Bản án số 56/2025/DS-ST ngày 17/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 56/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 56/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 56/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 56/2025/DS-ST ngày 17/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 56/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Lê Công M - Trần Thị M1 và Vũ Văn N "Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng góp vốn" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 0 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 56/2025/DS-ST
Ngày: 17-9-2025
V/v “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
và Hợp đồng góp vốn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 0, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- C: Ông Lê Bá Khuyến.
Các H: 1. Bà Đoàn Thị Mến.
2. Ông Đào Danh Tuất.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Hiếu – Thư ky
́
Tòa án nhân dân
Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đa
̣
i diê
̣
n Viê
̣
n kiê
̉
m sa
́
t nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên to
̀
a: Ông Lê Văn Thiên – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại tru
̣
sơ
̉
Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành
phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 2) xét xử sơ thâ
̉
m công khai vụ án thụ lý số
321/2024/TLST-DS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về viê
̣
c
.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-DS, ngày
22/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST-DS, ngày 20/8/2025,
giữa ca
́
c đương sư
̣
:
Ông Lê Công M, sinh năm 1977; căn cước công dân số
0240….1454, cấp ngày 31/12/2021 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn B1, xã B,
tỉnh Bắc Ninh).
Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996 (Vắng
mặt).
Địa chỉ: 88/55/21 NVQ, phường P, quận 0, thành phố Hồ Chí Minh (nay
là 88/55/21 NVQ, phường P, thành phố Hồ Chí Minh).
000
ngày 15/7/2024).
2. : Bà Trần Thị M1, sinh năm 1981; giấy chứng minh nhân dân
số 372….666, cấp ngày 05/03/2019 và ông Vũ Văn N, sinh năm 1981; giấy
chứng minh nhân dân số 121….896, cấp ngày 31/01/2019 (Vắng mặt).
2
Địa chỉ: Cùng trú tại tổ 0, khu phố 0, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên
Giang (nay là tổ 0, khu phố 0 – D, Đặc khu P, tỉnh An Giang).
3.
Bà Khổng Thị L, sinh năm 1982; căn cước công dân số 0241…..1648, cấp
ngày 31/12/2021 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn B1, xã B, tỉnh
Bắc Ninh).
NÔ
̣
I DUNG VU
̣
A
́
N:
trình bày:
Ông Lê Công M và vợ chồng bà Trần Thị M1, ông Vũ Văn N là người
cùng quê (đồng hương) có quen biết nhau vì vậy ông M biết được vợ chồng bà
M1 và ông N có mở Văn phòng giao dịch bất động sản (tên là Văn phòng MP
Land) tại đường HV, khu phố L, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ)
nên khi được vợ chồng bà M1, ông N giới thiệu, mời gọi đầu tư bất động sản
(mua bán đất) hoặc cùng hợp tác chung vốn đầu tư bất động sản thì ông M đã
đồng ý
. Sau đó, ông M và bà M1, ông N đã ký kết các hợp đồng đặt cọc tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các văn bản thoả thuận về việc góp vốn
chung mua đất bao gồm:
(1)
Ngày 24/2/2022, bà M1 ký với ông Lê Công M Hợp
đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
đối với thửa đất số 61 và 266, tờ bản đồ số 29, diện tích 350m
2
toạ lạc tại ấp H,
xã P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ)
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số phát hành BY 31…36, vào sổ số 009….863 cấp ngày 8/12/2014 với giá
chuyển nhượng là 9.500.000.000 đồng (chín tỷ năm trăm triệu đồng). Ông M đã
thanh toán cho bà M1 số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) theo 2 lần
chuyển tiền cụ thể, ngày 24/2/2022, bà M1 nhận của ông M số tiền là 50.000.000
đồng (năm mươi triệu đồng) và ngày 25/2/2022, bà M1 nhận của ông M số tiền
là 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng);
(2)
Ngày 02/3/2022, bà M1
ký tiếp với ông M Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất) để chuyển nhượng thửa đất số 530, tờ bản đồ số 29, diện
tích 358,5m
2
toạ lạc tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) với giá chuyển
nhượng là 7.320.000.000 đồng (bảy tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng). Bà M1 đã
nhận số tiền ông M đặt cọc là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng);
(3)
Ngày
4/4/2022, bà M1 ký tiếp với ông M Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà) đối với thửa đất số 448, tờ bản đồ
số 158, diện tích 2105m
2
tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) với giá
chuyển nhượng là 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Ông M đã chuyển cho bà
M1 số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng);
(4)
Ngày 18/4/2022, bà
M1 ký tiếp với ông M Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất đối với
thửa đất số 105 và 107, tờ bản đồ số 03, diện tích 15.948m
2
tại xã B, huyện X,
3
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) với giá chuyển nhượng là 8.600.000.000 đồng (tám tỷ
sáu trăm triệu đồng). Trong đó, ông M góp chung số tiền là 1.070.000.000 đồng
(một tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng) và bà M1 đã nhận tiền;
(5)
Ngày
20/4/2022, bà M1 ký tiếp với ông M Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua
đất đối với thửa đất số 122, tờ bản đồ số 12, diện tích 2457m
2
tại xã B, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) với giá chuyển nhượng là 19.000.000.000 đồng
(mười chín tỷ đồng). Trong đó, ông M góp chung số tiền là 1.000.000.000 đồng
(một tỷ đồng) và bà M đã nhận tiền.
Như vậy, bà M1 và ông N đã nhận của ông M tổng số tiền là 4.870.000.000
(bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng) nhưng đến nay không thực hiện việc
chuyển nhượng, không công chứng sang tên cho ông M cũng như không tiếp tục
thực hiện các văn bản đã thoả thuận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của ông M nên tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2024, ông M yêu cầu Toà án
giải quyết:
- Buộc bà M1 và ông N tiếp tục thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 61 và 266, tờ bản đồ số 29, diện tích 350m
2
toạ lạc tại ấp H, xã
P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ)
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số phát hành BY 31…36, vào sổ số 009…..863 cấp ngày 8/12/2014 theo Hợp
đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất,
ngày 24/2/2022.
- Buộc bà M1 và ông N tiếp tục thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 530, tờ bản đồ số 29, diện tích 358,5m
2
toạ lạc tại xã P, huyện
X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ)
theo Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022.
- Buộc bà M1 và ông N tiếp tục thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 448, tờ bản đồ số 158, diện tích 2105m
2
tại xã H, huyện X, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) theo Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày 4/4/2022.
- Buộc bà M1 và ông N tiếp tục thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 105 và 107, tờ bản đồ số 03, diện tích 15.948m
2
tại xã B, huyện
X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) theo Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua
đất, ngày 18/4/2022.
- Buộc bà M1 và ông N tiếp tục thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 12, diện tích 2457m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) theo Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất,
ngày 20/4/2022.
- Trường hợp bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N không thực hiện việc
chuyển nhượng nêu trên thì buộc bà M1 và ông N phải trả lại cho ông Lê Công
M tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng)
theo các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền
4
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày
4/4/2022; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
Tuy nhiên, sau khi Toà án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu
của người đại diện cho nguyên đơn thì người đại diện cho nguyên đơn đã biết
được thông tin về các thửa đất mà bà M1 và ông N ký kết hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng, góp vốn mua chung đất với ông M thì không có tài sản nào nêu
trên (từ
(1)
đến
(5)
) tại các thời điểm bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N (hoặc một
mình bà M1) ký kết với ông M đứng tên bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N (là
người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) hoặc bà
Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N được người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất (từ
(1)
đến
(5)
) ủy quyền (được quyền lập và ký hợp đồng
chuyển nhượng, tặng cho, nhận đặt cọc, góp vốn, cho thuê, thế chấp…). Vì vậy,
tại biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hoà giải ngày 22/4/2025, người đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Toà án giải
quyết:
Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lại cho ông Lê Công M
tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng) theo
các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày 4/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn bản thỏa thuận
V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
Đến ngày 22/5/2025, Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải
được thì người đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lại cho ông Lê Công M
tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng) theo
các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày 4/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn bản thỏa thuận
V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
- Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lãi cho ông Lê Công M
trên số tiền 4.870.000.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương
0,83%/tháng), tạm tính kể từ ngày 01/5/2022 đến ngày 01/5/2025 là 03 năm
(bằng 36 tháng), cụ thể: 36 tháng x 0,83% x 4.870.000.000 đồng =
1.455.156.000 đồng. Tổng cộng bà M1 và ông N phải trả cho ông M là
4.870.000.000 đồng (gốc) + 1.455.156.000 đồng (lãi) = 6.325.156.000 đồng.
Đến ngày 20/8/2025, người đại diện cho nguyên đơn nộp cho Toà án văn
bản ý kiến, theo đó người đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết:
5
- Tuyên vô hiệu Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc
tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày
4/4/2022; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
- Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lại cho ông Lê Công M
tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng) theo
các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày 4/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn bản thỏa thuận
V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
- Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lãi cho ông Lê Công M
trên số tiền 4.870.000.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương
0,83%/tháng), tạm tính kể từ ngày 21/4/2022 đến ngày 20/8/2025 là 40 tháng, cụ
thể: 40 tháng x 0,83% x 4.870.000.000 đồng = 1.616.840.000 đồng. Tổng cộng
bà M1 và ông N phải trả cho ông M là 4.870.000.000 đồng (gốc) +
1.616.840.000 đồng (lãi) = 6.486.840.000 đồng.
Ngoài những nội dung trên nguyên đơn và người đại diện cho nguyên đơn
không có yêu cầu gì khác.
là 1 :
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng nhưng bà M1 và ông N vẫn không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án
cũng không nhận được văn bản ghi ý kiến của bà M1 và ông N đối với yêu cầu
của nguyên đơn cũng như không nhận được tài liệu, chứng cứ kèm theo và yêu
cầu phản tố (nếu có).
:
Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L
vắng mặt nhưng bà L có gửi đến Tòa án bản khai (ngày 9/7/2025) với nội dung:
Bà là vợ của ông Lê Công M, việc ông M giao dịch với vợ chồng bà M1 và ông
N bà không hề biết, bà L xác định số tiền đó là tài sản riêng của ông M, không
liên quan đến bà L. Bà L đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật
và không đưa bà L vào tham gia tố tụng. Ngoài những nội dung trên, bà L không
có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
do :
- Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất ngày 24/2/2022 đối với thửa đất số 61 và 266, tờ bản đồ số 29, diện
tích 350m
2
tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Hợp đồng đặt cọc (V/v
6
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) ngày 02/3/2022
đối với thửa đất số 530, tờ bản đồ số 29, diện tích 358,5m
2
tại xã P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền trên đất (nhà) ngày 04/04/2022 đối với thửa đất số 448, tờ bản
đồ số 158, diện tích 2.105m
2
tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Văn bản
thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất ngày 18/4/2022 đối với thửa đất số 105
và 107, tờ bản đồ số 03, diện tích 15.948m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất ngày 20/4/2022 đối
với thửa đất số 122, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.457m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu (đã được Toà án đối chiếu, xác nhận); căn cước công dân của
ông M (bản sao); căn cước công dân của bà H (bản sao); Văn bản ủy quyền số
chứng thực 000, quyển số 01/2024–SCT/CK, ĐC ngày 15/7/2024 (bản chính);
giấy chứng minh nhân dân của ông N và bà M1 (bản sao chụp).
- Toàn bộ tài liệu, chứng cứ liên quan đến các thửa đất: Thửa đất số 61 và
266, tờ bản đồ số 29, diện tích 350m
2
tại xã P, huyện X; Thửa đất số 530, tờ bản
đồ số 29, diện tích 358,5m
2
tại xã P, huyện X; Thửa đất số 448, tờ bản đồ số 158,
diện tích 2.105m
2
tại xã H, huyện X; Thửa đất số 105 và 107, tờ bản đồ số 03,
diện tích 15.948m
2
tại xã B, huyện X; Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 12, diện tích
2.457m
2
tại xã B, huyện X (tất cả đều có xác nhận của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện X); Công văn số 6438/CNVPĐK-TTLT, ngày 30/12/2024
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu V/v
cung cấp thông tin, tài liệu theo Công văn số 640/CV-TA, ngày 03/12/2024 của
Tòa án nhân dân huyện X (bản chính).
tòa:
Bà M1 và ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng
mặt không có lý do. Người đại diện cho nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Không có
đương sự nào cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực
hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, về thời
hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203
của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn và người có
7
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
theo quy định tại các Điều 70, 71, 73, 85 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn
chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70,
72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 5,
26, 35, 39 và Điều 244 của Bô
̣
luâ
̣
t Tố tu
̣
ng Dân sư
̣
năm 2015; các Điều 117, 127
và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, theo đó tuyên:
+ Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày
4/4/2022; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022; Văn
bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022 giữa bà M1 với ông
M và giữa bà M1, ông N với ông M vô hiệu do bị lừa dối.
+ Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải trả lại cho ông Lê Công M
tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng).
+ Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn và đại diện cho nguyên đơn trên
số tiền 4.870.000.000 đồng từ ngày 01/5/2022 đến ngày 01/5/2025 với mức lãi
suất là 10%/năm. Về yêu cầu này do tại đơn khởi kiện ông M không yêu cầu, quá
trình tố tụng ông M và người đại diện không có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung,
Tòa án cũng chưa thụ lý, ông M cũng chưa đóng tạm ứng án phí cho khoản yêu
cầu này nên nội dung này là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Vì vậy, không
xem xét mà chỉ có căn cứ buộc bị đơn phải trả tiền lãi chậm trả cho nguyên đơn
kể từ ngày xét xử với mức lãi suất không quá 20%/năm của số tiền chậm trả,
tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí: Đương sự phải chịu hoặc không phải chịu án phí theo quy
định của pháp luật.
NHÂ
̣
N ĐI
̣
NH CU
̉
A TO
̀
A A
́
N:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện,
ông Lê Công M yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N tiếp tục
thực hiện việc mua bán quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 61 và 266, tờ bản đồ
số 29, diện tích 350m
2
toạ lạc tại ấp H xã P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
thửa đất số 530, tờ bản đồ số 29, diện tích 358,5m
2
toạ lạc tại xã P, huyện X, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu; thửa đất số 448, tờ bản đồ số 158, diện tích 2105m
2
tại xã H,
huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; thửa đất số 105 và 107, tờ bản đồ số 03, diện
tích 15.948m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; thửa đất số 122, tờ bản
đồ số 12, diện tích 2457m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Trường
hợp bà M1 và ông N không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng thì buộc bà

8
M1 và ông N phải trả lại cho ông M tổng số tiền đã nhận là 4.870.000.000 đồng,
được xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng
dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đối
tượng tranh chấp là bất động sản tại huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là tại
các xã H, xã B và xã HH, thành phố Hồ Chí Minh) nên thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 0, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại
khoản 1 Điều 35 (được sửa đổi, bổ sung theo Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15,
ngày 25/6/2025) và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện của nguyên đơn có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội
đồng xét xử căn cứ theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về yêu cầu tính lãi suất và thời gian tính lãi suất trên tổng số tiền
nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại
đơn khởi kiện ngày 14/8/2024 thì nguyên đơn chỉ yêu cầu trong trường hợp bà
M1 và ông N không thực hiện việc chuyển nhượng thì buộc bà M1 và ông N
phải trả lại cho ông M tổng số tiền là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy
mươi triệu đồng) theo các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp
đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất
(nhà), ngày 4/4/2022; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày
18/4/2022 và Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng người đại diện cho nguyên đơn vào ngày
22/5/2025 có yêu cầu buộc bà M1 và ông N phải trả lãi cho ông M trên tổng số
tiền 4.870.000.000 đồng với mức lãi suất là 10%/năm (tương đương
0,83%/tháng), tạm tính kể từ ngày 01/5/2022 đến ngày 01/5/2025 là 03 năm
(bằng 36 tháng), cụ thể: 36 tháng x 0,83% x 4.870.000.000 đồng =
1.455.156.000 đồng. Tổng cộng bà M1 và ông N phải trả cho ông M là
4.870.000.000 đồng (gốc) + 1.455.156.000 đồng (lãi) = 6.325.156.000 đồng.
Nhận thấy, theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 3
Điều 200, khoản 2 Điều 210 và Điều 243 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
thì:
;
. Ngoài ra, theo quy
định tại khoản 1 Điều 146, khoản 3 Điều 195 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015 thì:

9
Như vậy, đối với yêu cầu này của người đại diện cho nguyên đơn chưa đáp
ứng đầy đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử
không có cơ sở xem xét, giải quyết.
[4] Về tài liệu, chứng cứ: Căn cứ theo lời trình bày của nguyên đơn trong
quá trình tố tụng và tài liệu, chứng cứ đã nộp tại Tòa án hoặc do Tòa án thu thập
thì toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Tòa án tiến hành
kiểm tra, tiếp cận và công khai. Mặt khác, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ
các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của
nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, không có yêu cầu phản tố. Toàn bộ
tài liệu, chứng cứ đã được Tòa án thông báo cho bà M1 và ông N tại Thông báo
về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo
quy định tại các Điều 208, 209 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì vậy, bị đơn phải chịu hậu quả pháp lý của việc không trình bày ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 196 và Điều 199 của
Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ, lời trình bày của nguyên đơn để giải quyết vụ án .
Về áp dụng pháp luật nội dung:
[5] Xe
́
t các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc
tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày
4/4/2022; Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022 và
Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022.
[5.1] Về các Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất, ngày 24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc
tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày
4/4/2022 (viết tắt là 03 Hợp đồng đặt cọc): Quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn và người đại diện cho nguyên đơn khẳng định do
quen biết nhau nên ông M
biết được vợ chồng bà M1 và ông N có mở Văn phòng giao dịch bất động sản
tại huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) nên khi được vợ chồng bà M1, ông N
giới thiệu, mời gọi đầu tư bất động sản (mua bán đất) thì ông M đã đồng ý
. Sau
đó, ông M và bà M1 đã ký kết 03 Hợp đồng đặt cọc vào các ngày 24/2/2022,
ngày 02/3/2022 và ngày 4/4/2022. Tổng số tiền ông M đã đặt cọc và bà M1 đã
nhận là 2.800.000.000 đồng. Việc ký kết (giao kết) giữa bà M1 và ông M do hai
bên tự nguyện sau khi đã thỏa thuận và đi đến thống nhất về số tiền (tiền đặt cọc
và tổng số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất), diện tích đất, phương
10
thức thanh toán và thời gian thanh toán, thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng
hoặc việc mua lại thửa đất.
[5.2] Về Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022
và Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn chung mua đất, ngày 20/4/2022 (viết tắt là
02 Văn bản thoả thuận góp vốn): Cũng theo lời trình bày của nguyên đơn và
người đại diện cho nguyên đơn như trên, sau
khi được vợ chồng bà M1, ông N
giới thiệu, mời gọi cùng hợp tác chung vốn đầu tư bất động sản thì ông M đã
đồng ý
. Sau đó, ông M và bà M1, ông N đã ký kết 02 Văn bản thoả thuận góp
vốn vào các ngày 18/4/2022 và ngày 20/4/2022. Tổng số tiền ông M đã góp và
bà M1, ông N đã nhận là 2.070.000.000 đồng. Việc ký kết (giao kết) giữa bà M1,
ôn g N và ông M do hai bên tự nguyện sau khi đã thỏa thuận và đi đến thống nhất
về số tiền góp của mỗi bên, diện tích đất, trách nhiệm tách thửa, thời điểm bán,
thời gian nhận lại tiền gốc và lãi.
Như vậy, tại thời điểm ký kết 03 Hợp đồng đặt cọc và 02 Văn bản thoả
thuận góp vốn như nêu tại tiểu mục [5.1] và [5.2] bà M1, ông N và ông M đều có
đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung và hình thức của 03 Hợp đồng đặt cọc và
02 Văn bản thoả thuận góp vốn phù hợp với quy định về giao dịch dân sự nên
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại các Điều 116,
Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự.
[6] Xe
́
t yêu cầu khơ
̉
i kiê
̣
n cu
̉
a nguyên đơn:
[6.1] Đối với 03 Hợp đồng đặt cọc: Hội đồng xét xử nhận thấy, theo nội
dung thỏa thuận vào các ngày 24/2/2022, ngày 02/3/2022 và ngày 4/4/2022 ông
M đặt cọc cho bà M1 tổng số tiền 2.800.000.000 đồng để đảm bảo việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số 61 và 266, tờ bản đồ số 29, diện
tích 350m
2
toạ lạc tại ấp H, xã P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ); t
hửa đất
số 530, tờ bản đồ số 29, diện tích 358,5m
2
toạ lạc tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu (cũ); thửa đất số 448, tờ bản đồ số 158, diện tích 2105m
2
tại xã H,
huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ). Hai bên cam kết về thời hạn (cụ thể: Hợp
đồng ngày 24/2/2022 là sau 75 ngày; Hợp đồng ngày 02/3/2022 là sau 45 ngày
và Hợp đồng ngày 4/4/2022 là sau 30 ngày), kể từ ngày giao kết các bên phải
tiến hành ký hợp đồng công chứng việc chuyển nhượng, nếu không công chứng
được thì bà M1 sẽ mua lại toàn bộ các thửa đất mà ông M đã đặt cọc với số tiền
cao hơn số tiền ông M đã đặt cọc. Tuy nhiên, hết thời hạn đã ấn định bà M1
không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không mua lại toàn bộ
các thửa đất và không trả lại tiền như đã thỏa thuận.
[6.2] Đối với 02 Văn bản thoả thuận góp vốn: Hội đồng xét xử nhận thấy,
sau khi thỏa thuận với bà M1 và ông N thì vào các ngày 18/4/2022 và ngày
20/4/2022. Ông M và bà M1, ông N đã lập và ký kết bản thỏa thuận V/v góp vốn
chung mua đất, theo đó ông M góp tổng số tiền 2.070.000.000 đồng để nhận
chuyển nhượng chung quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số 105 và 107, tờ bản
11
đồ số 03, diện tích 15.948m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) và
thửa đất số 122, tờ bản đồ số 12, diện tích 2457m
2
tại xã B, huyện X, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ). Hai bên cam kết “Sau khi chuyển nhượng hoặc uỷ quyền
cho bà Trần Thị M1. Bà M1 chịu trách nhiệm đi tách thửa. Khi bán hai bên cùng
thoả thuận” và “Bên A cam kết sau 25 ngày kể từ ngày 19/4/2022, bên A sẽ
thanh toán cho bên B số tiền cả gốc lẫn lời là 1.100.000.000đ”. Tuy nhiên, hết
thời hạn đã ấn định bà M1 và ông N không thực hiện các nội dung như đã thỏa
thuận, không thanh toán tiền gốc, tiền lãi như cam kết.
[7] Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà M1 và
ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt
không có lý do, điều đó cho thấy bản thân bà M1 và ông N đã tự tước bỏ quyền
được chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự và phải chịu hậu quả pháp lý của việc không trình bày ý kiến đối với yêu cầu
khởi kiện theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 196 và Điều 199 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
[8] Xét lỗi làm cho các bên không ký được 03 Hợp đồng đặt cọc và 02 Văn
bản thoả thuận góp vốn: Quá trình tố tụng, người đại diện cho nguyên có đơn đề
nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập toàn bộ hồ sơ địa chính của các thửa
đất mà ông M đã đặt cọc với bà M1 để nhận chuyển nhượng cũng như góp vốn
với bà M1 và ông N để cùng hưởng lợi. Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Công
văn số 6438/CNVPĐK-TTLT, ngày 30/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký đất đai huyện X – Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xác nhận:
Toàn bộ các thửa đất mà ông M và bà M1 ký kết hợp đồng đặt cọc vào các ngày
24/2/2022, ngày 02/3/2022 và ngày 4/4/2022 cũng như khi ông M và bà M1, ông
N ký kết văn bản góp vốn chung mua đất vào các ngày 18/4/2022 và ngày
20/4/2022 thì không có tài sản nào tại các thời điểm bà M1 và ông N (hoặc một
mình bà M1) ký kết với ông M đứng tên bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N (là
người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất). Bên cạnh
đó, bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N cũng không được người sử dụng đất, chủ
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ủy quyền (được quyền lập và ký
hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, nhận đặt cọc, góp vốn, cho thuê, thế chấp…).
Như vậy, việc các bên không ký được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và không đạt được mục đích của việc góp vốn như đã thỏa thuận là do bà M1
và ông N đã cố ý lừa dối ông M ngay từ khi xác lập các giao dịch trên; bản thân
ông M cũng có một phần lỗi, thay vì trước khi ký hợp đồng, giao dịch phải tiến
hành kiểm tra, xác minh thông tin về toàn bộ hồ sơ địa chính của các thửa đất
nhưng ông M không thực hiện mà đã cùng bà M1 và ông N ký 03 Hợp đồng đặt
cọc và 02 Văn bản thoả thuận góp vốn.
Như đã nhận định tại mục [6] và [8] có đủ cơ sở để tuyên các giao dịch
(03 Hợp đồng đặt cọc và 02 Văn bản thoả thuận góp vốn) vô hiệu như yêu cầu
12
của người đại diện cho nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên theo quy định
tại Điều 127 của Bộ Luật Dân sự.
Do bà M1 và ông N có hành vi cố ý lừa dối nhằm làm cho ông M hiểu sai
lệch về đối tượng và nội dung của giao dịch dân sự, xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn nên căn cứ các Điều 116, 117, 119, 127, 131, 274,
275, 280, 357, 468, 504 và Điều 512 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà M1 và ông N có nghĩa vụ trả lại tổng
số tiền 4.870.000.000 đồng và phải chịu lãi suất chậm thi hành án của số tiền
4.870.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi bà M1
và ông N trả hết số tiền 4.870.000.000 đồng cho ông M. Các nội dung khác
không có trong các giao dịch mà các bên đã ký nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[9] Xét lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Khổng Thị L không có yêu cầu và ý kiến gì đối với việc khởi kiện của
nguyên đơn nên ghi nhận.
[10] Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn
được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự đối với giá trị tài sản
phải thực hiện nghĩa vụ là 112.870.000 đồng. Được tính như sau: Từ trên
4.000.000.000 đồng là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh
chấp vượt 4.000.000.000 đồng. Cụ thể: 112.000.000 đồng + 0,1% x 870.000.000
đồng = 870.000 đồng.
[11] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật tố tụng Dân sự.
[12] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cư
́
va
̀
o khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 (được sửa đổi, bổ
sung theo Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15, ngày 25/6/2025), điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của
Bô
̣
luâ
̣
t Tố tu
̣
ng Dân sư
̣
năm 2015; các Điều 116, 117, 119, 127, 131, 274, 275,
280, 357, 468, 504 và Điều 512 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xư
̉
:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công M đối với bà Trần Thị
M1 và ông Vũ Văn N về “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng góp vốn”.
13
- Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng góp vốn (Hợp đồng đặt cọc
tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ngày
24/2/2022; Hợp đồng đặt cọc V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất, ngày 02/3/2022; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (nhà), ngày 4/4/2022; Văn bản thỏa thuận
V/v góp vốn chung mua đất, ngày 18/4/2022 và Văn bản thỏa thuận V/v góp vốn
chung mua đất, ngày 20/4/2022) được ký kết giữa ông Lê Công M với bà Trần
Thị M1 và ông Vũ Văn N vô hiệu.
- Buộc bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N có nghĩa vụ trả lại tổng số tiền
đã nhận cọc và nhận góp vốn là 4.870.000.000 đồng (bốn tỷ tám trăm bảy mươi
triệu đồng) cho ông Lê Công M.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu người
phải thi hành án không thi hành số tiền nói trên, thì hàng tháng người phải thi
hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương
ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sư
̣
sơ thẩm:
- Bà Trần Thị M1 và ông Vũ Văn N phải chịu 112.870.000 đồng (một
trăm mười hai triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền án phí.
- Ông Lê Công M không phải chịu tiền án phí. Trả lại cho ông M số tiền
tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu
tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00…..58, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (nay là Phòng
Thi hành án Dân sự Khu vực 0 – Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự khởi kiện có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối
với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T
Thi hành án D
và
9 Thi hành án D
Thi hành án .
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 0;
- Phòng THADS Khu vực 0 – THADS Tp.
Hồ Chí Minh;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
14
- Lưu: Hồ sơ vụ án, văn thư.
Lê Bá Khuyến
15
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng