1986 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Hà Mạnh T, sinh năm 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2021, tại bản tự khai và các lời khai tiếp
theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Đỗ Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Mạnh T kết hôn tự nguyện, đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngày 08/3/2006. Sau
khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng gia đình bố mẹ anh T tại xã Đ (nay là
xã M), một thời gian thì vợ chồng ra ở riêng để phát triển kinh tế gia đình. Qúa
2
trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc khoảng vài năm đầu tiên sau đó
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm
sống. Nhưng nguyên nhân chính là do anh T thường xuyên uống rượu, do lạm
dụng rượu nên bị nghiện. Vì vậy, năm 2012 địa phương xã Đồng Cam phải lập
hồ sơ đi cai nghiện rượu, đến năm 2014 thì anh T về nhà, nhưng anh T lại cho
rằng bố mẹ đẻ anh đề nghị nên anh phải đi cai nghiện, từ đó giữa anh T và bố
mẹ đẻ anh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Cứ mỗi lần anh uống rượu say
là anh lại gây mâu thuẫn với chị và bố mẹ đẻ anh, làm cho chị và các con phải
sống trong lo sợ từ năm 2020 đến nay; nhiều lần khu Hành chính và Công an xã
Minh Tân phải đến để can thiệp. Nay chị xác định vợ chồng đã mâu thuẫn rất
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được nên chị xin ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.
Tại bản tự khai ngày 29/10/202; các lời khai tiếp theo trong quá trình hòa
giải cũng như tại phiên tòa, bị đơn là anh Hà Mạnh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên
nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị N trình bày là đúng. Nay anh T xác định tình
cảm vợ chồng không còn nên chị N xin ly hôn anh, anh nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Chị N và anh T cùng xác định vợ chồng có 02 con chung
là Hà Phương A, sinh ngày 17/02/2007 và Hà Phương N, sinh ngày 25/11/2008.
Ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu
anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Phương A, chị N trực
tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Phương N và không đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng
nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tại phiên tòa, chị N và anh T cùng thống nhất đề
nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận về việc chia tài sản như sau:
Anh T trực tiếp sử dụng 01 xe mô tô Hon da dream BKS 19Y2-3948 trị
giá 12.000.000đồng; 01 tủ lạnh sannyo 150 lít trị giá 2.000.000đồng; 01 máy
bơm nước công suất 110W trị giá 1.000.000đồng. 01 máy bừa đất trị giá
2.000.000đồng. Tổng trị giá 17.000.000đ (Mười bẩy triệu đồng).
Chị N trực tiếp sử dụng các tài sản chung như sau: 01 xe máy Yamaha
sirius BKS 19G1 - 370.91 trị giá 15.000.000đồng; 02 máy bơm nước công suất
750W trị giá 600.000đồng. Tổng trị giá 15.600.000đ (Mười lăm triệu sáu trăm
nghìn đồng).
3
Các tài sản đã định giá khác thì anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa
án giải quyết và anh T không phải thanh toán chênh lệch cho chị N vì chị N
không yêu cầu.
Chị N và anh T cùng trình bày như sau: Anh chị cùng xác định có tài sản
chung là số tiền 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng), hiện nay chị N
đang quản lý. Tại phiên tòa, chị N và anh T thỏa thuận: Chị N có nghĩa vụ
thanh toán lại cho anh T số tiền chênh lệch là 95.000.000đồng; thời điểm thanh
toán ngày 12/7/2022 và đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này của anh chị.
- Về quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị N và anh T trình
bày không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê phát
biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án
của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã
tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của Pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 55; 58; 59; 81, 82, 83 của Luật Hôn
nhân và gia đình; khoản 2, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, b
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án và Điều 26 của Luật thi hành án Dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị N
và anh Hà Mạnh T.
2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con
chung là Hà Phương A, sinh ngày 17/02/2007 và Hà Phương N, sinh ngày
25/11/2008; anh Hà Mạnh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N
không yêu cầu. Anh Hà Mạnh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung:
Ghi nhận sự thỏa thuận của chị N và anh T về việc phân chia tài sản
chung như sau:
Anh T trực tiếp sử dụng các tài sản như sau: 01 xe mô tô Hon da dream
BKS 19Y2-3948 trị giá 12.000.000đồng; 01 tủ lạnh sannyo 150 lít trị giá
2.000.000đồng; 01 máy bơm nước công suất 110W trị giá 1.000.000đồng. 01
4
máy bừa đất trị giá 2.000.000đồng. Tổng trị giá 17.000.000đ (Mười bẩy triệu
đồng).
Chị N trực tiếp sử dụng các tài sản chung như sau: 01 xe máy Yamaha
sirius BKS 19G1 - 370.91 trị giá 15.000.000đồng; 02 máy bơm nước công suất
750W trị giá 600.000đồng. Tổng trị giá 15.600.000đ (Mười lăm triệu sáu trăm
nghìn đồng).
Chị N và anh T có tài sản chung là số tiền 190.000.000đ (Một trăm chín
mươi triệu đồng), hiện nay chị N đang quản lý. Chị N được trực tiếp sử dụng số
tiền 95.000.000đồng và chị N phải thanh toán cho anh T số tiền chênh lệch là
95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng), thời điểm thanh toán ngày 12/7/2022.
Như vậy, tổng cộng chị N được trực tiếp sử dụng tài sản trị giá
110.600.000đồng. Anh T được trực tiếp sử dụng tài sản trị giá 112.000.000đồng;
nhưng anh T không phải toán chênh lệch về giá trị tài sản cho chị N vì chị N
không yêu cầu.
Về nghĩa vụ tài sản: Chị N và anh T đều không đề nghị giải quyết nên đề
nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được
thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa trên cơ sở xem xét,
đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về nội dung vụ án.
1.1. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị N xin được ly hôn anh Hà Mạnh
T thấy rằng: Chị Đỗ Thị N và anh Hà Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngày 08/3/2006
là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương xã M thể hiện: Trong quá trình
chung sống, vợ chồng chị N và anh T đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn; nguyên
nhân chính là do anh T thường xuyên uống rượu, không làm chủ được bản thân
nên thường xảy ra mâu thuẫn với chị N và bố mẹ đẻ của anh T. Năm 2012, do
anh T nghiện rượu, nên Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã M) phải đề nghị đưa
vào cơ sở bắt buộc cai nghiện bắt buộc. Năm 2014, anh T về địa phương nhưng
vẫn uống rượu và nhiều lần gây mâu thuẫn với chị N và bố mẹ đẻ anh T, nhiều
lần Công an khu và Trưởng khu hành chính phải can thiệp. Nay mâu thuẫn
không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn.
5
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T
đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Anh T cũng có quan điểm nhất trí ly hôn với chị N. Do đó, cần công nhận
thuận tình ly hôn của anh chị để anh chị sớm ổn định cuộc sống riêng.
2. Về con chung:
Xét đề nghị của chị N xin được nuôi cả hai con chung, còn anh T xin được
trực tiếp nuôi cháu Hà Phương A, chị N trực tiếp nuôi cháu Hà Phương N thấy
rằng: Chị N và anh T có 02 con chung là Hà Phương A, sinh ngày 17/02/2007
và Hà Phương N, sinh ngày 25/11/2008.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành lấy ý kiến của các cháu Hà
Phương A và Hà Phương N ngày 18/11/2021, có sự tham gia của cả chị N và
anh T thì cả cháu A, cháu N đều có nguyện vọng xin ở với chị N.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ đã xác định: Anh T thường xuyên
uống rượu, do lạm dụng trong việc sử dụng rượu nên năm 2012, anh T phải đi
cai nghiện rượu bắt buộc, đến năm 2014 anh T về địa phương, nhưng anh T vẫn
uống rượu, rồi gây mâu thuẫn với chị N và đặc biệt mâu thuẫn với bố mẹ đẻ của
anh T là ông Hà Ngọc L và bà Hà Thị M, đã nhiều lần Trưởng khu Đồng Minh
và Công an khu phải can thiệp; trong khi đó, anh T không có chỗ ở ổn định, hiện
nay bố mẹ không cho ở cùng, anh T phải ở ngoài khu trại chăn nuôi, còn hiện
nay chị N cùng hai con chung của anh chị đang ở cùng nhà bố mẹ anh T, được
bố mẹ anh T tạo điều kiện để cho chị N và hai con chung của anh chị ở cùng.
Như vậy, xét thấy nếu giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ
ảnh hưởng không tốt đến đời sống tâm lý và sự phát triển toàn diện của các
cháu. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của hai con chung, cần giao cả 02 con chung
cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với tình hình thực tế cũng như đảm
bảo nhất quyền lợi của hai con chung của anh chị.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không đề nghị xem xét nên Tòa án không
giải quyết.
2.3. Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị N và anh T chưa
thống nhất được việc giải quyết tài sản chung. Tại phiên tòa, anh chị mới thống
nhất được việc phân chia toàn bộ tài sản chung và đề nghị Tòa án công nhận sự
thỏa thuận như sau:
Anh T trực tiếp sử dụng các tài sản như sau: 01 xe mô tô Hon da dream
BKS 19Y2-3948 trị giá 12.000.000đồng; 01 tủ lạnh sannyo 150 lít trị giá
2.000.000đồng; 01 máy bơm nước công suất 110W trị giá 1.000.000đồng; 01
6
máy bừa đất trị giá 2.000.000đồng. Tổng trị giá 17.000.000đ (Mười bẩy triệu
đồng).
Chị N trực tiếp sử dụng các tài sản chung như sau: 01 xe máy Yamaha
sirius BKS 19G1 - 370.91 trị giá 15.000.000đồng; 02 máy bơm nước công suất
750W trị giá 600.000đồng. Tổng trị giá 15.600.000đ (Mười lăm triệu sáu trăm
nghìn đồng).
Chị N và anh T có tài sản chung là số tiền 190.000.000đồng, hiện nay chị
N đang quản lý. Chị N và anh T thỏa thuận: Chị N được trực tiếp sử dụng số
tiền 95.000.000đồng và chị N có nghĩa vụ thanh toán cho anh T số tiền chênh
lệch 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng). Thời điểm thanh toán ngày
12/7/2022. Như vậy, chị N được sử dụng tổng giá trị tài sản là 110.600.000đ
(Một trăm mười triệu sáu trăm nghìn đồng). Anh T được sử dụng tổng giá trị tài
sản là 112.000.000 đ (Một trăm mười hai triệu đồng). Anh T không phải thanh
toán chênh lệch cho chị N vì chị N không yêu cầu.
Nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị N và anh T đều không đề nghị
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị N và anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
và án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 55; 59; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
khoản 2, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, b khoản 5 Điều 27
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án và Điều 26 của Luật thi hành án Dân sự.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị N
và anh Hà Mạnh T.
2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con
chung là Hà Phương A, sinh ngày 17/02/2007 và Hà Phương N, sinh ngày
25/11/2008; anh Hà Mạnh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N
không yêu cầu; nhưng anh Hà Mạnh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục
con chung không ai được cản trở.
7
3. Về tài sản chung:
Ghi nhận sự thỏa thỏa thuận của chị N và anh T tại phiên tòa về việc phân
chia tài sản chung như sau:
3.1. Chị N được trực tiếp sử dụng các tài sản chung của vợ chồng đề nghị
giải quyết như sau: 01 xe máy Yamaha sirius BKS 19G1 - 370.91 trị giá
15.000.000đồng; 02 máy bơm nước công suất 750W trị giá 600.000đồng và số
tiền 95.000.000đồng chị N đang quản lý. Tổng cộng là 110.600.000đ (Một trăm
mười triệu sáu trăm nghìn đồng).
3.2. Anh T được trực tiếp sử dụng các tài sản chung của vợ chồng đề nghị
giải quyết như sau: 01 xe mô tô Hon da dream BKS 19Y2-3948 trị giá
12.000.000đồng; 01 tủ lạnh sannyo 150 lít trị giá 2.000.000đồng; 01 máy bơm
nước công suất 110W trị giá 1.000.000đồng; 01 máy bừa đất trị giá
2.000.000đồng.
Chị N có nghĩa vụ thanh toán cho anh T số tiền 95.000.000đ (Chín mươi
lăm triệu đồng) (từ số tiền 190.000.000đồng chị N đang quản lý). Thời điểm
thanh toán ngày 12/7/2022.
Tổng cộng, anh T được trực tiếp sử dụng giá trị tài sản là 112.000.000đ
(Một trăm mười hai triệu đồng).
Anh T không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho chị N vì chị N
không yêu cầu.
4. Về quyền, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị N và anh T
không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều
30 Luật thi hành án Dân sự.
5. Về án phí: Chị N phải chịu 75.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và
5.530.000đồng án phí chia tài sản chung, tổng cộng là 5.605.000đồng, trừ cho
chị N số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị N đã nộp tại biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0007703, ngày 29/10/2021, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Chị N còn phải nộp 5.305.000đ (Năm triệu ba trăm linh
năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
8
Anh T phải chịu 75.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 5.600.000đồng án
phí chia tài sản chung. Tổng cộng là 5.675.000đ (Năm triệu sáu trăm bẩy mươi
lăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Chị N và anh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc
thẩm.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Cẩm Khê;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- Chi cục THA DS huyện Cẩm Khê;
- UBND xã M;
- Các đương sự (2b);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hán Hưởng
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm